Đề Xuất 1/2023 # Truyền Thuyết Mất Nước: Từ Thơ Tố Hữu Tới Lưu Quang Vũ # Top 9 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Truyền Thuyết Mất Nước: Từ Thơ Tố Hữu Tới Lưu Quang Vũ # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Truyền Thuyết Mất Nước: Từ Thơ Tố Hữu Tới Lưu Quang Vũ mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Truyền thuyết mất nước: Từ thơ Tố Hữu tới Lưu Quang Vũ

Phùng Hoài Ngọc

(VNTB) – Hôn nhân chính trị ngày xưa là cái bẫy, như ngày nay gọi là “quyền lực mềm”. Những kẻ ra rả ca tụng “16 chữ vàng và 4 tốt” lừa dối nhân dân chỉ vì lợi ích nhóm chắc chắn sẽ phải đón một ngày kia hối hận. Trước phút diệt vong, chớ đừng đổ tội cho ai khác.

Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy

Thần thoại, truyền thuyết, huyền thoại Việt Nam hợp thành một kho tàng văn hóa truyền miệng khá phong phú. Trong đó truyền thuyết được coi là gần gũi với lịch sử hơn cả. Truyền thuyết gắn bó với các thời kỳ lịch sử dân tộc. Giai đoạn đầu có truyền thuyết dựng nước, gồm nhóm truyện họ Hồng Bàng và nhà nước Văn Lang mang tính chất sử thi. Giai đoạn hai là thời kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc. Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257 -208 tr.CN). Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ (207 tr.CN-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết tiêu biểu của thời Âu Lạc là “truyện An Dương Vương”, gồm hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch sử chiến bại (sau đó là các truyền thuyết phản ánh các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược thời kỳ Bắc thuộc là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí…). Lịch sử đất nước có thắng có bại. Bộ máy tuyên truyền “cách mạng”quen tụng ca chiến thắng với mục đích vụ lợi chính trị nhất thời. Phần lớn truyền thuyết đều ca tụng chiến thắng, rất hiếm hoi mới có một truyền thuyết chiến bại.… Ở đây chúng tôi muốn bàn về “truyền thuyết chiến bại” của đất nước ta như một bi kịch lịch sử.

Nhân bàn về sự kiện lịch sử nhuốm màu truyền thuyết, chúng tôi đối sánh với cách nhìn của khoa học nghiên cứu văn hóa dân gian và so sánh bài thơ “Tâm sự” của Tố Hữu với bài thơ “Tiếng Việt” của Lưu Quang Vũ.

An dương vương và Triệu Đà đồng tổ chức cuộc hôn nhân chính trị

“Kết duyên Tần Tấn”là thành ngữ cổ Trung Quốc, xưa nay người dân Việt đôi khi nhắc đến như một lời chúc cho hôn nhân tốt lành mà quên đi bản chất chính trị của hôn nhân.

Sự tích này xuất hiện đầu tiên trong sách“Tả truyện” sau được kể lại trong Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long. Thời Xuân Thu, nhằm tăng cường mối quan hệ láng giềng với nước Tần, Tấn Hiến Công đã đem con gái của mình gả cho Tần Mục Công. Sau đó, ba đời Tần và Tấn thông gia giữa hai hoàng tộc. Rút cục nhà Tần cũng nuốt chửng nhà Tấn…

Học theo cổ sử, hai bên Thục Phán và Triệu Đà nhất trí tổ chức hôn nhân. Người Việt vốn chất phác ngay thực và cả tin. Bởi người Việt không trải qua cả một thời kỳ dài gần 10 thế kỷ Đông Chu liệt quốc đầy rẫy mưu mẹo gian manh. Và kết quả là Thục Phán An dương vương phải ăn quả đắng. Sắp chết rồi Thục Phán vẫn chưa nhận ra âm mưu kẻ thù mà còn đổ tội cho con gái.

Tư tưởng truyền thuyết – tư tưởng nước đôi

Nhà quí tộc phong kiến khuyết danh kể lại câu chuyện An Dương vương mất nước như một truyền thuyết (vì không có sử sách ghi chép). Truyền thuyết cố giúp cho cái chết của An Dương Vương nhẹ nhàng hơn (Lão thần Kim Quy rẽ nước biển cho Vua đi xuống thủy cung sau khi chém chết con gái). Ngôn ngữ folklore sẽ đọc hiểu ra rằng “Vua nhảy xuống biển mà chết vì đau khổ và hối hận”.

Truyền thuyết còn kể rằng “những con trai biển ăn phải máu Mỵ Châu*[1] thì sinh ngọc và ngọc ấy đem rửa bằng nước giếng nơi Trọng Thủy*[2] trầm mình sẽ trở nên trong sáng tuyệt vời” ! Nhẹ dạ, nông nổi và định kiến, tác giả dân gian xưa chưa bao giờ tự hỏi: Vì sao con trai sò ăn phải máu công chúa ngu ngơ lại sinh ngọc? Vì sao ngọc trai rửa bằng nước giếng của tên gian tế bội tình lại “sáng lên” – điều đó có ý nghĩa quái gì? Chúng tôi nghĩ rằng, đó là sáng tác phản mỹ học. Cái xấu sao lại có thể sinh ra cái đẹp được !

Triệu Đà [3]* bày kế “kết thông gia” với triều đình vua Thục Phán, khiến cho người Âu Lạc yên tâm, chủ quan và thiếu cảnh giác. Quân lính mất sức chiến đấu, bí mật quân sự bị lộ, dẫn tới thất bại mau chóng trước cuộc tấn công bất ngờ của quân Nam Hán.

Như vậy, về phía ta kẻ thủ phạm làm mất nước chính là vua An dương vương, người chủ trương hôn nhân chính trị, nhằm giữ gìn “ổn định và phát triển”. Đâu phải lỗi của cô công chứa ngây thơ bị vua cha sử dụng như một công cụ.

Tố Hữu viết năm 1972:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

(bài Tâm sự, tập thơ RA TRẬN, 1972)

Lưu Quang Vũ viết năm 1978:

“Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất

nàng Mỵ Châu quì xuống lạy cha già”.

(trích bài thơ Tiếng Việt)

Hai tư tưởng giải thích lịch sử trái ngược nhau. Chỉ có một nàh thơ trẻ- Lưu Quang Vũ dám nói trái ý Tố Hữu vào giai đoạn ấy.

Tố Hữu: bênh vua, đổ hết tội cho công chúa Mỵ Châu

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

(Tố Hữu, bài Tâm sự)

Ông thợ ghép vần này tự mâu thuẫn: lên án công chúa Mỵ Châu là “trái tim lầm chỗ” rồi lại bảo cô “vô ý”. Cô chưa từng quen biết và yêu Trọng Thủy, cô chỉ tuân theo xếp đặt của vua cha. Vậy, đây chẳng phải câu chuyện của trái tim. Giả sử vua cha can ngăn mà công chúa cứ đòi yêu theo trái tim mình thì mới trách cô ta được.

Tố Hữu viết bài thơ “Tâm sự” (1972) liệu có đúng đắn và thành thực khi lên án Mỵ Châu hay không ? Tố Hữu có khả năng phân biệt đọc sử và đọc truyền thuyết khác nhau thế nào hay chăng ?

Sự nhầm lẫn của Tố Hữu là ở chỗ, chỉ biết đọc truyền thuyết Mỵ Châu- Trọng Thủy mà không đọc Truyền thuyết An dương vương. Đó là hai truyền thuyết khác nhau, được  kể theo hai tư tưởng khác nhau. Tố Hữu cũng không biết tới folklore (khoa nghiên cứu văn hóa dân gian) là cái chi chi. Ông ta cứ tưởng truyền thuyết chính là lịch sử, và tau có quyền có thế thì tau cứ viết vong mạng, ai dám cãi tau?

Mặt khác Tố Hữu tuy là ông trùm lý luận cộng sản (có lẽ chỉ chịu nhún trước Trường Chinh) nhưng tư tưởng ông ta thực chất sặc mùi phong kiến. Một trong những nét “đặc sắc”phong kiến là trọng nam khinh nữ. Tơ Tố Hữu có nhiều nhân vật phụ nữ nhưng ông ta chỉ ca tụng sự hi sinh của họ cho chiến tranh, chưa bao giờ biết thấm nỗi khổ đau của họ. Lịch sử và ngoại sử TQ đều quen giải thích nguyên nhân thất bại là đổ hết cho phụ nữ. Kế đó là quy tội cho gian thần (thời hiện đại thì đổ cho cấp dưới thừa hành sai trái, trên bảo dưới không nghe, chủ trương lớn của vua thì đúng đắn !). Đổ hết lỗi cho Mỵ Châu là chắc ăn.

Lưu Quang Vũ nhìn thấy Mỵ Châu chỉ là nạn nhân

Nhà khoa học folklore sẽ đọc truyền thuyết theo cách khác. Ít nhất qua các kiến giải sau:

Thủ phạm làm mất nước chính là vua Thục Phán người xưng hiệu An Dương Vương. Vì ông ta muốn giữ gìn đại cục ổn định giữa Ấu Lạc và Nam Hán nên đã bày cuộc hôn nhân chính trị, học theo những bài lịch sử cổ đại du nhập từ phương Bắc.

Khi Trọng Thủy đã là phò mã, tất nhiên anh ta được tin cậy, được nể trọng, có quyền lực. Anh ta dò biết hết bí mật quân sự Ấu Lạc. Chỉ riêng điều đó đã đủ  giúp nhà Nam Hán đánh thắng nhà Âu Lạc. Đó là cách nhìn của khoa folklore.

Nhà thơ Lưu Quang Vũ nhìn tình huống này theo quan điểm tâm lý:

“Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già” và nàng đã nói gì đó nữa ?

Nàng có thể cãi rằng cha ép con phải cưới, đâu phải lỗi của con, xin cha nghĩ lại.

Nàng có thể nói, chàng là phò mã, giao thiệp rộng trong cung đình, biết đâu có kẻ Việt gian ăn hối lộ đưa chàng xem nỏ thần, chàng đánh tráo nỏ giả, con biết gì đâu mà đưa.

Nàng lạy van xin vua nguôi giận và tha thứ. Chẳng lẽ chỉ “lạy chào từ biệt” vua cha ?

Thơ hàm súc là thơ có nhiều tâm tư.

Nhà thơ Lưu Quang Vũ chỉ miêu tả thế thôi, còn chừa chỗ trống cho thiên hạ luận bàn.

Nhà thơ trẻ tuổi đã tránh được sự nông nổi của Tố Hữu già đời lọc lõi. Anh không hấp tấp kết tội Mỵ Châu như Tố Hữu vốn quen thói kết tội người ta khi đã nắm quyền lực của “tổ chức” giao cho.

KẾT

Còn nhớ năm 1992 tôi may mắn tham dự Hội thảo khoa Văn (ĐHSP.HN). Chủ đề hội thảo nghe đủ tính khoa học và rất hiền: “Sức sống của thơ Tố Hữu”. Thực ra đó là một cuộc xử án thơ Tố Hữu sớm nhất và công phu nhất. Từ đó đến nay, “hồ sơ thơ Tố Hữu” tiếp tục dày lên mãi, tưởng như không bao giờ cạn trong đời sống văn học nước ta.

Sau hội thảo nổi tiếng ấy, anh chàng nhà báo nhà thơ trung tá Hồng Thanh Quang viết một bài phỏng vấn trên An ninh thế giới cuối tháng do anh ta làm trưởng ban biên tập. Bài báo kể anh ta gặp cô nữ tiến sĩ Việt kiều tên NTS, ái nữ của Tố Hữu từ bên nước Đức thống nhất về thăm quê. Cô này đã định cư ở Đức, làm giám đốc một công ty tư nhân. Khó ai ngờ con gái một “ông vua tập thể” suốt đời ca tụng chủ nghĩa xã hội tới lúc sắp tàn hơi, có người cha từng viết “miền Bắc thiên đường của các con tôi” (Bài ca Xuân 61), lại rời bỏ thiên đường mang tiền vốn “xã hội chủ nghĩa” đi lập nghiệp nơi “địa ngục”. Hồng Thanh Quang bày chiêu trò ngồi chơi uống cà phê với con gái Tố Hữu ở vỉa hè Hà Nội (để phỏng vấn). Sau những chuyện cà kê dê ngỗng, cô tiến sĩ nói lời chót “Dù thế nào đi nữa, em biết rằng khi làm thơ, ba em rất thành thực” (?!). Tay Hồng Thanh Quang hồi ấy cũng không đủ sức phản bác được cuộc hội thảo của khoa Văn Sư phạm, anh ta chỉ bày trò phỏng vấn để vớt vát, chiêu tuyết cho “nhà thơ cách mạng đầu đàn” mà thôi.

Hôn nhân chính trị ngày xưa là cái bẫy, như ngày nay gọi là “quyền lực mềm”. Những kẻ ra rả ca tụng “16 chữ vàng và 4 tốt” lừa dối nhân dân chỉ vì lợi ích nhóm chắc chắn sẽ phải đón một ngày kia hối hận. Trước phút diệt vong, chớ đừng đổ tội cho ai khác.

[1] *. Mỵ: cô gái đẹp. Châu: viên ngọc trai (chữ Hán). Mỵ Châu là viên ngọc trai đẹp.

[2] * Trọng Thủy: tôn trọng tình chung thủy (chữ  gốc Hán).

[3] * Nhân vật Triệu Đà hiện còn khá phức tạp trong quan điểm lịch sử Việt Nam.

http://www.ijavn.org/2016/08/vntb-truyen-thuyet-mat-nuoc-tu-tho-to.html

Share this:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

“Đất Nước Đàn Bầu” – Mảnh Ghép Chân Thật Trong Hồn Thơ Lưu Quang Vũ

“Đất nước đàn bầu” – mảnh ghép chân thật trong hồn thơ Lưu Quang Vũ

Dẫu rằng Lưu Quang Vũ đạt được đỉnh cao với kịch nhưng có lẽ, thơ ca mới là bến đỗ cuối cùng trong tâm hồn người nghệ sĩ toàn năng ấy: “Trên mái nhà, cao vút rừng cây/ Trên rừng cây, những đám mây xô dạt/ Trên ngày tháng, trên cả niềm cay đắng/ Thơ tôi là mây trắng của đời tôi”.

Nổi tiếng trên văn đàn và “lọt vào mắt xanh” của các nhà phê bình nổi tiếng từ khá sớm với tập thơ “Hương cây – Bếp lửa” (in cùng nhà thơ Bằng Việt); sau khi ông mất, lần lượt các tác phẩm thơ của ông được tuyển chọn, tập hợp in thành nhiều tập như: “Mây trắng của đời tôi” (1989), “Bầy ong trong đêm sâu” (1993) và gần đây nhất là tuyển thơ “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” (2016). So với các tuyển thơ trước, “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi” giúp người đọc tiếp cận, tiếp nhận một cách bao quát, sâu rộng, đầy đủ hơn về thơ Lưu Quang Vũ thông qua từng chặng đường sáng tác của ông. Trong đó, “Đất nước đàn bầu” có lẽ là phần thể hiện rõ nét nhất những biến chuyển trong nhận thức, cảm hứng của nhà thơ về Nhân dân, về đất nước.

Quả thực, xuyên suốt hành trình thơ của Lưu Quang Vũ, người đọc thấy ông không bao giờ rời xa nỗi buồn, cô đơn, trống trải và nhiều khi khổ hạnh. Tuy nhiên, cái buồn trong thơ ông mang một chiều sâu tư tưởng, nhân cách cao đẹp – “một cái buồn trung hậu” (Hoài Thanh). Cái buồn trung hậu ấy thể hiện rất đậm nét trong cái cách mà Lưu Quang Vũ yêu cuồng nhiệt và trăn trở, day dứt khôn nguôi trước những biến động không ngừng của đất nước. Nếu Lưu Quang Vũ chỉ biết đắm chìm trong những nỗi buồn vương, tị hiềm nhỏ nhen, trịch thượng của một gã ngông cuồng, vô lối, phá bĩnh thì sao ngòi bút đủ phóng khoáng, bao dung để viết nên những vần thơ chan chứa tình yêu quê hương, đất nước như: “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”, “Đất nước đàn bầu”, “Ghi vội một đêm 1972”, “Viết lại một bài thơ Hà Nội”, “Việt Nam ơi”, “Tiếng Việt”…

Tình yêu đất nước hiện diện trong thơ Lưu Quang Vũ chân thực, giản dị, không màu mè, tô vẽ nhưng cũng không kém phần sinh động, mãnh liệt. Là nhà thơ – chiến sĩ, Lưu Quang Vũ đã sống và chiến đấu kiên cường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra trên mảnh đất hình chữ S thân thương của chúng ta luôn là nỗi ám ảnh trong thơ Lưu Quang Vũ. Hình ảnh thơ chân thực, đặc tả như những thước phim mô–đi–phê tái hiện lại trước mắt người đọc thời kỳ đau thương của đất nước: “Bom xé trời, mặt đất chao nghiêng/ Vụt mở hoác những vực sâu khủng khiếp/ Ngực nghẹn lại không còn khóc được/ Thương mọi người cơ cực mấy mươi năm/ Thương ga xưa đã sập tan tành/ Thương những chuyến lên đường xưa đã chết/ Nỗi bất lực cứa lòng muôn kính nát/ Kẻ mất người thân lặng lẽ bước trên đường (Ghi vội một đêm 1972).

Mất mát, đau thương, trần trụi, khốc liệt là thế… nhưng Lưu Quang Vũ vẫn nồng nàn, tha thiết, trọn vẹn tình yêu dành cho đất nước Việt Nam, con người Việt Nam: “Tôi làm sao sống được nếu xa Người/ Như giọt nước đậu vào bụi cỏ/ Như châu chấu ôm ghì bông lúa/ Người đẩy tôi ra tôi lại bám lấy Người/ Không vì thế mà Người khinh tôi chứ/ Việt Nam ơi”. Với Lưu Quang Vũ, quê hương, đất nước vẫn mãi là “lẽ sống của đời”, là “địa chỉ của niềm vui”, “lý do của hy vọng”. Ông yêu đất nước từ những điều thân quen, bình dị như lời ăn, tiếng nói hằng ngày: “Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói/ Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ/ Ôi Tiếng Việt như đất cày, như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ” (Tiếng Việt). Ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ của trái tim: “Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển/ Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?/ Ai ở phía bên kia cầm súng khác/ Cùng tôi trong tiếng Việt quay về”. Trong tình yêu ông dành cho đất nước luôn có sự hàm ơn sâu sắc: “Đất nước tôi ơi/ Những dòng sông đã cho tôi gương mặt/ Những chân trời đã cho tôi tiếng hát/ Đồng bãi cho tôi sức vóc bàn tay/ Đồi núi cho tôi những bước đi dài/ Hoa và chim đã cho tôi mộng ước”. Vì lẽ đó, Lưu Quang Vũ chân thành gắn bó số phận mình trong số phận đất nước, hết thảy vui – buồn của mình đều hướng về Người: “Tôi tìm đời tôi trong số phận người/ Tìm lẽ phải nơi trán người bình tĩnh/ Hạt muối tôi trong biển người vô tận/ Chỉ khổ đau vì đau khổ của người/ Chỉ sướng vui trong vui sướng của người thôi…” (Người cùng tôi). Để rồi chính tình yêu thương, trân trọng ấy sẽ chuyển hóa thành nguồn sức mạnh to lớn đưa đất nước vượt qua muôn vàn chông gai, thử thách, đánh đuổi quân thù, giành lấy độc lập tự do và vững bước tiến lên trên con đường xây dựng và phát triển: “Lịch sử quay những vòng xoáy gian nan/ Đất nước tôi như một con thuyền/ Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xóa” (Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi).

Sẽ thật là thiếu sót nếu nói về tình yêu đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ mà không nhắc đến “Đất nước đàn bầu”. Trong một bài viết, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã thẳng thắn nhìn nhận “Đất nước đàn bầu” là “một bài thơ lớn – một thi kịch lớn – một vở sử thi lớn” của nhà thơ Lưu Quang Vũ. Như chàng Đăm Săn quyết đi tìm nữ thần mặt trời, Lưu Quang Vũ nương vào những hình ảnh thơ chân thực, sống động, nhuốm màu sắc sử thi để khơi dậy lịch sử hào hùng của dân tộc từ thuở sơ khai: “Tôi đi dòng máu của tôi/ Hơi thở đầu sôi sục của tôi/ Trong cuồn cuộn những ngực trần đen bóng/ Những bộ lạc mình vẽ đầy rồng rắn/ Quần hôn trên bờ bãi sông Hồng/ Những mái tóc dài bay gió biển Đông/ Những mái lá có bùi nhùi giữ lửa/ Những người đàn bà tết cỏ cây che vú/ Đã ngọt ngào dòng sữa/ Điệu ru con đầu tiên/ Bức tranh đầu tiên khắc mặt người lên đá/ Điệu múa đầu tiên theo nhịp thuyền”. Hình ảnh thơ giàu tính hội họa, nhịp điệu thơ dồn dập khiến người đọc có cảm tưởng như chính mình đang có mặt trong khung cảnh ấy để cùng dân tộc sống trọn với từng giai đoạn lịch sử: “Tôi mang suốt đời không nguôi được/ Dân tộc tôi bốn ngàn năm áo rách/ Những người chết đặc trong lòng đất/ Những mặt vàng sốt rét/ Những bộ xương đói khát vật vờ đi/ Vó ngựa lao dồn dập/ Giặc phương Bắc kéo về/ Vung gươm dài đẫm máu/ Bao đền đài bị đốt thành than/ Bao cuốn sách bị quăng vào lửa/ Bao đầu người bêu trên cọc gỗ/ Con trai chinh chiến liên miên/ Con gái mong chồng, hóa đá/ Mỵ Châu chết không sao hiểu được/ Vì đâu Trọng Thủy hóa quân thù?”. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ Lưu Quang Vũ chưa bao giờ chối bỏ sự thật trần trụi, trần trụi đến xót xa. Làm sao chối bỏ được khi nó vốn dĩ là một phần của lịch sử, của số phận đất nước mình. Phải dũng cảm nhìn nhận để biết được rằng, cha ông ta đã từng hy sinh nhiều đến thế; dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, con người Việt Nam là bậc kiên trung, dũng cảm, yêu nước, thương nòi bậc nhất; từ đó mà sống trân trọng, bao bọc lấy nhau và cùng nhau gìn giữ, phát triển non sông này: “Người nô lệ da vàng bất khuất/ Vươn giữa trời thơm ngát tấm lòng son/ Tóc phơ phơ bạc trắng sợi đau buồn/ Sao bà hát những lời da diết/ Cháu nghe mãi vẫn lạ lùng tiếng Việt/ Chữ “thương” liền với chữ “yêu”/ Chữ “thương” đi cùng chữ “nhớ”/ Dân tộc trải xót xa nhiều nỗi khổ/ Phải thương nhau mới sống được trên đời”.

Nếu cuộc đời luôn có nhiều ngã rẽ thì hành trình sáng tạo văn chương, nghệ thuật cũng theo những biến ảo cuộc đời ấy mà phân chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Hành trình thơ của Lưu Quang Vũ không nằm ngoài quy luật đó. “Những năm tháng của đời mình, những thay đổi của đất nước, nhận thức của ông cũng có nhiều thay đổi” và “thơ của ông đã mang một âm điệu, một cách nhìn khác”, đúng như tác giả Lưu Khánh Thơ (em gái cố nhà thơ Lưu Quang Vũ) nhận định: “Cùng với những cảm xúc cá nhân, cảm hứng dân tộc trong tiến trình lịch sử, những suy nghĩ về Nhân dân, về đất nước đã làm giàu có và phong phú thêm cá tính thơ Lưu Quang Vũ”. Sau tất cả chông chênh, nghiệt ngã cuộc đời, Lưu Quang Vũ vẫn luôn cống hiến cho hoạt động văn chương, nghệ thuật bằng tất cả niềm hăng say của người nghệ sĩ chân chính. Đó là tất cả chất liệu quý giá đã làm nên “Đất nước đàn bầu” lấp lánh giữa mênh mang “gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”.

Nguyên Linh

Đến Với Bài Thơ “Gửi Mẹ” Của Lưu Quang Vũ

Đã có rất nhiều nhà thơ viết về mẹ với nhiều thể loại, với những nỗi niềm thương nhớ kính yêu, với những ngôn từ thiết tha, trìu mến, đôi khi có phần bi luỵ. Còn anh viết về mẹ với những ngôn từ bình dân, vô cùng chân thực sâu lắng. Bài thơ “gửi mẹ” được viết nào năm 1969 khi đang tại ngũ.

Mở đầu bài thơ, Anh đã nêu lên một chân lý hiển nhiên ngàn đời:

“Trên đời chẳng ai lo cho ta bằng mẹ”

Đồng thời đưa ra chân lý mới:

“Cũng chẳng ai ta làm khổ nhiều như mẹ của ta”

“Ai thương con bằng con thương mẹ”, nhưng chính con lại làm khổ mẹ nhiều nhất, phải chăng đó là quy luật của tạo hoá hay bởi “lòng mẹ mênh mông như biển thái bình”, suốt đời lam lũ, chịu khó, chịu thương hy sinh tất thảy vì con mà nên nông nỗi ấy.

Giữ gìn truyền thống gia đình, coi trọng luân thường đạo lý là niềm tin, là lẽ sống của mẹ. Mẹ là ngọn lửa rừng rực, tự cháy hết mình để thêm nguồn năng lượng cho cháu con nối gót ông cha.

Mẹ quên bản thân mình, thức thâu đêm ru con ngủ, lo cho con từng miếng cơm manh áo….Mẹ đau khổ khi con không vâng lời, khi con hư hỏng. Kể cả lúc thành đạt có khi lại làm mẹ khổ đau hơn vì con sống quá thực dụng, không giữ được đạo đức, gia phong, tầm thường khi đối nhân xử thế.

Và Anh ước “được sống lại tuổi thơ” để “chẳng bao giờ mải chơi trốn học/ sẽ không lần nào làm mẹ xót xa”.Tình cảm ấy thật tự nhiên, thực tế, không hề sáo rỗng.

Anh “Ước mẹ trẻ hoài như buổi mới gặp cha/ Ước con được sống suốt đời bên mẹ/ Mẹ muốn ăn cá thu con chẳng nề xuống bể/ Chẳng ngại lên ngàn kiếm đọt măng mai ” để được phụng dưỡng, chăm sóc mẹ khi ốm đau, khi trái gió, trở trời… cho tròn đạo làm con như bao người con có hiếu.

“Nhưng xứ sở ta quân Mỹ tới rồi/ Cùng bè bạn con lên đường đuổi giặc”.

“Đuổi giặc” chứ không phải là “đánh giặc” chỉ hai từ ấy thôi cũng đã nói lên dân tộc ta rất yêu chuộng hoà bình. Đuổi giặc đi như đuổi gà, đuổi trâu… để chúng không phá hoại vườn rau, ruộng lúa chứ không đánh cho chúng phải chết, phải tuyệt diệt. Đứng lên đánh giặc là việc chẳng đừng khi quân thù hung hăng, dã man giày xéo quê hương, đất nước thân yêu của mình. Phải chăng đó là truyền thống đẹp đẽ của dân tộc ta được hun đúc qua chiều dày mấy ngàn năm lịch sử? Trong quá khứ Ông cha ta đã bao lần đánh cho quân xâm lược phương Bắc phải kinh hồn bạt vía, sau khi giành thắng lợi lại cấp luơng, cấp thuyền cho chúng cút về nước.

Có nhà thơ đã viết:”Giặc nước đuổi xong rồi trời xanh thành tiếng hát…”. Mẹ ơi! đuổi giặc xong rồi con lại về với mẹ, để được nằm bên mẹ, để được nghe lời ru ngọt ngào và làm vài món ăn mẹ thèm mà cả đời mẹ chưa một lần được nếm.

Mẹ của anh cũng như bao bà mẹ Việt Nam khác:chịu thương, chịu khó, yêu chồng, thương con,”Giỏi việc nước,đảm việc nhà”.Mẹ vui vẻ thực hiện nghĩa vụ ấy với ý thức tự nguyện. “Mẹ vui vẻ gánh lấy phần khó nhọc;Quen vất vả mẹ quản gì sương nắng” Với ngôn từ giản dị Anh đã khắc hoạ những phẩm chất của người mẹ Việt Nam.

Ta hãy lắng nghe tâm trạng của người con trai nhớ về mẹ của mình giữa chốn rừng xa: “Đêm nay con nằm rừng xa gió lạnh”. Anh có bi luỵ không? Anh không hề bi luỵ. Quang Dũng trong bài “Tây tiến” cũng đã viết: “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc” Mà “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” đó sao. Anh đi đánh Mỹ cũng chính là vì cha mẹ mình, quê hương đất nước mình. Nỗi nhớ ấy, vào thời gian và không gian ấy thật đáng trân trọng.

” Mẹ nghỉ chưa hay đã thức rồi / Suốt một đời chưa có lúc nghỉ ngơi”

Cũng như cái máy, sinh vật, mọi con người đều có nhu cầu nghỉ ngơi để hồi phục chức năng sinh lực.Trong hoàn cảnh tuổi cao, sức yếu đương nhiên mẹ của anh hoàn toàn có quyền đó nhưng vì sao? Vì nhiều lẽ nhưng quan trọng nhất có lẽ vì Tổ Quốc đang còn giặc giã. Mẹ không nghỉ ngơi là để làm thêm nhiều việc cho gia đình, cho đất nước để chiến tranh mau kết thúc, để sớm có ngày được gặp lại con.

“Nghĩ thương mẹ giận quân thù quá đỗi”

“Giận” chứ không phải là “Căm thù” quá đỗi .Ở đây anh tiếp tục sử dụng từ như khổ thơ thứ hai (là “đuổi” chứ không phải là “đánh”).Giận vì nước Mỹ có hơn hai trăm năm lịch sử, là nơi sản sinh ra bản tuyên ngôn độc lập (04/7/1776) và về nhân quyền, bác ái đầu tiên trên thế giới (thứ hai là tuyên ngôn năm 1789 của nước Pháp), là đất nước được coi là văn minh, giàu có nhất hành tinh, nhân dân Mỹ cũng rất yêu chuộng hoà bình nhưng chính quyền hiếu chiến của Hoa Kỳ lại mang đạn bom, máy bay, tàu chiến đến đất nước Việt Nam thân yêu cách nước Mỹ nửa vòng trái đất để tàn phá ruộng nương, giết hại dân lành. Chiến tranh tàn khốc kéo dài hai mươi mốt năm. Hàng triệu người đã ngã xuông, hàng triệu người mẹ mất con, Hàng triệu người vợ mất chồng, hàng triệu người tàn phế và nhiều thế hệ bị di chứng chiến tranh, chất độc màu da cam…

Khác với các nhà thơ, nhà văn, chiến sĩ trong những năm chiến tranh ác liệt ấy, họ lý tưởng hoá cuộc chiến tranh như là niềm vui, là lẽ sống như “Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai” hoặc “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù” v.v..và v.v.., thì trong khổ thơ này và trong bài thơ “Việt Nam ơi” của Anh có vẻ như hơi lạc điệu. nhưng chính nhờ đó mà ta thấy rõ hơn suy nghĩ sâu sắc, tình yêu Tổ Quốc thiết tha của Lưu Quang Vũ.

Mọi người càng trân trọng Anh hơn khi biết vào năm 1965, vừa 17 tuổi đang học dở lớp 10 (hệ 10 năm), Anh đã viết đơn tình nguyện đi bộ đội.Trong đêm khuya trước ngày lên đường Anh đã viết cho mẹ những vần thơ chan chứa:

“Từ giã những tà áo tím tuổi thơ, từ giã mẹ Con khoác trên mình áo bộ đội xanh Màu xứ sở ru con từ thở nhỏ Nay cùng con đi giữ đất quê mình.”

Giờ đây đọc lại, xem lại những bài thơ, những kịch bản sân khấu của anh ta càng cảm phục Anh: một tâm hồn, một tầm nhìn với một nhân cách lớn.

“Lo trước mọi điều mẹ thường ít nói/ Mắt tin yêu nhìn thấu tận đường xa/ Mọi giả dối quanh co mọi tàn bạo hận thù/ Đều nát vụn trước mắt hiền của mẹ”

Qua bốn câu thơ này, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam vốn “Hay lam,hay làm”, “dám hy sinh nên chẳng nhiều lời” lại đuợc toả sáng. Đôi mắt tinh tường, hiền từ trải đời của mẹ là sức mạnh vô biên chiến thắng cái ác, chiến thắng sự giả dối, sự bạo tàn thù hận. Sức mạnh của mẹ khiến mọi kẻ thù phải khiếp sợ. Sức mạnh đó trường tồn, vĩnh cửu.

“Dẫu cuộc đời là con đường dài thế/ Con sẽ đi qua mọi đèo dốc chông gai/ Bằng đôi chân của mẹ mẹ ơi”

Trước cuộc đời gian lao ,vất vả đầy rẫy những biến cố bất ngờ phía trước, Anh nguyện sẽ vượt qua tất cả bằng nghị lực của mình, bằng tình yêu thương, sự hy sinh lớn lao mà mẹ Anh đã từng chăm sóc, nuôi nấng dạy dỗ từ khi lọt lòng đến khi Anh đã là người lớn, người lính.

Hai mưoi bảy câu thơ trải ra trên sáu khổ, với những con chữ “bình dân”, giản dị, không bóng bẫy rườm rà, ngòi bút tài hoa đã khắc hoạ rất thành công hình ảnh ngưòi mẹ của riêng Anh đồng thời khái quát được những phẩm chất chung của người mẹ Việt Nam. Có thể nói: Anh đã cùng với nhiều văn nghệ sĩ xây đắp nên tượng đài “Mẹ Việt Nam Anh hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang” mà không sợ đại ngôn.

Phải chăng từ tình cảm chân thành, mộc mạc của người con đối với mẹ thể hiện qua bài thơ “Gửi mẹ” và tài năng của Anh đã thắp sáng một Lưu Quang Vũ trên văn đàn (thơ và kịch) Việt Nam.

Là một người yêu thơ, trong đó có thơ Lưu Quang Vũ, tác giả mạo muội viết lên những suy nghĩ thiển cận của mình về bài thơ “Gửi mẹ”, chắc chắn không tránh khỏi ngây ngô, ấu trĩ. Kính mong độc giả lượng thứ và chỉ giáo.

Trần Đình Nhân Hội viên Hội VHNT Đắk Lắk

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Gió Và Tình Yêu Thổi Trên Đất Nước Tôi Của Lưu Quang Vũ Mới Nhất

Tìm hiểu về nhà thơ Lưu Quang Vũ

– Lưu Quang Vũ (1948-29/8/1988) quê gốc ở Quảng Nam, sinh tại Phú Thọ, mất năm 1988 trong một tai nạn giao thông trên đường 5

– Anh làm thơ từ thuở học cấp ba, rời ghế trường trung học, vào bộ đội anh viết nhiều hơn và bắt đầu đăng báo

– Năm 1968, hai mươi bài thơ đầu tay chọn in chung vào tập Hương cây – Bếp lửa giới thiệu một hồn thơ trong trẻo, đắm đuối mơ mộng và cũng còn nhiều dấu vết của sách vở nhà trường

– Đắm đuối là đặc điểm suốt đời thơ Lưu Quang Vũ

– Anh cảm thụ đời sống không chỉ bằng nhận thức mà bằng cả giác quan. Cảm giác là hạt nhân đầu tiên của cảm hứng Lưu Quang Vũ.

– Cảm giác gọi những ý thơ tuôn chảy. Đọc thơ anh ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào ạt, đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống hoà quyện thúc đẩy nhau trong các câu thơ dồn dập

– Thế giới trong thơ anh là thế giới của tưởng tượng. Giàu tưởng tượng nên mới thành đắm đuối

-Đắm đuối là bản sắc cảm xúc Lưu Quang Vũ. Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh và cũng tạo nên lắm vất vả cho đời anh

– Lưu Quang Vũ thuộc tạng người chỉ tin ở mắt mình, chỉ tin ở lòng mình. Mắt anh thấy và tim anh đau nhói anh đều viết thành thơ. Anh muốn trung thành với tình cảm nguyên sơ của mình. Anh không bận tâm lắm đến sự xác định là cá biệt hay phổ biến, bản chất hay hiện tượng.

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi

Gió rừng cao xạc xào lá đổ

Gió mù mịt những con đường bụi đỏ

Những dòng sông ào ạt cánh buồm căng

Chớm heo may trên những ngọn cau vàng

Nồm nam thổi, khắp đồng bông gạo trắng

Người xa cách vẫn chung trời gió lộng

Thương vệt bùn trên áo gió khô se.

Đã có lần tôi muốn nguôi yên

Khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng

Nhưng vô ích làm sao quên được

Những yêu thương khao khát của đời tôi.

Tôi thở trong sức gió muôn người

Mùa gió mới nhờ em tôi có lại

Bài hát cũ tôi hát cùng đồng đội

Lại dập dồn như gió khắp rừng khuya.

Dẫu đêm nay ngọn gió mùa hè

Còn bề bộn một vùng gạch ngói

Lịch sử quay những vòng xoáy gian nan

Đất nước tôi như một con thuyền

Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xoá.

Ước chi được hoá thành ngọn gió

Để được ôm trọn vẹn nước non này

Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá

Để mát rượi những mái nhà nắng lửa

Để luôn luôn được trở lại với đời…

Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Truyền Thuyết Mất Nước: Từ Thơ Tố Hữu Tới Lưu Quang Vũ trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!