Đề Xuất 2/2023 # Văn Hóa Vật Chất Qua Truyện Cười Việt Nam Và Nhật Bản Một Cái Nhìn So Sánh # Top 6 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Văn Hóa Vật Chất Qua Truyện Cười Việt Nam Và Nhật Bản Một Cái Nhìn So Sánh # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Văn Hóa Vật Chất Qua Truyện Cười Việt Nam Và Nhật Bản Một Cái Nhìn So Sánh mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Văn hóa vật chất qua truyện cười Việt Nam và Nhật Bản một cái nhìn so sánh

Trong các số tạp chí 322, tháng 4-2011 và hai số tiếp sau, VHNT lần lượt giới thiệu với bạn đọc chùm bài nghiên cứu so sánh một khía cạnh văn hóa đời sống được phản ánh trong truyện cười dân gian hai nước.

Một mục đích của truyện cười là khám phá và chế giễu những mặt trái của cuộc sống trong nhiều lĩnh vực, từ món ăn thức uống đến các cách sinh hoạt thường nhật của người xưa. Cuộc sống của người dân qua từng mẩu truyện cười hiện lên một cách đầy đủ, sâu sắc.

Sự tương đồng

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy sự tương đồng về văn hóa ẩm thực là nổi bật nhất trong mảng truyện cười về văn hóa vật chất của hai nước. Câu thành ngữ “có thực mới vực được đạo” đã trở nên thân quen, gắn liền với bao thế hệ con người ở hầu hết các nước trên thế giới. Những bữa ăn dù đạm bạc hay no đủ, trước tiên, phải để bảo tồn sự sống. Miếng ăn được xem trọng nhưng nếu coi miếng ăn làm trọng thì lại dẫn đến rất nhiều  chuyện vi phạm vào đạo đức xã hội, gây cười và hơn thế nữa.

Đả kích tính tham ăn của con người ở Nhật Bản có truyện Cám ơn quá sớm, khi tiệc mời được dọn ra, người đàn ông trong truyện đã quá phấn khích mà cảm ơn luôn chủ nhà: Nhiều món ngon vật lạ quá! Tôi thấy ngon miệng vô cùng. Tương tự, người Việt có truyện Được một bữa thả cửa. Một chị lấy phải anh chồng tham ăn, hễ ngồi vào mâm là chúi mũi gắp lấy gắp để, không nghĩ đến ai. Chị ta xấu hổ lắm, khuyên mãi phải ăn uống từ tốn mà anh chồng vẫn chứng nào tật ấy. Một hôm nhà bố vợ có giỗ, hai vợ chồng đi ăn cỗ, sợ chồng ăn uống thô lỗ thì xấu mặt chị ta liền lấy một sợi dây buộc vào chân chồng, còn đầu kia chị cầm lấy và dặn chồng: “Hễ bao giờ tôi giật dây mới được gắp đấy!”. Chồng đồng ý. Vào mâm, mọi người đều thấy anh này ăn uống từ tốn, lịch sự. Chị vợ ở dưới bếp vừa làm vừa giật dây. Đôi lúc mải làm, quên không giật làm anh chồng cứ phải ngồi ngây ra nhìn món ăn mà nhỏ rãi. Bố vợ phải gắp thức ăn cho. Đến giữa bữa, một con gà đi qua chẳng may vướng phải dây co chân giật gỡ mãi vẫn không được. Ở trên anh chồng thấy dây giật lia lịa, vội vàng cắm đầu gắp. Càng gắp thấy dây càng giật tưởng vợ cho ăn thả cửa, anh ta vớ luôn cả đĩa thức ăn trút vào bát. Hai nhân vật trong truyện mặc dù có người kiềm chế tính tham ăn của họ nhưng họ vẫn không thể che giấu được tính xấu kia. Không sớm thì muộn họ cũng tự bộc lộ bản chất của mình.

Thói tật ăn vụng những đồ cấm kị của các nhà sư cũng được dân gian hai nước phản ánh đầy đủ và sâu sắc trong các truyện Mua cá, Con mực, Nhổ lông gà… (Nhật Bản) và Con thanh tịnh, Đậu phụ cắn, Lá húng lá húng… (Việt Nam). Những tình huống ngẫu nhiên đã tố cáo việc ăn vụng đồ cấm kỵ của các nhà sư.

Truyện cười hai nước cũng phô bày tất cả những cái xấu xa, bất chấp cả lòng tự trọng trước miếng ăn của con người. Miếng ăn trở thành nguyên nhân gây hiểu lầm, xung đột giữa chủ nhà với khách Ăn theo bằng trắc, Ông ấy ăn hết cả, Chà lọ nghẹ, Hai phần cơm… (Việt Nam), Khách đến trong khi nướng bánh (Nhật Bản)… Hay vì chút sĩ diện hão mà người chồng đay nghiến vợ, đánh con để tỏ rõ tình cảm thiết đãi khách quý trong truyện Nước chấm này, Bẹo con, Hâm nước mắm… Bên cạnh đó có người trở nên lạnh lùng với bạn bè, không màng đến vợ con, mất cả tình anh em, gây tội lỗi cả với đấng sinh thành như nhân vật trong truyện: Không có con nào nhỏ cả, Dài tới rá xôi, Giờ mới ló đầu ra, Nó ăn ở trong, Chả lẽ mời cả làng ăn à?, Ăn chả cò, Có hiếu, Cúng giỗ… (Việt Nam), Ngày kiêng ăn, Cáo phó… (Nhật Bản).

Bên cạnh nguồn thức ăn chính, chúng ta cũng bắt gặp nhưng thức uống hàng ngày của nhân dân hai nước như rượu, trà… qua các truyện Ông rậm râu, Bác cứ mời đi, Cái mũi thính, Ẻ vô ấm (Việt) và Đọc thư hộ, Người không rượu vĩ đại nhất, Người phu ngựa thồ, Bất cẩn… (Nhật). Thích uống nước trà cũng là một nét văn hóa rất riêng của ẩm thực Việt Nam, Nhật Bản mà truyện cười có đề cập. Dưới góc nhìn của truyện cười, bát nước trà không còn nguyên vẹn ở khía cạnh văn hóa lịch sự vốn có. Cái hài, cái tinh nghịch của người dân hai nước đã khiến nét văn hóa này thêm thú vị. Những yếu tố này góp phần tạo nên sự tương đồng trong truyện cười hai nước.

Văn hóa vật chất qua truyện cười hai nước còn thể hiện ở hoạt động kinh tế của người dân. Từ hoạt động này cũng tạo ra không ít điểm tương đồng giữa truyện cười hai nước. Rất hóm hỉnh, một loạt nghề của người dân hai nước được vẽ lên khá đầy đủ như: nghề buôn bán trong Tăng giá mọi điều (Nhật Bản) và Buôn vịt trời, Hết trị, Khóc cái tuổi, Không phải thịt lợn sề… (Việt Nam), nghề bán cá trong Con sò (Nhật Bản), Cái biển hàng (Việt Nam), nghề giúp việc trong Người hầu được trừ tà, Nhiệt độ nước tắm (Nhật Bản) và Ba anh đầy tớ, chó biết nói, Lửa cháy nhà, Mướn đầy tớ không tiền… (Việt Nam), nghề thầy thuốc trong Xem mạch người hầu, Thầy lang tự khen mình… (Nhật Bản) và Bốc thuốc theo sách, Bị mắng, Cái chổi lông gà, Mánh khóe, Cho sống lại, Chữa ma ra người… (Việt Nam), nghề ăn trộm trong Cửa hàng (Nhật Bản) và Ăn trộm bị lỗ vốn, Ăn trộm thật thà, Bắt được sợi dây… (Việt Nam), thậm chí nghề kỹ nữ cũng xuất hiện nhiều trong các truyện hai nước Thanh toán hóa đơn, Muốn làm samurai, Đi xem lồng đèn, Tiền thuốc…. (Nhật Bản) và Đi tu phải tội (Việt Nam)…

Sự khác biệt

Bên cạnh rất nhiều những điểm tương đồng, thói xấu biểu hiện trong văn hóa ẩm thực của hai nước cũng có những điểm khác biệt nhất định. Có những thói xấu xuất hiện rất nhiều trong truyện cười người Việt nhưng rất ít trong truyện cười người Nhật, như là thói ăn vụng. Ở Nhật Bản, thói ăn vụng chỉ xuất hiện ở những truyện chế giễu thói ăn vụng đồ cấm kỵ của nhà sư (Con mực, Mua cá), trong khi đó ở truyện cười của người Việt, thói ăn vụng xuất hiện rất nhiều và ở nhiều đối tượng khác nhau. Đó là những phụ nữ chuyên ăn quà vặt hàng quán như ở các truyện Múi lúi xơ lơ, Đồng môn đồng khoai, Răng hô, Củi sòi cá thòi lòi… Đó là những bà vợ luôn trốn chồng đi ăn vụng (Ăn phúng cháo kê, Bốn cu, Thông minh…) và kể cả các bậc mày râu cũng không thua kém các bà về khoản ăn vụng như anh chồng trong truyện Mồ hôi đen, Gãy xương sống, Lại chuyện ăn vụng cháo trè, Từ cha… Truyện cười Việt không chỉ phản ánh, phê phán những nông dân ít chữ có thói hư tật xấu trong văn hóa ẩm thực mà đến cả những trí thức, quan lại cũng không che giấu được hết hạn chế này của mình (Thày đồ liếm mật, Đừng nói nữa… tao thèm)…

Trang phục người Việt cũng như người Nhật Bản ít được đề cập trong truyện cười. Nó chỉ được điểm xuyết qua cái hài ý nhị trong cách ăn mặc của người phụ nữ. Hầu hết phụ nữ Việt xưa đều mặc váy. Trang phục này xuất hiện có khi là tiếng nói buồn lòng cho người vợ khi nhất nhất nghe theo lời chồng trong chuyện ăn vận, cho dù là vận trang phục của chính họ. Tiêu biểu là nhân vật trong truyện Mặc váy nha. Nhưng cũng có khi đó là tiếng cười đả kích, châm biếm sâu cay vào bọn người xấu xa: Xắn mấn một tí là xong, Đọi rưỡi là vừa, Hay nói dại, Đằng trước hay đằng sau, Thả mấn, Nghiện thuốc phiện, Lòng gan đâu… Hầu như váy là trang phục điển hình lúc bấy giờ của phụ nữ Việt Nam. Áo dài lâu nay là trang phục truyền thống của người Việt nhưng không thấy xuất hiện trong những truyện cười mà chúng tôi khảo sát. Chi tiết này có thể nói lên nhiều điều về lịch sử của truyện cười dân gian Việt Nam được lưu trữ tới hôm nay mà chúng tôi xin được đề cập đến trong một nghiên cứu khác. Trang phục người Nhật cũng chỉ xuất hiện qua một vài truyện như: Quần áo mỏng, Tên trộm… Đó là áo choàng len, áo lót bông, áo gai, khố. Những thứ này lần lượt xuất hiện để một người khẳng định về sự mạnh dạn của mình. Một người khẳng định mình mạnh dạn hơn anh của mình chỉ vì lý do anh ta mặc quần áo ít hơn. Anh ta đưa ra ví dụ: Nếu anh ấy mặc áo choàng len thì tôi mặc áo lót bông. Nếu anh ấy mặc áo lót bông thì tôi không lót gì hết. Nếu anh ấy mặc áo không lót gì thì tôi mặc áo gai, và nếu anh ấy mặc áo gai tìh tôi đóng khố. Mọi người bấy giờ mới châm biếm hỏi thêm: “Còn khi anh ấy chỉ đóng khố thì sao?” Anh ta tự tin trả lời: “à, thì tôi sẽ để phất phơ”. Quả là mạnh dạn hơn người. Cũng như áo dài của người Việt, kimônô là trang phục truyền thống của người Nhật Bản nhưng rất ít xuất hiện trong truyện cười, chỉ xuất hiện trong hai truyện mà chúng tôi khảo sát. Trang phục cũng là một đặc điểm làm nên nét khác biệt giữa truyện cười hai nước. Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng vấn đề đi lại và nhà ở trong truyện cười Việt cũng chỉ làm nền cho những nội dung cười khác. Kiểu nhà trệt là hình thức chủ yếu phù hợp với mức sống của nhân dân Việt xưa, những ngôi nhà chủ yếu lợp bằng tranh tre có sẵn trong tự nhiên. Cũng qua những câu chuyện: Lợp lại mái nhà, Làm nhà chắc chắn, Chuyện mua nhà… thể hiện được sơ lược những vật dụng cần thiết để xây dựng một ngôi nhà. Cái cười thâm thúy trong Sư tre đè sư mít hay cái cười giòn giã trong Mua tre cũng biểu đạt cho vấn đề ăn ở của người dân Việt xưa. Nhà cửa còn thô sơ thì vấn đề đi lại ở mức độ đơn giản nhất. Chúng ta phần nhiều bắt gặp cảnh nhân dân đi bộ, những kẻ giàu sang quyền quý mới được ngồi võng lọng khi đi xa. Cãi võng lọng nghênh ngang ngoài đường khiến tạo ra những bức tranh trái ngược giữa tầng lớp quan lại với tầng lớp bình dân. Tiếng cười tung ra làm vũ khí đấu tranh chống lại những kẻ hợm mình cậy quyền cậy thế đi lại nghênh ngang. Cũng xuất hiện trong truyện cười Việt những loại đò, thuyền, bè qua lại trên sông nước. Những câu chuyện cười xuất hiện giữa nhiều con người khi đi trên những chuyến đò: Trên một chuyến đò, Ông lái đò nói lái…

Nhà ở cũng ít thấy được đề cập trong truyện cười Nhật Bản, chỉ được nói đến trong truyện Có người phụ giúp, Cửa hàng… Truyện  Có người phụ giúp có nhắc đến công việc bài trí phòng khách và tục đãi khách để giới thiệu phòng mới… Phương tiện đi lại trong truyện cười cũng chỉ dừng lại ở cấp độ đơn giản nhất, chủ yếu là đi bộ, thỉnh thoảng đi bằng thuyền (truyện Qua sông, Đánh đu… (Nhật), cũng xuất hiện phương tiện đi lại bằng ngựa trong đời sống dân tộc Nhật Bản xưa (Người cầm kích, Cưỡi ngựa…). Ngoài ra, không thấy đề cập đến các phương tiện giao thông khác.

Văn hóa vật chất qua truyện cười còn thể hiện ở hoạt động kinh tế của người dân. Qua truyện cười, các hoạt động kinh tế chủ yếu của nhân dân Việt là sản xuất nông nghiệp. Hình ảnh những nông dân qua truyện cười thật thà, mộc mạc. họ chỉ biết con trâu đi trước cái cày theo sau, suốt ngày lao động vất vả đề làm ra củ khoai, hạt gạo. Những câu chuyện thú vị về anh nông dân phải dắt trâu (bò) đi làm từ sớm mà nhìn nhầm hổ thành ra mất cả buổi cày (Mất buổi cày) và những hoạt động cấy, gặt vốn dĩ của nghề nông còn được trình bày trong các câu chuyện hóm hỉnh khác: Gãy xương sống, Anh chàng ngốc, Nghiện thuốc phiện, Chàng rể thông manh… Nông nghiệp là ngành nghề chính của dân Việt xưa để duy trì cuộc sống của mình. Những câu chuyện cười cất lên vừa khắc họa được bức tranh văn hóa vật chất đồng thời gây được tiếng cười lúc dí dỏm, giòn giã sảng khoái, khi thâm thúy sâu cay của nhân dân Việt xưa. Đặc điểm này không thấy trong truyện cười Nhật Bản mà chúng tôi nghiên cứu.

Chợ, một địa điểm hoạt động kinh tế thương mại cũng xuất hiện trong truyện cười của người Việt nhưng không thấy trong truyện cười Nhật Bản mà chúng tôi khảo sát. Sản vật bày bán trong chợ là những sản vật xung quanh khuôn viên gia đình bé nhỏ của mỗi gia đình. Người dân hầu như đem những thứ hàng hóa do mình làm ra để trao đổi cho nhau. Đồng tiền xuất hiện làm giá trị trao đổi nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức thấp, những quan tiền hay đồng xu. Từ hoạt động thương mại này, người dân cũng chê cười các tật xấu như ăn quà, trộm cắp còn tồn tại ở một số đối tượng (Đồng môn đồng khoai, Kêu trước lên là vừa…).

Những câu chuyện cười cất lên vừa khắc họa được bức tranh văn hóa vật chất đồng thời gây tiếng cười lúc dí dỏm, giòn giã, sảng khoái, khi thâm thúy, sâu cay của người dân hai nước Việt Nam – Nhật Bản.

Motif Trong Truyện Cổ Tích Hai Cô Gái Và Cục Bướu Của Việt Nam Và Ông Già Và Cục Bướu Của Hàn Quốc Từ Góc Nhìn So Sánh

VÀ ÔNG GIÀ VÀ CỤC BƯỚU CỦA HÀN QUỐC TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH

Lê Diễm Quỳnh

Học viên cao học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGTPHCM.

Tóm tắt

Trong kho tàng truyện cổ tích Hàn Quốc có rất nhiều câu chuyện tương đồng với truyện cổ tích Việt Nam, phải chăng là do đặc trưng của tính quốc tế trong thể loại cổ tích. Để tìm sự tương đồng ấy, dựa vào lí thuyết cấu trúc – chức năng của chúng tôi Propp, chúng tôi chọn so sánh vị trí các motif chính trong hai truyện cụ thể “Hai cô gái và cục bướu” của Việt Nam và “Ông già và cục bướu” của Hàn Quốc. Sở dĩ chúng tôi chọn hai truyện này là vì chúng có cùng thuộc kiểu truyện món quà của quỷ – một kiểu truyện hấp dẫn và đang đặt ra nhiều vấn đề để nghiên cứu. Thông qua việc so sánh chúng tôi muốn tìm ra điểm tương đồng và khác biệt của các motif đã vận hành như thế nào trong truyện cổ tích của hai nước. Từ đó, rút ra những nhận xét khái quát nhất cho việc vận dụng lý thuyết thi pháp học truyện cổ tích vào việc nghiên cứu đối tượng cụ thể.

Từ khóa: Motif, truyện cổ tích, Hai cô gái và cục bướu, Ông già và cục bướu.

THE MOTIF IN VIETNAM FAIRYTALE “TWO GIRLS AND LUMP” AND “OLD MAN AND A LUMP” OF KOREA: A COMPARATIVE ANALYSIS Summary

Korean fairytale treasure has many similar stories to those of Vietnam. Is it due to the universal characteristic of the fairy genre? To address this question, basing on Propp’s structure-function theory, we chose to compare the position of the main motifs in two specific stories of “Two girls and tumors” in Vietnam and “Old man and tumors” in Korea. These two stories are chosen because they are both about the type of the devil’s gift – an interesting story type, which provokes enormous research. We aimed to discover the similaries and differences of motifs inherent in fairy tales from the two countries; thereby coming to general conclusions in using fairytale theory to study specific subjects.

Keywords: Motifs, fairytale, “Two girls and a lump”; “Old Man and a lump”.

So Sánh “Sóng” Và “Vội Vàng”

Sóng và Vội vàng có rất nhiều chi tiết hay và thú vị​ BÀI VĂN MẪU SỐ 1 SO SÁNH “SÓNG” VÀ “VỘI VÀNG” CỦA XUÂN DIỆU VÀ XUÂN QUỲNH

“Qua tiếng hát anh nhận ra người hát.

Qua nét khắc anh nhân ra người thợ bạc”

(“Dagestan của tôi”)

Như những dấu vân tay duy nhất, mỗi người nghệ sĩ đều có cho mình một “vân chữ” độc nhất, không giống bất cứ ai. Vì thế, dẫu cùng dưới một bầu trời, hít một bầu không khí, dẫu chung một đề tài thì cuộc sống dưới con mắt của những người nghệ sĩ cũng không bao giờ là trùng lặp. Có thể thấy điều đó trong cái nhìn về tình yêu qua con mắt của Xuân Quỳnh:

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

(“Sóng”)

Vơi Xuân Diệu lại là:

“Tôi muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Thơ ca, với Xuân Quỳnh, gắn liền với sự sống, tình yêu; làm thơ là nữ sĩ được sống với chính mình, sống đủ đầy trọn vẹn là mình. Mỗi bài thơ đều là tiếng nói chân thành nhất của một tâm hồn phụ nữ giàu trắc ẩn, vừa âu lo vừa da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. Bài thơ “Sóng” là kết quả của chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền – Thái Bình cuối năm 1967, được đưa vào tập thơ “Hoa dọc chiến hào” (1968). “Sóng” với “em”, hai mà như một, một trong hai, song hành cùng nhau để thể hiện sâu sắc nhất cảm xúc của chủ thể trữ tình.

Trong tình yêu, người con gái cũng có lúc âu lo: “Cuộc đời tuy dài thế/ Mây vẫn bay về xa” nhưng cuối cùng vẫn chọn cách tin tưởng:

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

“Tan ra”- đó là khát vọng được hóa thân vào sóng để được tồn tại trong không gian rộng lớn của biển cả và cái vĩnh hằng của thời gian. Đó là khát vọng vĩnh vieenc hóa tình yêu, dùng tình yêu để nối dài cuộc đời ngắn ngủi của con người. Khát vọng ấy lại làm ta nhớ tới câu chuyện nàng tiên cá hóa thân làm bọt biển để người mình yêu được hạnh phúc trọn vẹn. Câu hỏi “Làm sao…” như mộ sự khắc khoải khôn nguôi trong lòng người phụ nữ. Đến hai câu thơ sau, từ con sông buổi nào, người phụ nữ đã tìm được biển lớn của đời mình. Nhưng phải làm sao để giữa biển lớn tình yêu ấy, em vẫn có thể thấy được con sóng tính yêu của chúng ta? Ước vọng được hóa thân, được níu giữ vĩnh viễn tình yêu tươi đẹp càng trở nên thiết tha. Phải chăng đó là bản tính hi sinh và dâng hiến của người phụ nữ?

Mở đầu bài thơ là sự mãnh mẽ, chủ động tìm đến hạnh phúc, kết thúc lại bằng sự hi sinh, yêu thương vô bờ. Mở đầu bài thơ là khát vọng được làm rõ mình, kết thúc lại bằng khát vọng được hòa mình của người phụ nữ. Mở đầu bài thơ là ước vọng về hạnh phúc đến cuối bài thơ chính là hành động để tạo dựng và gìn giữ hạnh phúc ấy. Sự song hành hình tượng sóng và em đã khắc họa vẻ đẹp vừa dịu dàng, tinh tế vừa chủ động, mãnh liệt, vừa truyền thống vừa hiện đại của một tình yêu chân thành. Đó là một quá trình biến đổi hết sức tự nhiên và cũng đầy can đảm, cao đẹp trong phẩm chất, vẻ đẹp của người phụ nữ. Từ đó, cũng tạo nên sự khác biệt trong giọng điệu: từ những câu thơ ngắt nhịp nhanh, giọng thơ tự tin, dứt khoát đến những câu thơ nhẹ nhàng, du dương như tiếng đại dương rì rào sóng vỗ, không nghe rõ thanh âm nhưng vang vọng đến mãi về sau. Với Xuân Quỳnh, thơ là sống, sống là thơ. Nếu nói thơ là chuyện “rút ruột rút gan mình” mà viết, Xuân Quỳnh chính là người như thế. Cứ hết mình sống, hồn nhiên viết, trút trọn vẹn cái tôi của mình vào mỗi thi phẩm, thi tứ, mỗi thi ảnh, thi điệu đó là cách thơ Xuân Quỳnh. Không mặt nạ, không son phấn, không vay mượn, không lên gân, Xuân Quỳnh đã gửi mình vào thơ.

Với Xuân Diệu, lại là:

“Tôi muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Đoạn thơ tám chữ bỗng gây chú ý, độc đáo với câu thơ ba chữ: “Tôi muốn ôm” khiến cho giọng thơ trở nên đanh lại, mạnh mẽ, biểu đạt mong muốn, yêu cầu được thực hiện hành động. Từ cái “tôi” cô đơn mà cũng kiêu hãnh ở dòng trên đã chuyển thành cái “ta”. Trong cái “ta” vẫn là cái “tôi” kiêu hùng của nhà thơ nhưng còn là biết bao cái “tôi” của mỗi độc giả. Đúng thế. Đừng trước “sự sống mới bắt đầu mơn mởn” nhưng lại nhận thức được “Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua”, “Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già” sao khỏi những nuối tiếc, xót xa. Tuổi trẻ phải là yêu, là sống hết mình để níu giữ thời gian, để tận hưởng sự sống tràn đầy này. Cấu trúc “Ta muốn” cùng với một loạt những động từ mạnh: “ôm, say, thâu, cắn” đã thể hiện được ước muốn, sự tận hưởng trọn vẹn ấy. Giọng thơ nhanh để theo kịp với những ước muốn kia với một loạt các biện pháp liệt kê. Tưởng như ta càng tận hưởng, càng tiếp nhận ta lại càng cảm thấy được cuộc sống càng tươi đẹp và ý nghĩa hơn. Đến cuối cùng là câu cảm thán: “- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” Lần đầu tiên, xuân hồng lại được hữu hình hóa để có thể “cắn” được. Động từ “cắn” đã thể hiện cao nhất ước muốn được giao hòa với thiên nhiên của Xuân Diệu. Với Xuân Diệu, tất cả không được mơ hồ, phải là cảm giác chân thực. Bởi thế, Thế Lữ mới viết về ông là “Con người của trần thế. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Trong câu thơ, ông Tây tân kì Xuân Diệu cũng đã vận dụng phép tương giao giữa các giác quan- thủ pháp tiêu biểu của các nhà thơ Tượng trưng Pháp.

Với Xuân Diệu, cuộc sống thực tại mới là tươi đẹp và đáng sống nhất. Ông đón nhận cuộc sống bằng tất cả tình yêu, sự nồng nhiệt nhất. Nhưng nhận ra quy luật nghiệt ngã của thời gian, ông sống tận hưởng hết mình, yêu hết mình. Đó mới chính là Xuân Diệu, luôn thiết tha, rạo rực, băn khoăn.

Đồi với tình yêu, cả Xuân Quỳnh và Xuân Diệu luôn chân thành và nồng thắm nhất, có khát vọng được vĩnh viễn hóa tình yêu. Nhưng hướng tới tình yêu đôi lứa, Xuân Quỳnh lựa chọn dâng hiến hết mình, hòa mình để có thể vĩnh hằng tình yêu đẹp ấy. Đó chính là đức tính hy sinh, là thiên tính nữ trong thơ nữ sĩ, là vẻ đẹp muôn đời của những áng thơ nữ Việt Nam. Còn với tình yêu cuộc sống, Xuân Diệu chọn cách tận hưởng hết mình để vĩnh viễn hóa tuổi trẻ tươi đẹp một đi không trở lại. Đó chính là cách ứng xử của phương Tây dành cho cuộc sống, cho tình yêu. Mỗi cách ứng xử khác nhau với tình yêu, chúng ta lại thêm được những cảm nhận và tình cảm khác nhau.

Đến với mỗi trang viết là một thế giới mở ra, không lặp lại, không giản đơn. Điều đó làm cho văn học dẫu ra đời từ thời của Homere, Kinh thi nhưng sẽ tồn tại với ta đến ngày tận thế, dù là vật không thể mua cũng chẳng thể bán nhưng lại là thứ không thể thiếu trong đời sống con người để ta sống tốt, sống đẹp hơn.

-Bỉ Ngạn-vfo.vn

BÀI VIẾT SỐ 2 SO SÁNH “SÓNG” VÀ “VỘI VÀNG” hay nhất “Thơ dù viết về ai, cái gì, xét đến cùng vẫn là sự bộc lộ cái tôi nhà thơ.” (Thanh Thảo). Tiếng nói trữ tình trong thơ bao giờ cũng thuộc về ngôi thứ nhất, là tiếng nói bên trong của một cái tôi cá nhân, cá thể của nỗi niềm, tâm trạng. Vì vậy, cùng nói về khát vọng tình yêu, Xuân Quỳnh nói: “Làm sao được tan ra…Để ngàn năm còn vỗ” (Sóng) còn Xuân Diệu trong bài thơ “Vội vàng” lại từng bộc bạch: “Ta muốn ôm…Cho no nê thanh sắc của thời tươi”

Tình yêu vốn là một đề tài quen thuộc đi về trong thơ ca muôn đời. Ta từng thổn thức trước nỗi nhớ của người con gái trong “Khăn thương nhớ ai”, ta từng đau lòng cho mối tình chớm nở của Kim – Kiều, ta từng xót xa cho sự chờ đợi vò võ canh khuya của người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm”. Và có lẽ, gắn với tình yêu là muôn ngàn suy ngẫm, muôn ngàn cách nghĩ, muôn vàn khát vọng. Với Xuân Quỳnh – một người phụ nữ với trái tim luôn rực cháy lòng yêu, chị tin vào tình yêu chân chính, chị thể hiện một cái tôi đầy nữ tính, duyên dáng và ý nhị đối với tình cảm thiêng liêng của loài người. Còn với thi sĩ Xuân Diệu, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm “lầu thơ trên mặt đất”, ông khao khát có một tình yêu trọn vẹn và cháy bỏng, muốn đem hết thảy cái dào dạt, mãnh liệt của tâm hồn để chiếm đoạt lấy tình yêu của tạo hóa. Đi về trong hai sáng tác nổi bật là hai cách viết, hai cách thể hiện, mang đậm dấu ấn cá nhân của mỗi người nghệ sĩ, tạo cho thế giới thơ ca những xúc cảm không ngờ, là những “tự truyện của một khát vọng” (J.M.Maulpoix).

“Sóng” là sản phẩm của chuyến đi thực tế về vùng biển Diêm Điền của nữ sĩ. Trước sự ào ạt của sóng bể và ngọn gió của muôn trùng biển khơi, nhà thơ đã không nén nổi lòng mình cất lên tiếng hát của nỗi lòng. Để lại trong bài thơ không chỉ có tình yêu, đó còn là khát vọng, là khao khát của một trái tim yêu nồng nàn, mãnh liệt:

“Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.”

Hình ảnh sóng hòa vào khát vọng được dâng hiến, hòa mình vào biển lớn tình yêu. Hai chữ “tan ra” thể hiện khát vọng được hóa thân vào sóng để tồn tại trong cái không gian vô tận của biển cả vĩnh hằng. Con sóng lớn ấy muốn hóa thân mình thành trăm ngàn con sóng nhỏ hơn để được hòa mình vào biển khơi vô tận, để trải lòng mình, để quyện hòa và hiến dâng tất cả cho người tình biển khơi. Khát vọng ấy là khát vọng dâng hiến trong tình yêu, muốn dùng tình yêu để nối dài cái hữu hạn, ngắn ngủi của cuộc đời. Khát vọng xem chừng đầy hi sinh đó khiến người đọc nhớ về chuyện nàng tiên cá đã biến mình thành bọt biển. Sự hóa thân ấy dù đau lòng nhưng đó là biểu hiện của sự hi sinh, thà để bản thân tan biến chỉ để cho người mình yêu được hạnh phúc. Phải chăng liên tưởng ấy đã hé mở hình ảnh một người con gái giàu khát vọng hi sinh, sẵn sàng hi sinh tất cả cho tình yêu chân chính? Mục đích của cô gái ấy là gì, phải chăng là:

“Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

Sự hóa thân ấy không phải là vô nghĩa, sự hóa thân ấy cũng không phải sự tan biến vĩnh viễn. Sóng sẵn sàng tan ra thành ngàn con sóng nhỏ hơn để hòa mình vào muôn trùng sóng bể, để ngàn năm trôi đi thì những lớp sóng ấy vẫn kéo dài mãi mãi. Những dòng thơ kết lại tác phẩm vẫn mang nhịp đập thổn thức của một trái tim yêu tha thiết và mãnh liệt. Vì vậy, “Sóng” đã trở thành một trong những bản tình ca đẹp nhất trong văn học Việt Nam hiện đại.

Trước Xuân Quỳnh, từng có một nhà thơ đã có khao khát mãnh liệt như thế, một nhà thơ Mới với cách viết mới, suy nghĩ mới khiến nhà phê bình Chu Văn Sơn từng phải thốt lên: “Trong bầu khí quyển của tinh thần Xuân Diệu, thời gian chỉ có hai mùa: mùa xuân là mùa của tuổi trẻ, tình yêu, sự sống, còn mùa thu là màu lá úa, tàn phai, rơi rụng. Cảm nhận thời gian của Xuân Diệu chỉ có hai thì: thì tươi và thì phai”. Khát vọng yêu đương của Xuân Diệu đã từng khắc ghi trong tâm hồn người đọc với những câu thơ giàu khao khát:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn;

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi”

Đại từ “ta” được sử dụng nhiều lần như một cách tác giả bày tỏ cái tôi riêng tư của chính mình. Câu thơ như tái hiện lại một cách tay đang ham muốn ôm trọn đất trời, khát khao tận hưởng xuân sắc xuân thì của tạo hóa. Điệp từ “ta muốn” lặp lại kết hợp với các động từ mạnh “ôm, riết, say, thâu” càng thể hiện đậm nét khát khao yêu đương mãnh liệt của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu. Có lẽ vì quá đam mê trước cảnh sắc thiên nhiên với sự sống mơn mởn mới chớm nở trên từng cành cây kẽ lá, quá say đắm với mây và gió trời, quá yêu chiều với cánh bướm dập dờn trước gió, cho nên thi sĩ muốn “thâu trong một cái hôn nhiều”. Ông khát khao giao cảm, khát khao chiếm trọn lấy đất trời và cảnh sắc thiên nhiên, để tận hưởng trọn vẹn chúng, để “chếnh choáng” trong hương mật cuộc đời và để ‘đã đầy” trước ánh sáng của tạo hóa ban cho. Đối với Xuân Diệu, không có một tình yêu nào là tình yêu hời hợt. Đã yêu, đã thương, đã say thì phải giao cảm tuyệt đối, phải thực sự quyện hòa vào nhau để được đã đầy và no nê trong hơi men cuộc sống. Nàng Xuân với sắc đẹp và sự trẻ trung của mình đã thu hút được trái tim khao khát của người thi sĩ, khiến ông muốn thâu tóm cả “trời đất, và cây, và cỏ rạng” – sự lặp lại tưởng chừng như thừa thãi đó lại là một màn kết tuyệt đẹp trong khát vọng yêu được mãnh liệt của nhà thơ. Và đúng như Khapchenko từng nói: “Điều còn lại của nhà văn là cái giọng của riêng mình” – Xuân Diệu, thi sĩ của những nỗi niềm tình cảm mãnh liệt, đã gieo vào lòng người những xúc cảm rất mực dào dạt như thế, đã khắc vào lòng người một dấu triện rất riêng. Và rồi lầu thơ của ông cứ cao lên mãi, bởi nó được xây dựng từ khao khát yêu đương và giao cảm, và khao khát đó chưa bao giờ thôi bùng cháy.

Tuy văn chương là lĩnh vực của sự sáng tạo, nó không cho phép có sự lặp lại, giống nhau nhưng kì lạ thay giữa những người nghệ sĩ lại có một sự đồng điệu giao cảm. Cả “Sóng” và “Vội vàng” đều là tiếng nói của một cái tôi giàu cảm xúc với khát khao giao cảm với đời, với người. Cùng với đó là khát vọng yêu đương cháy bỏng của những trái tim giàu khao khát yêu đương với cuộc đời, những xúc cảm dào dạt và bùng cháy. Và “không khó lối đi nào chung cho hai nhà thơ cả” – mỗi bài thơ đều mang theo những thông điệp độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân người nghệ sĩ. Nếu như “Sóng” thể hiện một tình yêu đầy nữ tính, khát khao dâng hiến, tận hiến và bất tử hóa với tình yêu thì “Vội vàng” lại đưa ta đến một quan niệm sống rất hiện đại: sống vội vàng, sống cuống quýt để tận hưởng hết thảy mọi vẻ đẹp trên đời và bởi vì tuổi trẻ chẳng có cơ hội thắm lại lần hai. Có thể nói rằng “Sóng” như một bản giao hưởng tình yêu còn “Vội vàng” là khúc vĩ thanh về khát vọng sống vội vã với cuộc đời tươi đẹp.

Chẳng hẹn mà gặp, hai người nghệ sĩ đã thổi hồn mình vào những trang thơ với xúc cảm dào dạt và mãnh liệt. Một Xuân Quỳnh với trái tim yêu đầy nữ tính, một Xuân Diệu với sự hối hả và mãnh liệt trong cảm xúc – mỗi người đều đã ghi tên mình vào dòng chảy của thời gian, của lòng người. Những áng thơ của họ sẽ còn sống mãi với thời gian.

Lập Dàn Ý Đề Văn So Sánh Sóng Và Vội Vàng

(Bài làm của học sinh Trần Phương Khanh – THPT Lâm nghiệp)

Đề bài:

Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau:

Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” (Sóng – Xuân Quỳnh)

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! (Vội vàng)

1. Khái quát về Xuân Quỳnh, Sóng: – Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh sáng tác tại biển Diêm Điền năm 1967, sau được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. Bài thơ mang âm hưởng của những con sóng biển và những con sóng lòng đang khao khát tình yêu. Bài thơ có hai hình tượng cùng song hành và hòa điệu, đó là “Sóng” và “Em”. Hai hình tượng này đã tạo nên nét đáng yêu cho bài thơ. – Đọc cả bài thơ ta thấy quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh, ngoài vẻ đẹp truyền thống là nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt và nghị lực niềm tin. Đến hai khổ cuối, ta còn thấy nữ sĩ có một ước vọng thật đẹp là tình yêu được tan vào sóng để dâng hiến và bất tử vĩnh hằng. 2. Cảm nhận, phân tích khổ thơ 8, 9 của Sóng: a. Khổ thơ 8: Nhà thơ thấm thía nỗi lo âu, buồn bã về sự trôi chảy của thời gian và cái hữu hạn của cuộc đời, nhất là của tình yêu. Không dừng lại trong niềm tin vào tình yêu như một kết cục có hậu, trái tim nhạy cảm giàu suy tư của Xuân Quỳnh tiếp tục mở ra những trăn trở khi dòng suy ngẫm hiện hữu những hình ảnh của thời gian và không gian:

“Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa”

– Thời gian và không gian được đặt trong hai bình diện đối lập: “cuộc đời” và “năm tháng”; “biển cả” và “mây trời”. “Cuộc đời” chỉ quĩ thời gian ngắn ngủi của mỗi kiếp người, “năm tháng” là hoán dụ cho dòng thời gian vô thủy vô chung; “biển cả” là một không gian mênh mông nhưng vẫn chỉ là hữu hạn, còn “mây trời” lại gợi sự phiêu du trong vũ trụ vô cùng vô tận. Cuộc đời tuy dài, biển cả tuy rộng nhưng năm tháng sẽ đi hết cuộc đời như mây kia sẽ bay qua biển rộng, sẽ đến với những không gian bao la trong vũ trụ không cùng. Khổ thơ thấm thía nỗi lo âu, buồn bã về sự trôi chảy của thời gian và cái hữu hạn của cuộc đời, nhất là của tình yêu, cảm giác hữu hạn này thường xuất hiện ở những con người từng trải, nhất là từng chịu sự đổ vỡ, mất mát, tổn thương, và vì thế, luôn khao khát sự bình yên, khao khát sự vĩnh hằng, vô hạn. Cũng có thể nhận ra thoáng buồn bã, tiếc nuối của nhà thơ khi tình yêu và khát vọng tình yêu của loài người tồn tại vĩnh hằng như biển cả, còn cuộc đời mỗi con người lại ngắn ngủi, mong manh như một áng mây phù du… – Cảm giác về sự hữu hạn thường khiến con người buồn bã, bất lực. Xuân Diệu từng sợ chính cái hữu hạn của lòng mình: “gấp đi em, anh rất sợ ngày mai – đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn”. Xuân Diệu cũng đã từng giục giã: “Mau với chứ, vội vàng lên mấy chứ – em, em ơi, tình non sắp già rồi”. Và khi không thể “tắt nắng” hay “buộc gió” để níu kéo năm tháng, để gìn giữ hương sắc cuộc đời, để nới dài hơn quĩ thời gian cho tình yêu và hạnh phúc, Xuân Diệu tìm đến một giải pháp mãnh liệt đầy nam tính, đó là vội vàng tận hưởng cuộc đời một cách say sưa, ham hố khi còn có thể, từ “ôm cả sự sống” đến say đắm “riết, thâu, hôn, cắn… từ “mây đưa gió lượn” đến “non nước, cỏ cây”… b. Khổ thơ cuối, nhà thơ ước vọng một tình yêu bất tử vĩnh hằng. – Những trải nghiệm cay đắng khiến Xuân Quỳnh sớm nhận ra và thấm thía sự hữu hạn của cuộc đời, của lòng người, nhưng khác với người đàn ông trong Xuân Diệu luôn khát khao chiếm lĩnh và tận hưởng, trái tim người phụ nữ trong Xuân Quỳnh lại có một mong ước đầy nữ tính: “Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” Câu thơ “Làm sao được tan ra…” mang cấu trúc nghi vấn – cầu khiến cho thấy cả nỗi trăn trở và niềm mong ước của người phụ nữ thật da diết và thành thực. “Tan ra” là hi sinh, là dâng hiến, là mong được hóa thân thành “trăm con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu”; mong ước được hi sinh và dâng hiến cũng là mong được sống hết mình, sống mãnh liệt trong tình yêu. Khao khát cháy bỏng trong tình yêu đã được nhà thơ bày tỏ chân thành, táo bạo và cũng thật nhân hậu, vị tha. Hai câu cuối mở ra cảm giác mênh mang của không gian “biển lớn” cùng sự vĩnh hằng của thời gian “ngàn năm”. Khi sống hết mình, yêu hết mình, để tình yêu lớn lao tới mức tan hòa trong cái vô biên của trời đất thì lúc ấy tình yêu cũng đồng thời được nhập vào dòng thời gian vĩnh hằng, tình yêu sẽ trường tồn cùng năm tháng, cùng đất trời, vũ trụ. Vậy là, con người sẽ làm được điều kì diệu, sẽ chiến thắng được cái hữu hạn của cả thời gian và không gian, sẽ vĩnh viễn hóa tình yêu ngay trong cái ngắn ngủi, thoáng chốc của cuộc đời nếu họ dâng hiến và hi sinh trọn vẹn cho tình yêu. Đó cũng là tâm nguyện cao đẹp thường xuất hiện trong thơ Xuân Quỳnh: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.” (Tự hát) – Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những “Cuộc chia ly màu đỏ”. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu là biết hi sinh quên mình để hòa cùng tình yêu cộng đồng, tình yêu quê hương, tổ quốc. Đây là lẽ sống đẹp về quan niệm tình yêu, tình yêu trong tâm hồn người phụ nữ qua bài thơ “Sóng” mãi mãi là sức sống, giá trị cho thi phẩm. 3. Liên hệ đến đoạn cuối bài Vội vàng của Xuân Diệu: – Nhận xét về đoạn thơ: + Đoạn thơ thể hiện “cái tôi” ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời mãnh liệt. Như một tuyên ngôn của lòng mình, nhà thơ tự xác định một thái độ sống gấp, tận hưởng vì cảm nhận cái hữu hạn của cuộc đời (Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm); ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức độ cao nhất (chếnh choáng, đã đầy, no nê ) những gì tươi đẹp nhất (mùi thơm, ánh sáng, thời tươi ). + Các yếu tố nghệ thuật như điệp từ, điệp cấu trúc câu, động từ mạnh.. góp phần thể hiện cái hối hả, gấp gáp, cuống quýt của tâm trạng, khiến nhịp điệu đoạn thơ sôi nổi, cuồng nhiệt. – So sánh: + Điểm tương đồng: Hai đoạn thơ đều bộc lộ cảm xúc mãnh liệt về tình yêu, những suy ngẫm trước cuộc đời. Đây là hai đoạn thơ có sự kết hợp giữa cảm xúc-triết lí. – Điểm khác biệt: không chỉ nằm ở phong cách thơ (Xuân Diệu sôi nổi, mãnh liệt đầy nam tính, xuân Quỳnh thủ thỉ, tâm tình đầy nữ tính) mà còn trong cách “ứng xử” của mỗi nhà thơ: trước sự “chảy trôi” của thời gian, Xuân Diệu chọn cách sống gấp gáp, tận hưởng, Xuân Quỳnh lại thể hiện khát vọng muốn được tan hòa cái riêng vào cái chung để tình yêu trở thành bất tử …

– Khẳng định lại vẻ đẹp tâm hồn Xuân Quỳnh qua đoạn thơ

– Liên hệ: Quan niệm tình yêu của giới trẻ qua hai đoạn thơ trên

Bạn đang đọc nội dung bài viết Văn Hóa Vật Chất Qua Truyện Cười Việt Nam Và Nhật Bản Một Cái Nhìn So Sánh trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!