Đề Xuất 12/2022 # Vẻ Đẹp Hình Ảnh Và Ngôn Ngữ Trong Thương Vợ – Trần Tế Xương Và Tự Tình – Hồ Xuân Hương / 2023 # Top 19 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 12/2022 # Vẻ Đẹp Hình Ảnh Và Ngôn Ngữ Trong Thương Vợ – Trần Tế Xương Và Tự Tình – Hồ Xuân Hương / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Vẻ Đẹp Hình Ảnh Và Ngôn Ngữ Trong Thương Vợ – Trần Tế Xương Và Tự Tình – Hồ Xuân Hương / 2023 mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dàn ý bài làm

Vẻ đẹp của hình ảnh và ngôn ngữ trong các bài thơ Thương vợ – Trần Tế Xương và Tự tình – Hồ Xuân Hương

Sơ lược về điểm tương đồng, khác biệt giữa hai bài thơ

– Tương đồng: cùng viết về hình tượng người phụ nữ với ngôn ngữ và hình ảnh thật gần gũi mà lại có sức biểu cảm cao.

– Khác biệt:

 Thương vợ: Lời người chồng viết về vợ của mình. Cách nhìn nhận đánh giá vừa khách quan lại vừa có thể thể hiện lòng trân trọng, mến yêu tác giả dành cho vợ.

 Tự tình: Tiếng lòng của một con người về chính số phận éo le ngang trái và khát khao yêu đương cháy bỏng của giới mình. Cách nhìn nhận đánh giá có phần chủ quan nhưng lại vô cùng sâu  sắc, thấm thía.

    Vẻ đẹp của hình ảnh và ngôn ngữ trong các bài thơ 

    2.1. “Thương vợ” (Tú Xương)

    – Ngôn ngữ:

     Các từ ngữ giàu giá trị tạo hình: quanh năm, mom sông, buôn bán nuôi đủ, các số từ năm, một; từ láy tượng thanh eo sèo.

     Nghệ thuật đối: lặn lội – eo sèo, khi quãng vắng – buổi đò đông, âu đành phận – dám quản công.

     Các thành ngữ chéo trong dân gian: một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa.

     Tiếng chửi: cha mẹ thói đời…

    2.2. “Tự tình” (Hồ Xuân Hương)

    – Ngôn ngữ:

     Các từ ngữ giàu sức gợi: văng vẳng, trơ, cái hồng nhan, say lại tỉnh, khuyết —- chưa tròn, xiên ngang, đâm toạc; từ ngữ tăng tiến: mảnh tình -san sẻ — tí — con con.

     Nghệ thuật đối: sơy lại tình – khuyết chưa tròn, xiên ngang mặt đất – đâm toạc chân mây. –

     Dùng từ chuyển loại linh hoạt: xuân, lại.

    – Hình ảnh: rêu, đá, mảnh tình.

     Hai tác phẩm thành công viết về hình tượng người phụ nữ Việt Nam  trong xã hội phong kiến cũ. Cá Hồ Xuân Hương và Tú Xương đều để lại cho chúng ta những ấn tượng sâu đậm về ngôn từ và hình ảnh thơ.

     Bài làm văn mẫu

    Trong nền thơ ca muôn màu muôn vẻ của dân tộc Việt Nam, dưới ngòi bút tinh tế, độc đáo của nhiều thi nhân tài hoa, hình tượng người phụ nữ cứ  đi vào những trang viết một cách tự nhiên mà đong đầy cảm xúc: ở Trần Tế Xương, ta thấy Thương vợ và ở Hồ Xuân Hương ta bắt gặp Tự tình. Mặc dù mỗi người có một cách thể hiện khác nhau nhưng thì phẩm nào cũng chan chứa sự đồng cảm, tình yêu thương dành cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Với hình ảnh thơ gần gũi mà giàu tính biểu cảm, với ngôn ngữ thơ giản dị mà sức truyền cầm lại vô cùng mạnh mẽ, Thương vợ và Tự tình xứng đáng là hai bài thơ tiêu biểu cho để tài người phụ nữ.

    Thương vợ và Tự tình thể hiện rất đặc sắc hình tượng người phụ nữ với ngôn ngữ và hình ảnh thật gần gũi mà lại có sức biểu cảm cao. Ở Thương vợ, ta dễ dàng nhận ra đây là lời của người chồng viết về vợ của mình. Cách nhìn nhận, đánh giá vừa khách quan lại vừa có thể thể hiện lòng trân trọng, mến yêu tác giả dành cho vợ. Còn ở Tự tình, đó chính là tiếng lòng của một con người về chính số phận éo le ngang trái và khát khao yêu đương cháy bỏng của giới mình. Cách nhìn nhận, đánh giá có phần chủ quan nhưng lại vô cùng sâu sắc, thấm thía.

    Trước hết là lòng thương hết sức cảm động và dí đồm Tú Xương dành cho người vợ đảm đang, chịu khó, hết mực vì chồng vì con. Mở đầu bài thơ là lời thuật kể về công việc của bà Tú:

    Quanh năm buôn bán ở mom sông

    Nuôi đủ năm con với một chồng

    Quanh năm là cách diễn tả thời gian tuần hoàn, hết từ ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, không có lấy một giây phút hiếm hoi được nghỉ ngơi. Công việc của bà Tú là buôn bán – có thể không quá nặng nhọc nhưng sẽ phải đầu tắt mặt tối, đi sớm về khuya và đặc biệt là bà Tú sẽ phải dấn thân vào chốn ô hợp, không tránh khỏi những lời lẽ eo sèo điểu qua tiếng lại. Không chỉ có vậy, nơi bà Tú buôn bán – mom sông – là nơi mảnh đất nhô ra phía bờ sông, ba bể bốn bên đều là nước, nơi đầu sóng ngọn gió hết sức chênh vênh, nguy hiểm. Một người phụ nữ vốn xuất thân dòng dõi, con gái nhà dòng như bà mà phải dấn thân vào nơi như thế, thật đáng xót xa. Nhưng sở dĩ bà Tú phải “xông pha”, lặn lội là vì bà có cả một gia đình để phải lo toan. Gia đình trở thành một gánh nặng, nặng hơn bất kì gánh hàng nào trong cuộc đời bươn trải của bà. Trách nhiệm nuôi đủ năm con với một chồng trở thành gánh nặng đè lên đôi vai gầy của người vợ, người mẹ trẻ. Các số từ nỡm, một kết hợp với từ với như một cán cân mà phần nặng hơn lại nghiêng về phía mội. Ông Tú đã tự nhận mình là “thứ con đặc biệt”, vốn chẳng giúp được gì cho vợ mà lại còn khiến vợ phải đèo bòng. Và ngược lại, người phụ nữ yếu đuối như bà Tú lại trở thành trụ cột vững chắc trong gia đình. Bằng những câu thơ vừa hàm ý biết ơn vợ vừa mỉa mai chính bản thân mình, Tú Xương đã ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ đảm đang, tần tảo. Càng nghĩ về vợ, cảm xúc trong Tú Xương càng dâng trào:

    Lặn lội thân cò khi quãng vắng

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông

    Hình ảnh lớn lội thân cò trong thơ ông Tú khiến người đọc chợt nhớ đến câu ca xưa: Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. Trong câu ca, con cò biểu trưng cho người phụ nữ có chồng bị bắt đăng lính trong cuộc chiến phi nghĩa. Có cái gì đó vất vả, lầm lụi, cô độc trong dáng hình lặn lội, lại có cái gì đó đau đớn, lắng lo, phấp phỏng, tủi thầm trong gánh nặng đưa chồng đi lính và tiếng khóc nỉ non. Mượn lại hình ảnh thơ trong ca dao nhưng Tú Xương đã biết chắt lọc và sáng tạo lại. Trong thơ ông, hai chữ lặn lội  đã được đưa lên đầu câu, nhấn vào sự bươn trải, nhọc nhằn, gắng gượng) cô độc. Hơn nữa, Tú Xương không viết lặn lội con cò mà là lặn lội thân cò, nỗi nhọc nhằn, vất vả đã trở thành thân kiếp, số mệnh mà bà Tú phải gánh chịu. Nghệ thuật đảo ngữ tiếp tục được nhà thơ sử dụng ở câu thơ sau, từ láy tượng thanh eo sèo được đưa lên đầu câu, nhấn vào tiếng tranh bán tranh mua cãi vã nơi chợ búa. Nghệ thuật đối rất chỉnh: lặn lội – eo sèo, khi quãng vắng – buổi đò đông làm nổi bật cảnh kiếm sống khó khăn, cực nhọc. Bà Tú phải trả giá bao mồ hôi nước mắt để có được bát cơm manh áo cho chồng con, để đổi lấy sự nhàn “hạ, thong dong cho đức ông chồng của mình? Hai câu luận là lời Tú Xương nói thay cho ý nghĩ của bà Tú:

    Một duyên hai nợ âu đành phận

    Năm nắng mười mưa dám quản công

    Các thành ngữ chéo trong dân gian: một duyên. hơi nợ, năm nắng mười mưa vừa gần gũi, vừa hàm súc được đưa vào lời thơ đã nói lên nỗi vất vả, cực nhọc mà bà Tú phải gánh chịu. Duyên là duyên phận nhưng nó cũng là cái nợ mà bà Tú phải đeo mang. Duyên thì chỉ có một mà nợ lại những hai. Nhưng dù nợ nhiều hơn duyên thì sợi dây chắc nhất buộc chúng lại với nhau vẫn là một chữ tình. Nắng, mưa là cái vất vả, cực nhọc bất kể sớm trưa của bà Tú. Một, hơi, năm, mười là “những số từ, cứ tăng dân như để liệt kê cho hết, cho tròn những hi sinh thầm lặng của bà Tú. Ấy vậy mà bà vẫn âu đành phận, vẫn nào dám quản công. Lời thơ là tiếng thở dài của bà Tú, nhưng không phải thở dài buông xuôi mà đơn giản chỉ để khẳng định rằng: bà Tú ý thức được sự cực nhọc và công lao đối với chồng con nhưng bà vẫn muốn hi sinh mà không một lời oán thán, vì đó là duyên, là nợ của thân kiếp, của số mệnh. Nghệ thuật đối như gấp đôi lên lòng bao dung, vị tha đầy cao cả của bà.

    Bài thơ kết thúc bằng một tiếng chửi. Đó le ra phải là tiếng chửi của bà Tú, nhưng bà Tú vốn thương chồng thương con thì sao nỡ chửi? Còn ông Tú thì không thể tha thứ cho chính mình – kế làm chồng, làm cha, mang cái danh trụ cột nhưng chỉ là cái danh hão, vô tích sự, sống ăn bám trên sự vất vả của vợ mình:

    Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

    Có chẳng hờ hững cũng như không

    Lời tự trách của Tú Xương sao mà chua xót! Rõ ràng, ông không thể làm ngơ trước thói “vô tích sự” của mình. Bà Tú thương ông không chửi nên ông đành mượn lời bà để chửi chính mình và chửi cái thói đời bạc bẽo. Mà ông Tú  chửi những ai?  Ông chửi mình, chửi đời. Ông phủ nhận vai trò làm chồng của mình (có … cũng như không), chửi một Tú Xương làm chồng mà chỉ gieo gánh nặng lên đôi vai vợ. Ông chửi cái thói quen ăn ở đối xử với nhau không có hậu, thiếu thuỷ chung, thiếu trách nhiệm của bao gã đàn ông thời phong kiến. Ông chửi cái xã hội thiếu công bằng, vô nhân đạo luôn bóp nghẹt quyển sống của người phụ nữ… Giọt nước mắt của tâm trạng phẫn uất, đau đớn khi trở thành gánh nặng cho gia đình, giọt nước mắt của người trí thức giàu nhân cách rơi xuống khi thấy cuộc đời đen bạc biến những nhà nho mạt vận, cuối mùa trở thành những kẻ vô công rồi nghề, giọt nước mắt rơi xuống để chứng minh rằng ông ăn ở bạc nhưng lòng ông không hề “bạc”. Thương vợ được Trần Tế Xương thổi hỗn bằng ngôn ngữ thơ bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày (lặn lội, eo sèo, thôn cò, tiếng chửi cha mẹ thói đời). Mỗi chữ cất lên lại là một cung bậc khác nhau của cảm xúc. Các chi tiết hàm súc, chắt lọc mà vẫn khái quát được toàn bộ, sâu sắc về. Cuộc đời, số phận của người phụ nữ Việt Nam xưa. Thương vợ là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương. Bài thơ có được sự tự nhiên trong giọng điệu, sự chân thành trong cảm xúc, không cầu kì gọt giũa, chỉ như một lời thủ thỉ tâm tình nên có sức truyền cảm vô cùng mạnh mẽ.

    Nếu như với Thương vợ ta cảm phục đức hi sinh, sự tần tảo vì chồng vì con của bà Tú, đồng lòng với sự thấu hiểu, sẻ chia, tri ân Tú Xương dành cho vợ thì đọc Tự Tình (Hồ Xuân Hương), ta thật-sự cảm thông trước hoàn cảnh éo le, ngang trái, với lời than thân trách phận và khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ. Cũng là ngôn ngữ tự nhiên nhưng sắc sảo, giản dị mà đa nghĩa, cũng là những hình ảnh thơ tiêu biểu rất giàu sức gợi, nhưng vẻ đẹp của người phụ nữ ở đây không còn là sự hi sinh thầm lặng nữa mà là vẻ đẹp của sự nhận thức về thân phận và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc.

    Một mình ôm lấy tâm trạng cô đơn, sầu tủi, bẽ bàng, thì bất kể một cái gì – dù rất nhỏ thôi – cũng đủ khiến tâm hồn người phụ nữ nhạy cảm “tức cảnh sinh tình”. Nỗi buồn tủi cứ tự nhiên mà trào dâng mạnh mẽ:

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

    Trơ cái hồng nhan với nước non.

    Không có được cái vất vả quanh năm buôn bán của bà Tú, tuy cực nhọc nhưng đổi lại là sự biết ơn, trân trọng từ người chồng, người phụ nữ ở đây dường như quanh năm gắn với sự cô độc, lẻ loi. Đêm đã khuya, cái thanh vắng tĩnh mịch như phủ lên vạn vật và cũng ôm trùm lên cả tâm hồn con người. Đêm tĩnh lặng đến mức đủ để nghe tiếng trống canh dồn văng vẳng lại trống canh như sự dồn dập, hối thúc của thời gian. Thời gian sao trôi nhanh quá, tuổi xuân sao mất đi nhanh quá. Tiếng trống lang thang vô định trong không gian, tiếng gõ trống sao nghe như tiếng gõ vào chính cõi lòng xa xôi thốn thức, khiến tâm trạng cứ rối bời khi nhận ra rằng tuổi trẻ tàn phai. Bởi thế nên đêm cô đơn lại như dài bất tận. Và con người cũng đành:

    Trơ cái hồng nhan với nước non

    Từ trơ gợi lên sự trơ trọi, lẻ loi của cái hồng nhan. Hồng nhan – nhan sắc người phụ nữ – đẹp là thế, lại được gọi bằng cá: nên trở nên hèn mọn rẻ rúng. Sự đối lập giữa cái hồng nhan với nước non – không gian rộng lớn càng xoáy sâu vào sự nhỏ bé của thân phận con người. Tâm trạng chua chát, cay đắng, bẽ bàng của phận cô đơn, lẻ mọn cứ tự nhiên mà tuôn rơi đau đớn.

    Đêm dài mà không thể chợp mắt được, người phụ nữ đã tìm cách để giải khuây nhưng càng muốn giải khuây lại càng rơi vào bi kịch của sự xót xa, cay đắng:

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

    Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.

    Khi không muốn mình minh mẫn để suy nghĩ, trăn trở về thân phận, người phụ nữ đã mượn rượu, mượn hơi men để rượu mang mình vào cõi vô thức. Vậy mà say lợi tỉnh, càng uống càng cay đắng nhận ra phận mình, càng uống càng thêm tủi hổ. Cái vòng luẩn quẩn không lối thoát trói chặt người phụ nữ bằng sợi dây đau đớn, say lại tỉnh, tỉnh rồi lại say. Thế nên ngắm trăng có lẽ là cách tốt hơn để tâm hồn khuây khoả. Thế nhưng không gian mênh mông quạnh vắng, lại thêm cái ánh sáng bàng bạc, lạnh lùng của vắng trăng như soi rõ tâm can người phụ nữ. Ngước mắt lên nhìn vầng trăng khuyết để giật mình nhận ra sao cái mảnh khuyết vàng vàng kia lại giống với mảnh thân phận của mình đến vậy! Cả câu thơ bảy chữ thì năm chữ đặc tả vầng trăng bóng xế – khuyết – chưa tròn. Những từ ngữ cùng một trường nghĩa mang tính chất tăng tiến cứ làm vắng trăng nhỏ dần, hao khuyết dân, như duyên phận dở dang, lỡ làng cứ mỗi lúc thêm nhỏ bé, tội nghiệp hơn. Số phận thật bất hạnh, tuổi xuân đi qua mà không chờ tình duyên cùng sóng bước. Tuổi tác càng cao thì nhân duyên càng nhỏ. Thật xót xa, cay đắng!

    Như một hệ quả của sự đau đớn tột độ, người phụ nữ đã phẫn uất và phản kháng dữ dội. Trong xã hội nam quyền, người phụ nữ được giáo dục thái độ sống cam chịu, nhẫn nhục. Nhưng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương đã mạnh mẽ, không chấp nhận số phận mà bộc lộ rõ sự phẫn uất của mình:

    Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

    Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

    Rêu vốn là vật nhỏ bé, mềm yếu nhưng cũng có sức sống, sức vươn  dậy mạnh mẽ. Đứ vốn là vật vô tri nhưng cũng trỗi dậy phản kháng quyết liệt. Các cụm động từ mạnh đâm toạc, xiên ngang cực tả trạng thái tự giải thoát của thiên nhiên. Nhưng phải chăng tự rêu, đá – những sinh thể của thiên nhiên – mang nhiều tâm sự, nỗi niềm đến vậy? Hay đó chỉ là cách cụ thể hoá sự phẫn uất, tủi hờn từ sâu thẳm cõi lòng con người? Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp, lấy cái hành động, tính chất đã đặc tả nỗi đau,  nhấn mạnh gấp trăm ngàn lần cõi lòng đang tan nát của người phụ nữ. Phép đối giữa hai câu thơ như góp thêm, nhân lên bội phần thái độ muốn xé trời đạp đất cho bõ tủi bố hờn. Người phụ nữ nhỏ bé là thế mà sao phải chịu đau khổ tột cùng và phải phán kháng mãnh liệt ngay trong lúc đau thương? Có thể hiểu rêu và đá là hình ảnh biểu trưng cho ý thức trong sâu thắm người phụ nữ còn mới đất, chân mây chính là những rào cản lớn lao ngăn cách giữa nỗi khát khao và con đường hạnh phúc. Một khi chúng được phá bỏ thì người phụ nữ sẽ được đặt chân lên chính con đường dành cho mình. Câu thơ như hé mở ra một nỗi niềm vui với duyên phận dở dang, lỡ làng của con người.

    Trớ trêu thay, niềm vui vừa hé lộ thì cánh cửa thời gian, thân phận đã – ngay lập tức đóng sầm lại. Như một hạt mắm khoẻ mạnh chảy trong mình dòng máu khát khao yêu thương vừa nhú lên khỏi mặt đất khô cần đã gặp phải gió mưa, bão táp, nhân vật trữ tình đành trở lại đối diện với nỗi chán ngán, sự bế tắc, buông xuôi:

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

    Mảnh tình san sẻ tí con con.

    Hỏi ai không chán ngán khi đấu tranh chỉ là vô vọng, càng mạnh mẽ lại càng dấn thân vào bùn lầy không lối thoát? Một tiếng thở dài đến não nuột cũng là chưa đủ để bộc lộ sự chán chường trước duyên phận mỏng manh như cánh hoa trôi theo dòng nước lũ. Hai từ xuân được đặt ca nhau vừa chỉ tuổi xuân, vừa chỉ quy luật vận động tuần hoàn của thời gian. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thì mùa xuân là mùa khởi đâu. Xuân đến tức là một năm mới đến. Năm mới đến tức là một năm cũ đã qua đi, con người lại qua đi một tuổi, lại về gần hơn với tuổi già và với người phụ nữ thì về gần hơn với sự tàn phai của nhan sắc. Thời gian là cùng nhưng đời người thì có hạn. Chỉ hai từ xuân thôi cũng đủ thấy sự tương phản giữa cuộc đời con người và thời gian. Sao cái quy luật của thời gian lại nghiệt ngã với hạnh phúc đời người đến vậy? Tuổi trẻ cứ qua nhanh như con thoi qua cửa còn hạnh phúc tìm mãi vẫn chẳng thấy đâu.Hai từ lại được đặt cạnh nhau vừa là sự trở lại vừa là sự mất đi. Sự trở lại của mùa xuân cũng chính là sự ra đi của tuổi xuân. Xuân của đất trời qua đi, sao lại kéo cá mùa xuân của lòng người theo mất, khi mà hạnh phúc chưa gõ cửa trái tim? Muốn tìm cách níu kéo nhưng không được, muốn thoát khỏi bi kịch cũng chẳng xong. Cái sự thật phũ phàng ấy từng từng phút như xát muối vào con tim rỉ máu, xót xa và đau đớn, tiếc nuối và tủi hờn. Một mối tình duyên ngang trái, một chuỗi thời gian vô tình một linh hồn kêu khóc xin được yêu thương, một xã hội thờ ơ đến tột độ..Còn gì xót xa hơn bỉ kịch này?

    Và những lời cuối cùng vẫn là những lời xót đau:

    Mảnh tình san sẻ tí con con

    Đọc câu thơ lên mà sao nghe cái tình ấy cứ như nhỏ đi, nhẹ dần đi. Cái mảnh tình của người phụ nữ đã nhỏ bé, lại còn đem ra mà san sẻ thành tí, con con. Những từ ngữ cùng một trường nghĩa, lại được xếp đặt theo cấp độ tăng tiến đã cụ thể hoá cái tội nghiệp, nhỏ nhoi tột cùng. Một người có cá tính mạnh mẽ như Hồ Xuân Hương mà cũng rơi vào sự bế tắc, buông xuôi thì liệu xã hội phong kiến sẽ còn tên tại biết bao nhiêu sự bế tắc, buông xuôi xót xa và đau đớn như thế?

    Cùng khắc hoạ hình tượng người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, Trần Tế Xương và Hề Xuân Hương đã lựa chọn những hình ảnh hết sức đặc sắc, tiêu biểu, điển hình. Ở bà Tú là sự chịu thương chịu khó, đức hi sinh thầm lặng đáng ngợi ca còn ở người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương nỗi đau đớn cho tình duyên lỡ dở, khát vọng hạnh phúc không thành. Bà Tú còn có sự đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia từ ông Tú nhưng người phụ nữ trong Tự tình chỉ có một mình đối diện với chính mình, tự thương lấy chính mình. Cả hai bài thơ đều được viết theo thể Đường luật thất ngôn, lời thơ ngắn gọn, súc tích nhưng ngôn ngữ lại hết sức bình dân, giản dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Ngôn từ chẳng cần trau chuốt cầu kì nhưng cũng đủ để xây dựng lên bức chân dung chân thực, sâu sắc về người phụ nữ trong xã hội cũ. Chính vì thế Tự tình ta tìm thấy dáng dấp của sự buồn tủi, đau thương, phẫn uất ẩn trong các từ ngữ sắc sảo, còn ở Thương vợ lại là những từ ngữ mang tính hàm ơn, trân trọng sâu sắc.

    Cả Tự tình của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương đều là hai tác phẩm rất thành công khi viết về hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến cũ. Ai soi mình vào cũng thấy một phần nào đó của mình nơi những người phụ nữ ấy. Mỗi nhà thơ một đôi mắt, một cây bút nhưng đều để lại cho chúng ta những ấn tượng sâu đậm về ngôn từ và hình ảnh thơ.

    Cảm Nhận Vẻ Đẹp Riêng Của Hai Bài Thơ “Thương Vợ” (Tú Xương) Và “Tự Tình” (Hồ Xuân Hương) / 2023

    Cảm nhận vẻ đẹp riêng của hai bài thơ “Thương vợ” (Tú Xương) và “Tự tình” (Hồ Xuân Hương)

    Đề bài: Cảm nhận vẻ đẹp riêng của hai bài thơ “Thương vợ” (Tú Xương) và “Tự tình” (Hồ Xuân Hương)

    Bài làm:

    ” Thế giới không phải được tạo lập một lần mà mỗi một lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện là một lần thế giới được tạo lập” . Sáng tạo luôn là yêu cầu sống còn của văn chương nghệ thuật. Cùng viết về đề tài người phụ nữ nhưng mỗi nhà thơ, nhà văn lại có những nét riêng. Khám phá “Tự tình” của Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Tú Xương, ta thấy rõ được điều đó. Nếu “Tự tình” là nỗi buồn đau xót , phẫn uất của Hồ Xuân Hương trước duyên phận hẩm hiu thì “Thương vợ” là những yêu thương trân trọng đanh cho người vợ của mình.

    Trong lịch sử VHVN, Hồ Xuân Hương là hiện tượng rất độc đáo: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữu tình, đậm chất dân gian từ đề tài cảm hứng đến ngôn ngữ hình tượng. Nổi bật trong sáng tác của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm với người phụ nữ, là sự đề cao, khẳng định vẻ đẹp của họ. Tiêu biểu cho tác phẩm về đề tài phụ nữ là bài thơ “Tự tình” – tiếng lòng được nói lên từ trái tim thi sĩ, bộc lộ cảnh éo le ngang trái cùng những nỗi niềm u hòa xót. Nếu Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm, nữ sĩ nổi loạn thì Tú Xương được mệnh danh là ông Hoàng thơ Nôm. Tú Xương là một trong những đại diện xuất sắc trong VHVN cuối thế kỉ XIX. Thơ của Tú Xương gồm hai nhánh: trữ tình và trào phúng. Một trong những tác phẩm nổi bật về vẻ đẹp trữ tình của thơ ông Hoàng là bài thơ “Thương vợ’ – áng thơ hay và cảm động nhất mà Tú Xương dành tặng cho người bạn đời của mình, người mà ông hết lòng yêu thương.

    “Tự tình” và “Thương vợ” ra đời trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau nhưng cả hai đều diễn tả một cách chân thực, thấm thía, cảm động thân phận bất hạnh, bi kịch cùng những nét đẹp tâm hồn cao quý của người phụ nữ trong cuộc sống gia đình riêng tư. Cùng hướng đến sỗ phận bất hạnh và những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ nhưng mỗi bài thơ là một sáng tạo về nội dung, một khám phá về tư tưởng. Đến với “Tự tình” là đến với tiếng nói của người con gái về duyên phận hẩm hiu, éo le, bẽ bàng mang thân đi làm lẽ. Còn đến với “Thương vợ” lại là đến với sự lam lũ, vất vả, nhọc nhằn trước gánh nặng mưu sinh của người vợ, người mẹ qua lăng kính đầy yêu thương, trân trọng của đức ông chồng Nho sinh. Ở “Tự tình’, người phụ nữ sáng lên với khát vọng hạnh phúc cháy bỏng, nghị lực mạnh mẽ, bản lĩnh cứng cỏi, dám nổi loạn, muốn lật nhào mọi luật lệ khắt khe, hà khắc của chế độ phong kiến. Khác với “Tư tình”, hình ảnh bà Tú trong “Thương vợ” là sự hội tự bao phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ VIệt Nam: đảm đang, tháo vát, tần tảo, chịu thương, chịu khó, hết lòng yêu thương và sắn sàng hi sinh tất cả cho chồng con.

    “Tự tình” mở đầu với cảnh đêm khuya thanh vắng cùng những nỗi bẽ bàng tủi hổ của người thi sĩ:

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non

    Từ láy “văng vẳng” diễn tả tiếng trống điểm canh vừa dồn dập, vừa gợi không gian mênh mông, vắng lặng đến rợn ngợp. Đêm khuya, không ai lại đánh trống dồn dập liên hồi trừ trống bao động. Tiếng trống điểm canh lại càng không thể. Thế mà nữ sĩ lại nghe thấy tiếng trống điểm canh dồn dập. Tại sao vậy? Phải chăng lắng qua tâm tình của người phụ nữ? Phải chăng lắng qua tâm tình của người đàn bà luôn khát khao hạnh phúc ngập tràn mà phải chịu cảnh chăn đơn gối chiếc, tiếng trống cầm canh bỗng đổi nhịp trở nên nhanh mạnh? Âm thanh ấy là sự nhắc nhở một cách quái ác về sự trôi chảy của thời gian. Đồng thời, đó cũng là sự giật mình thảnh thốt, hốt hoảng của người đàn bà phận ẩn duyên ôi. Ở câu thơ thứ hai, nữ sĩ dùng đến hai chữ “hồng nhan”, điều đó có nghĩa là thiếu nữ xuân sắc vẫn còn, vậy mà cứ phải trơ ra không kẻ đoái hoài, người quan tâm. Từ “trơ” đắt giá được đảo lên đầu câu, lại tách riêng ra đi nhịp lẻ 1/3/3 khiến nỗi bẽ bàng, chua xót càng hằn sâu nhức nhối. Cô đơn, buồn tủi, nữ sĩ đã tìm đến rượu để giải sầu:

    Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

    Xưa nay những người đàn ông tìm đến rượu giải sầu đã là chuyện bất đắc dĩ. Đằng này, nữ sĩ lại một mình uống rượu suốt đêm thâu, dưới trăng khuyết tàn lạnh là việc cực chẳng đã, uống rượu mà như uống sầu, uống tủi. Có thể thấy rượu và tình đều làm cho người ta say. Bởi thế câu thơ: Chén rượu hương đưa say lại tỉnh dồn dập, chồng chất bi kịch. Chữ “lại” trong say lại tỉnh ghìm nén một nỗi đắng cay chua xót. Tìm đến rượu chẳng thể giải sầu, thi sĩ chỉ còn biết tâm sự với trăng nhưng cũng chỉ thấy Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Một chuỗi từ ngữ cùng trường nghĩa hiện ra, hao khuyết cứ láy đi láy lại: xế – khuyết – chưa tròn càng khơi sâu thêm nỗi xót xoa trước duyên phận hẩm hiu của nữ sĩ. Từ nỗi xót ca, cay đắng đến uất hận, phẫn nộ. Đó là mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ “Tự tình”. Nỗi niềm phẫn uất dồn nén đã nhiều không chịu ở yên trong lòng nữa mà nó trào ra ùa vào cảnh vật:

    Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đám ấy hòn

    Nghệ thuật đảo ngữ kết hợp với những động từ, tính từ mạnh đã làm đặc tả sự phản kháng mãnh liệt, dữ dội đến mức như muốn “nổi loạn” của tâm hồn nữ sĩ. Hai câu luận mang đậm dấu ấn, bản lĩnh Xuân Hương: đó là một cá tính mạnh mẽ, táo bạo, không bao giờ chịu gục ngã trước hoàn cảnh, không bao giờ cúi đầu trước số phận. Nhưng sau cùng, Tự tình vẫn kết lại trong tâm trạng chán trường ngao ngán:

    Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con

    Hai câu kết, Xuân Hương đã sử dụng tài tình từ đa nghĩa. Từ ‘xuân” vừa có nghĩa là mùa xuân vừa có nghĩa là tuổi xuân của con người. Hai chữ “lại” xếp cạnh nhau nhưng lại mang nghĩa hoàn toàn khác nhau. Nếu chữ “lại’ thứ nhất mang nghĩa thêm một lần nữa thì chữ “lại” thứ hai mang nghĩa là sự trở lại tuần hoàn. Ngao ngán thay khi mùa xuân của đất trời cứ tuần hoàn còn tuổi xuân, tình yêu cứ một đi không trở lại. Nghịch cảnh éo le hơn qua nghệ thuật tăng tiến trong câu thơ: mảnh tình – san sẻ – tí con con. Câu thơ như một tiếng than chua xót được chắt ra từ sâu thẳm cõi lòng của ngừoi đàn bà mang thân đi làm lẽ.

    Cùng viết về đề tài người phụ nữ, nhưng “Thương vợ” cũng có nét độc đáo rất riêng. Ngay từ những nét phác họa đầu tiên, sự vất vã, nhọc nhằn cùng sự tần tảo đảm đang của người phụ nữ đã hiện lên một cách xúc động qua tấm lòng yêu thương của Tú Xương:

    Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

    Thơ trước là sự, sau là tình. Ẩn sau câu thơ tái hiện cuộc sống buôn bán nhọc nhằn , vất vả của bà Tú là ánh mắt dõi theo đầy xót thương của ông Tú. Cách nói ” nuôi đủ “ ẩn chứa í vị xâu xa. Nó chất chứa bao nỗi vất vả nhọc nhằn của bà Tú. Bằng cách nói này, Tú Xương đã hạ mình xuống hàng con, nhân lên nhiều lần công ơn to lớn của bà Tú. Ngoài bộ lộ niềm tri ân với vợ, cách nói ” nuôi đủ ” còn kín đáo thể hiện nỗi niềm cay đắng của người con đất Vị Hoàng. Đường đường là nam nhi sức dài vai rộng mà lại pahri ăn bám vào vợ. Câu thơ hằn lên nỗi niềm cay đắng, tủi hổ rất Tú Xương. Xót xa trước nỗi cơ cực, đắng cay của vợ, Tú Xương cứ miên man kể khổ, kể nhục :

    Lặn lội thân có khi quẵng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông

    Câu thơ của Tú Xương đã đưa người đọc về với miền ca dao, dân ca xưa cùng với hình ảnh : cái cò, thân cò,… Bắt nguồn từ cao dao, dân ca nhưng Tú Xương vẫn có sáng tạo rất tinh tế. Ca dao nói theo chiều thuận ” thân có lặn lội “ Tú Xương lại đảo ngược ” lặn lội thân cò “. Ca dao đặt hình ảnh cái cò trong không gian vắng lặng, lộng gió thì Tú Xương để ” thân cò ” trong không gian, thời gian khi quẵng vắng, mênh mông, heo hút, rợn ngợp. Cái cò trong cao dao ” nỉ non tiếng khóc “ còn bà Tú âm thầm, lặng lẽ, hi sinh. Tấm lòng của bà Tú thật cao đẹp và cảm phục biết bao. Bằng tất cả sự thấu hiểu, yêu thương xót xa, chân thành, ông Tú đã dựng nên bức chân dung người vợ tảo tần thấm vị mặn mồ hôi, vị cay đắng của nuóc mắt làm xúc động người đọc. Không chỉ đứng ngoài kể khổ mà Tú Xương còn nhập thân nói lên những tâm tình sâu sắc trong cõi lòng của người vợ thương yêu :

    Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công

    Phép đếm ” một …hai…năm…mười ” như sự cơ cực, cay đắng chồng chất mà bà Tú phải gánh chịu. Dẫu thế, bà Tú nào có oán trách, kêu ca. Bà Tú vẫn sẵn sàng sả thân, tự nguyện hi sinh. Đến đây, bức chân dung của bà Tú – một người hình mẫu lí tưởng cho người phụ nữ Việt Nam đã hoàn thiện trong nét vẽ yêu thương, kính trọng của Tú Xương. Bà Tú tiêu biểu cho những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt : đảm đang, tháo vát, tảo tần, chịu thương, chịu khó, hết lòng yêu thương chồng con. Cao trào của tình thương vợ dội lên trong hai câu kết :

    Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không

    Bài thơ kết lại bằng một tiếng chửi. Ông Tú chửi thói đời bất công, trọng nam khinh nữ đã sinh ra những đức ông chồng hờ hững, ăn ở bạc, có cũng như không. Ông Tú còn chửi xã hội đen bạc đã khiến bao đức lang quân dù ngày đêm dùi mài, kinh sử nhưng rút cục vẫn xôi hỏng bỏng không. Và Tú Xương cũng không quên chửi mình, kết tội mình là kẻ ăn bám, là người thừa, vô dụng, vô tích sự. Có thể nói, chửi đời và tự xỉ vả mình là cách thương vợ rất đặc biết của Tú Xương. Đằng sau tiếng chửi ấy là tâm trạng đau đớn, phẫn uất bi kịch của thi sĩ. Bởi thế lời chửi chẳng những thể hiện tấm lòng thương vợ chân thành, sâu sắc mà còn kết đọng bóng đen của thời đại,

    Là những sán tác của VHTĐ, ” Tự tình ” (Hồ Xuân Hươn), ” Thương vợ ” ( Tú Xương), là những ánh thơ Nôm được viết theo thể Thất ngôn bát cú Đường luật với kết cấu niêm luật chặt chẽ, gieo vần, đối ngẫu rất chỉnh. Hai tác phẩm còn gặp nhau ở ngôn từ giản dị trong sáng, tự nhiên, giàu sức biểu cảm và có sự kết hợp linh hoạt, nhuần nhuyễn hiệu quả các biện pháp tư từ như đảo ngữ, ẩn dụ

    ” Thương vợ ” và ” Tự tình “, mỗi bài thơ không chỉ là một khám phá về nội dung mà còn là phát minh về hình thức. Là sản phẩm của những ông Hoàng, bà Chúa thơ Nôm, mỗi tác phẩm mang vẻ đẹp riêng. ” Tự tình ” của Xuân Hương thuần chất trữ tình. Ngoài cách bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình còn gián tiếp thể hiện qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, qua hình ảnh mang tính biểu trưng. Không giốn với ” Tự tình “, ” Thương vợ ” lại có sự hòa quyện giữa trữ tình và tự trào. Thêm vào đó, ngôn ngữ và hình ảnh của ” Tự tình ” in đậm cá tính mạnh mẽ, quyết liệt của một nữ sĩ nổi loạn . Trái lại, hình ảnh ngôn từ của ” Thương vợ ” lại thấm đượm màu sắc dân gian với những thành ngữ quen thuộc, những hình ảnh trở đi trở lại trong bao áng cao dao, dân ca,…

    Có thể thấy, Hồ Xuân Hương, Tú Xương đều là những bà Chúa, ông Hoàng thơ Nôm. ” Tự tình “, ” Thương vợ ” là những thi phẩm hội tụ vẻ đẹp của những cây bút tài hoa ấy. Cùng viết về người phụ nữ, nhưng hai nhà thơ lại có nét riêng không giống ai. Đó chính là phong cách của những người nghệ sĩ. Nếu ” Tự tình ” thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ, quyết liệt, nổi loạn của nữ sĩ họ Hồ, thì ” Thương vợ ” lại thấm đẫm màu sắc văn học văn hóa dân gian. Tuy có những sự khác nhau, nhưng cả hai tác phẩm đều đã nhận được sự hoan nghênh của thế hệ đời sau và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

    Nguồn: [Văn học 11] Cảm nhận vẻ đẹp riêng của hai bài thơ “Thương vợ” (Tú Xương) và “Tự tình” (Hồ Xuân Hương)

    Cảm Nhận Về Hình Ảnh Bà Tú Trong Bài Thơ Thương Vợ Của Trần Tế Xương / 2023

    Bà Tú tên tật là Phạm Thị Mẫn, xuất thân dòng dõi nho gia “con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ”. Bà nhẫn nại, cam phận làm người vợ thảo hiền, làm chỗ dựa tinh thần cho cuộc đời Tú Xương – một trí thức không gặp thời, long đong trên con đường sự nghiệp.

    Có lẽ vì thế mà hình tượng người vợ trở thành đề tài quen thuộc trong thơ của Tú Xương. Những bài thơ của ông viết về vợ thường mang nhiều sắc điệu: có khi là lời thủ thỉ tâm tình, lời bông đùa hóm hỉnh, cũng có lúc là nỗi niềm chua chát, xót xa nhưng bao trùm tất cả vẫn là thái độ trân trọng cảm thông, sự hàm ơn chân thành.

    Nói đến người phụ nữ truyền thống là nhắc đến không gian gia đình, ở đó người vợ có vai trò quan trọng trong việc thu vén, chăm lo sự nghiệp, danh vị của chồng. Bà Tú cũng không phải là ngoại lệ, nhưng vào buổi Tây, Tàu nhốn nháo, không còn đâu cái cảnh thơ mộng “bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ”, bà Tú cũng phải cuốn theo guồng quay của cuộc đời phiền tạp, dạt theo cuộc bươn chải với đổi chác, bán mua:

    “Quanh năm buôn bán ở mom sông

    Nuôi đủ năm con với một chồng”

    Chân dung của bà Tú hiện lên không phải từ dáng vóc, hình hài mà từ không gian và thời gian công việc. “Quanh năm” không chỉ là độ dài thời lượng mà còn gợi ra cái vòng vô kì hạn của thời gian, nó chứng tỏ cuộc mưu sinh không có hồi kết thúc. Không gian “mom sông” vừa có giá trị tả thực – là doi đất nhô hẳn ra lòng sông, vừa gợi lên không gian sinh tồn bấp bênh, chông chênh.

    Bà Tú phải hằng ngày xuất gia chường mặt ra với đời bởi trên vai bà là cả một gánh nặng gia đình: “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Biết bao hàm ý toát lên trong cụm từ “nuôi đủ”, nó vừa thể hiện sự chăm lo tận tụy chuyện cơm ăn áo mặc lại vừa hàm chỉ sự chịu đựng. Cách nói của nhà thơ đầy ý vị “năm con với một chồng”. Nhà thơ đã tự hạ mình ngang hàng với các con khi cay đắng, tủi hổ, xót xa nhận ra mình cũng là một thứ con trong gánh nặng của vợ.

    Ca dao xưa khi nói tới hình tượng người phụ nữ thường liên tưởng tới hình ảnh con cò:

    “Con cò lặn lội bờ sông

    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

    Tú Xương đã vận dụng sáng tạo chất liệu ca dao trong hai câu thơ:

    “Lặn lội thân cò khi quãng vắng

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

    Nhà thơ vừa tiếp thu, vận dụng văn học dân gian lại vừa có những sáng tạo độc đáo. Với việc dùng từ “thân cò”, tác giả vừa thể hiện danh phận khiêm nhường vừa làm nổi rõ số kiếp lận đận của bà Tú. Trong cấu trúc cú pháp của câu thơ, biện pháp đảo ngữ đã được sử dụng nhằm nhấn mạnh, gia tăng tính chất âm thầm nhọc nhằn trong công việc của bà Tú. Nếu như hình ảnh “đò đông” thể hiện tính chất bấp bênh trong cuộc mưu sinh thì từ láy “eo sèo” đã diễn tả sinh động sự ồn ào, nhốn nháo, phức tạp, nhục nhằn trong công việc hằng ngày mà bà Tú phải chịu đựng.

    Không chỉ tần tảo, lam làm, chịu thương chịu khó, bà Tú trong “Thương vợ” của Tú Xương còn là con người bổn phận vị tha, lấy hi sinh làm hạnh phúc và lẽ sống của mình.

    Hóa thân vào nhân vật bà Tú, nhà thơ đã nói hộ nỗi niềm tâm sự của vợ, đó là thái độ chín chắn trước duyên phận, độ lượng trước gia cảnh. Hiện lên trong tâm trí người đọc là hình ảnh một người phụ nữ lặng lẽ an phận, ráng sức lo toan, không trách phận than thân, không phiền lòng phẫn chí. Việc vận dụng thành ngữ số từ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” làm cho lời thơ trở nên cô đúc. Lời kể công, kể khổ của Tú Xương dành cho vợ trở nên trĩu nặng hơn, day dứt hơn. Sự cam chịu và đức hi sinh của bà Tú như càng nổi bật hơn.

    Ý thức được nỗi nhọc nhằn gian truân của vợ mà không thể san sẻ, đỡ đần, hai câu kết của bài thơ là tiếng lòng mang nặng nỗi miềm chất chứa:

    “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

    Có chồng hờ hững cũng như không”

    “Thói đời” ở đây phải chăng là sản phẩm của buổi giao thời đã tạo ra những người chồng hờ hững? để rồi người phụ nữ phải mang gánh nặng trụ cột gia đình. Câu thơ thể hiện nỗi dằn vặt, thái độ chân thành tự trách mình của nhà thơ đồng thời bộc lộ tâm trạng bất lực trong bi kịch tinh thần của người trí thức: trở thành người thừa ngay trong chính gia đình của mình.

    Có thể nói với “Thương vợ”, Tú Xương đã khắc hoạ rõ nét và sống động hình ảnh người vợ tảo tần với những nét phẩm chất điển hình của người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Đằng sau tiếng thơ là tiếng lòng tri ân trân trọng, cảm thông đồng thời là nỗi day dứt khôn nguôi của nhà thơ đối với người vợ thảo hiền.

    Từ khóa tìm kiếm: Cảm nhận về hình ảnh bà tú trong bài thơ thương vợ của trần tế xương Cảm nhận về hình ảnh bà tú trong bài thơ thương vợ của tú xương Phân tích nhân vật bà Tú qua bài thơ thương vợ của tú xương Cam nhan ve nhan vat ba tu trong bai thuong vo cua tran te xuong Hình ảnh bà Tú qua bài thơ thương vợ của trần tế xương Cam nhan cua em ve hinh anh ba tu trong bai tho thuong vo Theo chúng tôi

    Tác Phẩm Thương Vợ, Bài Thơ Thương Vợ Trần Tế Xương / 2023

    Tác Phẩm thương vợ, bài thơ thương vợ Trần Tế Xương

    Tác phẩm Thương vợ, Nội dung bài thơ Thương vợ, Thương vợ Soạn, Thơ thương vợ vất vả, Thương vợ được viết bằng chữ gì, Bài thơ Thương vợ chế, Bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương viết bằng chủ gì, Trần Tế Xương

    – – – Quanh năm : Cách tính thời gian vất vả, triền miên, hết năm này sang năm khác. Mom sông : Địa điểm làm ăn cheo leo, nguy hiểm, không ổn định.

    Nuôi đủ 5 con… 1 chồng : Bà Tú nuôi 6 miệng ăn. Ông Tú tự coi mình như một thứ con riêng đặc biệt ( Một mình ông = 5 người khác).

    à Lòng biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú đối với cha con ông Tú. Lòng vị tha cao quí của bà càng thêm sáng tỏ.

    – – – Lặn lội thân cò: Vất vả, đơn chiếc khi kiếm ăn. Quãng vắng, đò đông: Cảnh kiếm sống chơi vơi, nguy hiểm. Eo sèo: Chen lấn, xô đẩy, vì miếng cơm manh áo của chồng con mà đành phải rơi vào cảnh liều lĩnh cau có, giành giật. – Nghệ thuật đối: Sự vất vả, sự hi sinh lớn lao của bà Tú đối với gia đình à Nói bằng tất cả nỗi chua xót. Thấm đẫm tình yêu thương.

    à Câu thơ như một tiếng thở dài cam chịu. à Cách sử dụng phép đối, thành ngữ, từ ngữ dân gian, bộc lộ kiếp nặng nề nhưng rất mực hi sinh của bà Tú. – Dùng số từ tăng tiến: 1-2-5-10: Đức hi sinh thầm lặng cao quí. Bà Tú hiện thân của một cuộc đời vất vả, lận đận. Ở bà hội tụ tất cả đức tính tần tảo đảm đang, nhẫn nại. Tất cả hi sinh cho chồng con. à ÔngTú hiểu được điều đó có nghĩa là vô cùng thương bà Tú. Nhân cách của Tú Xương càng thêm sáng tỏ.

    – Tú Xương tự chửi mình vì cái tội làm chồng mà hờ hững, để vợ phải vất vả lặn lội kiếm ăn. Ông vừa cay đắng vừa phẫn nộ. – Tú Xương chửi cả xã hội, chửi cái thói đời đểu cáng, bạc bẽo để cho bà Tú vất vả mà vẫn nghèo đói. – Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội

    – Nội dung: Hình ảnh bà Tú hiện lên sinh động, rõ nét, tiêu biểu cho người phụ nữ VN đảm đang, tần tảo trong một gia đình đông con. Đức hi sinh, sự cam chịu của bà Tú càng làm cho ông Tú thương vợ và biết ơn vợ hơn. – Về nghệ thuật: Bài thơ hay từ nhan đề đến nội dung. Dùng ca dao, thành ngữ, phép đối. Thể thất ngôn bát cú Đường luật chuẩn mực. Mộc mạc chân thành mà sâu sắc, mạnh mẽ. à Thành công nhất của bài thơ là: Xây dựng hình tượng nghệ thuật độc đáo: Đưa người phụ nữ vào thơ ca, mà hình tượng đạt đến trình độ mẫu mực và thấm đượm chất nhân văn.

    Bạn đang đọc nội dung bài viết Vẻ Đẹp Hình Ảnh Và Ngôn Ngữ Trong Thương Vợ – Trần Tế Xương Và Tự Tình – Hồ Xuân Hương / 2023 trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!