Đề Xuất 2/2023 # Truyện Cổ Tích Hay Rủ Nhau Đi Kiếm Mật Ong # Top 8 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Truyện Cổ Tích Hay Rủ Nhau Đi Kiếm Mật Ong # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Truyện Cổ Tích Hay Rủ Nhau Đi Kiếm Mật Ong mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Truyện cổ tích hay rủ nhau đi kiếm mật ong

Ngày xửa ngày xưa có hai tên ngốc tên là Ngốc và Bự sống ở một vùng nọ. Cả hai đều là những tên ngu đần không ai sánh bằng. Tuy nhiên thì Bự vẫn luôn tự cho rằng bản thân khôn hơn là Ngốc nhiều. Một ngày nọ khi nghe được người ta bảo nhau rằng đi kiếm mật ong thì vừa có thể được ăn, lại vừa có thể bán mà lấy tiền, vì vậy hai người liền rủ nhau thử đi một chuyến xem thế nào. Nhưng mà cả hai đều quên không hỏi việc đi hướng nào sẽ tìm được tổ ong. Sau khi suy đi ngẫm lại hồi lâu thì Bự tỏ ra thạo lắm bảo với Ngốc là:

– Mày ạ! Theo như tao biết thì mật là một chất có nước, nếu vậy thì lên rừng làm sao mà có được, chúng ta phải xuống dưới nước mà tìm thì mới có chứ!

(Đọc truyện cổ tích hay Truyện anh khờ được kiện)

Ngốc cũng chẳng chối chẳng cãi gì, nghe Bự nói thế thì gật đầu theo ngay. Hai người lập tức lấy thuyền rồi chèo đi. Chèo thuyền đi mãi, mấy ngày liền nhưng chẳng tìm thấy cái tổ ong nào cả. Đến ngày thứ ba lúc trời đã bắt đầu tối thì hai người mới cắm thuyền ngay bên bờ sông để mà nghỉ ngơi lấy sức. Sáng ngày hôm sau thức dậy thì cả hai trông thấy ở dưới nước xuất hiện một tổ ong vô cùng lớn. Bự vui vẻ vỗ vào vai Ngốc mà nói:

– Đấy, mày thấy tao có nói sai bao giờ đâu. Nếu mà lấy được cái tổ ong này thì chúng ta vừa được ăn no, lại còn bán đi được khối tiền nữa, cũng bõ công mấy ngày nay chúng ta vất vả đi tìm. Mày thì giỏi lặn hơn tao thì nhảy xuống tìm nó đi!

Nghe lời Bự, Ngốc cởi áo để trên thuyền rồi nhảy tùm xuống dưới nước. Nhưng mà Ngốc cứ lặn mãi, lặn đến mức hai mắt đều đỏ ngầu cả nhưng vẫn chẳng tìm được gì cả. Nhìn thấy Ngốc ngoi lên với tay không thì Bự lại chỉ tay xuống dưới nước mà bảo:

– Mày nhìn ong nhiều thế sao mày lại chẳng lấy được chút gì thế hả. Cái giống ong là chúng nó hay bay lắm, mày phải lặn xuống lâu lâu mới được chứ!

Và chàng Ngốc lại lặn xuống lần nữa, tìm tòi dưới nước một lúc lâu lại trồi lên, nhưng vẫn lên tay không. Bự thấy Ngốc chẳng tìm được gì thì suy nghĩ một lúc lâu, sau đó đột nhiên reo lên:

– Bởi vì lần nào mày cũng vội vàng lên mới chẳng tìm được gì đấy. Cái giống ong ấy mà phải mất công mới tìm được cơ. Sẵn đây có nạng, tao lấy nó rồi ghìm mày dưới đấy thật lâu, có thế thì mày mới có thể tìm được.

Lần này Ngốc lại lặn xuống dưới nước, còn Bự ở trên thuyền thì cầm theo nạng để mà đè Ngốc xuống. Bự cứ cố dùng sức mà đè Ngốc gần nửa buổi, sau đó mới thả nạng ra nhưng mà Ngốc thì chết nhăn răng tự bao giờ không hay. Nhìn thấy xác của Ngốc nổi lềnh phềnh trên mặt nước thì Bự lại cứ ngỡ là Ngốc còn sống nên mới mắng to:

– Cái thằng Ngốc tham lam kia, đã ăn được một bụng mật dưới đấy bây giờ còn nhăn răng ra cười à.

Đúng lúc ấy có chiếc thuyền chèo ngang qua đó, mấy người lái thuyền trông thấy một cái xác đang nổi bập bềnh thì bảo Bự là:

– Cái thằng kia chết rồi, mày sao không đem đi chôn đi, cứ để như thế thì thối hoắc ai mà chịu cho nổi.

Nghe người ta nói vậy thì Bự mới biết là Ngốc chết thật rồi, bèn đem xác Ngốc lên trên bãi để đào lỗ mà chôn đi. Chôn xác Ngốc xong thì hắn liền trở về thuyền. Tự dưng thì hắn lại đánh một cái rắm. Lại thấy có mùi thôi thối loanh quanh, nhớ tới lời của đám lái thuyền khi nãy thì hắn trong bụng thầm nghĩ:

– Thật là thối quá mà! Vậy mình cũng chết rồi nên có mùi thối như thế. Thôi đành, ta lại phải tự chôn ta vậy, không thì người khác làm sao mà chịu được.

Nghĩ thế nên hắn liền trở lại bãi và tự đào cho mình một cái lỗ rồi tự chôn. Tuy nhiên khi mới chỉ bốc được có mấy nắm bùn để lấp lên trên đầu thì hắn lại cảm thấy vô cùng ngột ngạt và khó thở, vì thế lại ló đầu lên trên. Khi nhìn thấy có mấy chiếc thuyền đang qua lại ở ngay gần bãi thì Bự liền hét to:

– Này thuyền kia! Đi xê ra một tí, lỡ như đụng vào mả người ta thì lại thối hoắc không chịu được đâu đấy.

Nghe thấy Bự nói, đám trẻ đang cho đàn trâu của mình ăn ngay gần đấy không nhịn cười được nữa. Chúng nó liền hùa nhau cầm theo một cây roi mây lên bãi, tới gần chỗ Bự tự chôn mà quất tới tấp lên người Bự, chúng vừa quất lại vừa hô:

– Nào, để xem thử là sống hay là chết!

Vì bị lũ trẻ đánh đau quá nên Bự bật dậy khỏi hố chôn rồi cắm đầu cắm cổ mà chạy chối. Đang chạy thì Bự đột nhiên nghĩ ra mình đã chết rồi, sau đó lại nhờ có cây roi kia của đám trẻ trâu đánh cho mấy cái thì lại được sống lại. Bự nghĩ ngay cây roi ấy chắc chắn là có được phép thần thông rồi. Và cứ đinh ninh đó là một cây roi quý, và tự nhủ phải trở lại và xin bằng được cây roi ấy.

Bự lập tức chạy quay lại chỗ mấy đứa trẻ chăn trâu xin chúng cho mình cây roi mây vừa nãy. Nhưng mà lũ trẻ nhất định không chịu cho, Bự đã phải lạy lục chúng mãi thì chúng mới chịu vứt cho cây roi. Khi lấy được roi thì Bực mừng rỡ vô cùng, thầm nghĩ bản thân từ nay đã có được phép thuật giúp cải tử hồi sinh. Vậy là Bự đem theo roi mây lên đường với suy nghĩ đi khắp thiên hạ cứu chữa chúng sinh. Bự đi một quãng dài thì nhìn thấy phía trước có một đám ma. Bự làm vẻ mặt vô cùng nghiêm trang mà tiến đến đòi được gặp mặt tang chủ. Người ta đưa Bự tới gặp tang chủ của gia đình, Bự lập tức khoe khoang:

– Ta có được cây roi phép biết cải tử hồi sinh, cũng đã từng thí nghiệm qua thấy rất công hiệu. Vì vậy mấy ông mấy bà hãy đem áo quan mở ra, rồi ta sẽ giúp cho người chết được sống lại, trở lại nhà mà làm ăn.

Khi nghe Bự tự tin tuyên bố như thế thì mọi người ở trong tang gia bấy giờ lập tức dừng tiếng khóc, sau khi im lặng thì họ đồng loạt quỳ sụp xuống mà lạy Bự, rồi đồng thanh hô vang:

– Nếu ngài thương cho mà giúp được cho cụ nhà tôi sống lại thì chúng tôi cũng cắn rơm cắn cỏ mà lạy ngài, đời này kiếp này cũng không bao giờ quên ơn của ngài.

Tang chủ lập tức cho đám ma hạ đòn và đặt xuống ngay đám đất vệ đường. Tất cả mọi người đều xúm cả lại mà nạy đinh đóng ván thiên lên. Sau đó thì cái xác được đem lột trần ra rồi đặt nằm sấp ngay trên ván y theo lệnh Bự nói. Rồi lúc này Bự mới thong thả mà tiến lại gần, giơ cây roi mây lên cao mà thẳng tay quất xuống cái xác kia, tay quất miệng hô:

– Để xem thử là sống hay là chết! Để xem thử là sống hay là chết!

Bự cứ thế quất, nhưng là đến roi thứ mười thì da thịt của xác chết đã văng tứ tung khắp nơi nhưng “ông cụ” thì vẫn chẳng thấy tỉnh lại gì cả. Đám con cháu cùng người thân thuộc của cái xác kia lập tức xông tới kẻ đấm người đá một trận tơi bời để trút giận, Bự ta bị đánh đến mức lăn ra mà chết giấc luôn.

Con Ong Làm Mật Yêu Hoa

Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời Con người muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chí, yêu người anh em.

Một ngôi sao chẳng sáng đêm Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng Một người – đâu phải nhân gian Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!

Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu? Muôn dòng sông đổ biển sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn?

Tre già yêu lấy măng non Chắt chiu như mẹ yêu con tháng ngày Mai sau con lớn hơn thày Các con ôm cả hai tay đất tròn.

Con ong làm mật yêu hoa là câu thơ mở đầu cho Tiếng ru. Ở đây Tố Hữu muốn mượn hình ảnh thiên nhiên, các sự vật gần gũi để chuyển tải thông điệp của mình. Hoa cỏ, ong bướm bay lượn khắp cánh đồng đó cũng chính là nguồn sống. Còn bầu trời trong xanh chính là nơi những chú chim tung cánh. Và thật yên bình nhất là khung cảnh chim tìm về tổ mỗi hoàng hôn.

Mối quan hệ tự nhiên và sinh vật

Những câu thơ đầu tiên của bài thơ này, Tố Hữu đã chuyển tại một mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường sống. Bởi khi các loài vật bị tách ra khỏi môi trường sống thì chúng sẽ chết. Và đó cúng chính là quy luật tất yếu của tự nhiên. Rằng con cá không thể sống thiếu nước, con ong không thể sống thiếu hoa, con chim không thể cất cánh trong lồng hẹp. Và chỉ với những câu thơ ngắn mà Tố Hữu đã gợi lên trong lòng người đọc tình cảm yêu thương và gắn bó với môi trường sống của mỗi loài.

Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời

Triết lý về cuộc sống con người

Nêú như hai câu thơ đầu nói về mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường sống thì những câu thơ sau lại khéo léo chuyển sang nói về cuộc sống của con người.

Con người muốn sống con ơi Phải yêu đồng chí, yêu người anh em.

Chính lời thơ ngọt ngào, tình cảm tác giả đã khẳng định con người không thể sống cô đơn mà cần phải có tình yêu thương. Đó chính là tình đồng chí, tình anh em. Tình đồng chí tức là mối quan hệ gắn bó, luôn giúp đỡ yêu thương và che chở lẫn nhau như ruột thịt. Cũng như vậy khi giải nghĩa về tình anh em. Tình cảm ấy sâu nặng đối với mỗi con người chúng ta.

Tình đồng chí, tình anh em rất cần thiết, nó cũng giống như con ong cần hoa con cá cần nước, con chim cần bầu trời. Và sẽ thật bất hạnh khi con người ta sống thiếu tình yêu thương. Bởi như vật sẽ rất cô độc và phải vượt qua mọi khó khăn một mình. Và đó cũng chính là giá trị nhân văn mà tác phẩm muốn chuyển tải. Đó chính là hay sống để yêu thương. Và trong xã hội khi có tình yêu thương thì con người mới có thể có được hạnh phúc và có thể tồn tại.

Con ong làm mật yêu hoa là một câu thơ mở đầu cho bài thơ Tiếng ru. Phải hiểu rằng tiếng ru ở đây không chỉ là tiếng ru cả mẹ mà còn là tiếng ru của nhân loại. Bởi bài thơ gợi nhắc các giá trị, triết lý nhân sinh cao cả. Mượng những hình ảnh đơn giản của tự nhiên Tố Hữu đã thành công trong việc khắc họa những điều đó. Đó chính là lời khuyên nhủ mọi người hãy sống yêu thương nhau. Và đó cũng chính là cách làm cho cuộc sống của chúng ta cnafg thêm ý nghĩa.

Giải Thích Và Bình Luận: Nhà Thơ Như Con Ong Biến Trăm Hoa Thành Một Mật… (“Ong Và Mật”

(“Ong và mật” – Chế Lan Viên)

Ngoài kia cuộc đời tràn đầy sắc ngọt vị hương! Hoa nào cũng đẹp mà nụ nào cũng thơm! Yêu cuộc sống bao nhiêu thì người nghệ sĩ càng đong đầy những ý niệm của mình trong các vần thơ bấy nhiêu. Những rung động tinh tế, những trái tim ca hát của người nghệ sĩ lúc nào cũng bám riết, cũng đòi tinh chất mật ngọt của đời sống. Như đôi cánh ong chăm chỉ, Chế Lan Viên trong “Ong và mật” có viết:

Ý kiến trên của Chế Lan Viên với hình ảnh của con ong kiếm mật đã mở ra công việc, trách nhiệm và thiên chức của mỗi nhà thơ trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của mình.

Thơ là tình ca muôn đời của cuộc sống mến thương, Nhà thơ chính là người viết nhạc, người tạo lời cho bản đàn dạo suốt trăm phương. Cuộc sống thì mời mộc lắm, đáng yêu và quyến rũ lắm, nhà thơ không thể mong đứng bên ngoài khung trời ấy mà tạo nên được muôn câu thơ cho đời, Góp mình vào dòng thơ ca đó, Chế Lan Viên có những câu thơ viết về thơ rất tinh tế và sắc sảo. Với trải nghiệm của một nhà thơ lớn, Chế Lan Viên có những ý kiến rất xác đáng về thơ ca, nhà thơ cũng như quá trình hình thành nên tác phẩm. Rất nhiều bài thơ của Chế Lan Viên ẩn chứa quan niệm nghệ thuật. Những dòng thơ trong “Ong và mật” đã nói lên được thiên chức của nhà thơ, cũng như quá trình sáng tạo nên một tác phẩm nghệ thuật văn chương. Ông ví nhà thơ như chú ong kia, cứ mải mê, miệt mài hút nhụy, hút mật, đắm mình vào với mật cuộc sống. Mật càng ngọt, càng tinh chất thì đôi cánh ong bay càng miệt mài, vất vả. Cũng như thơ càng cô đọng, hàm súc nao nhiêu thì những nặng nhọc đèo bong của nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật càng kì công, khổ hạnh bấy nhiêu. Không phải ngẫu nhiên Chế Lan Viên lại nhìn thấy hình ảnh các nhà thơ trong chú ong kiến mật chăm chỉ. Phải chăng ong và quá trình làm mật cùng chiếu ứng với nhà thơ và quá trình sáng tác. Nếu đặc tính của con ong là cần mẫn, chăm chỉ thì nhà thơ cũng vậy:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mậtMỗi giọt mật thành đôi vạn chuyến ong bay”

Chế Lan Viên đã nêu lên được yêu cầu trong sáng tạo của nhà thơ. Con ong chính là nhà thơ, “hoa” là hiện thực đời sống và “giọt mật” kia là tác phẩm, là bài thơ. Sự tương phản và đồng nhất giữa “trăm hoa” – “một mật” đã cho thấy được sự lâu dài, gian khổ bởi chính thơ là kết tinh của hiện thực đời sống. Những “biến”, “thành”, “đòi” hay là những yêu cầu cấp thiết để nhà thơ có thể thâu lấy hiện thực kia mà thêu mà dệt, mà chiết lấy những gì tinh túy nhất. Với một loạt các không gian “non Đoài”, “xứ Bắc”, “đồng bằng”, “miền Tây”. Những vùng miền ấy đều là những địa danh đẹp và thơ của Tổ quốc. Hay chăng trong thơm ngát của đồng nội xanh rì, cần hút nhụy, hút mật ở những nụ hoa đẹp nhất, thơm nhất và đầy vị ngọt lành nhất. “Ong và mật” hay là người nghệ sĩ với tác phẩm của mình, với mỗi vần thơ mình viết, mình tạo thành, và rung lên điệu hồn của cuộc sống trong ngọt ngào, ý vị và dư ba.

Pau-tốp-xki đã từng nói: “Nhà văn là người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp”. Nhà văn ấy, hay nhà thơ ấy phải là người đi tìm những vẻ đẹp trong cuộc đời này để rồi viết lên trang thơ. Nhà thơ chính là người kết lại những ngụy hoa. Những bông hoa sẽ héo khô thôi nếu một ngày kia ong chẳng đến. Cuộc đời sẽ phủ lớp bụi thời gian nếu không có nhà thơ nhọc công tìm kiếm. Một chút nắng qua thềm, một chút gió thổi lá rinh rung, tất cả sẽ rơi và quên lãng nếu trang viết các nhà thơ không khiến nó đẹp vô ngần. Chế Lan Viên khẳng định nhà thơ phải là người gắn bó sâu sắc với thực tế đời sống, đưa đời sống chân thực vào trang thơ. Hay phải chăng cuộc sống chính là nơi nhà thơ cần đắm mình vào để có được cho mình bao mặn mòi của đời sống. Nguyễn Du xưa cũng đã phải gió bụi truân chuyên để làm nên được bao kiệt tác văn chương. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Du sẽ không trở thành đại thi hào nếu không có mười năm gió bụi. Phải chăng không có quãng thời gian nhập mình vào đời sống của dân nghèo lam lũ thì sao Nguyễn Du thấu hiểu hết mọi đắng cay, mọi cơ cực của đời sống:

“Lạnh sơ đã khổ vì không áo,Chày vải nhà ai chiều nện đưa

(“Đêm thu” – II)

Không thấu nổi cảnh đói rét đó thì sao có một “Sở kiến hành” đầy nhức nhối:

Có lẽ người đã nhìn thấy cảnh khổ này trong cảnh khổ của mình. Nguyễn Du đã từng bôn ba mười năm trên đất Bắc, mười năm gió bụi ấy, người đã nếm trải nên khi gặp ba mẹ con đói khổ thì tâm trạng chạm đến tim, tâm khóc và tim nhỏ máu. Mười năm để thấu hiểu cuộc sống đã đem đến những hiểu biết sâu sắc, làm tiền đề cho chân dung nhà đại thi hào dân tộc.

Hồ Xuân Hương – một trong ba nữ kiệt của thơ ca Việt nam, đã có nhiều tác phẩm viết cho những người phụ nữ bình dân. Trong khi: những nhân vật phụ nữ của văn học giai đoạn này, hầu như tất cả đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc. Nhưng có lẽ, vì sống gắn bó với cuộc sống bình dân, hiểu sâu sắc bản chất xã hội nên Xuân Hương trở thành người đầu tiên và duy nhất đưa vào văn học giai đoạn này không phải là cô gái quý tộc, mà đích thực là cô gái bình dân, bình dân từ cốt cánh đến hình hài:

(“Bánh trôi nước”)

Nhân vật bình dân, hình ảnh bình dân và đến cả ngôn ngữ cũng bình dân nốt. Nếu không có cái vốn văn học, dân gian kia thì sao có một Hồ Xuân Hương “dân gian” đến thế. Không sống, không gắn bó mật thiết thì sao có thể đưa vào thơ vào thơ văn những lời ăn tiếng nói dung dị, những hình ảnh nhân vật bình dị nhất? Những cô gái lực lưỡng, thắt đáy lưng ong, hếm thắm hoa hiên, tóc bỏ đuôi gà, cứ trở về trong trang thơ bà chúa Thơ Nôm như dấu ấn vàng tươi của cuộc sống một thuở!

Lưu Trọng Lư trong “Một vài cảm nghĩ về thơ” đã viết: “Thơ là cuộc sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống. Đã đành là ngồi trong phòng không thể nặn ra thơ được, nhưng vào cuộc song, vơ tất cả một bó đem về, cố nhiên đó cũng chưa phải là thơ. Sự sống phải được ủ thành men và bốc lên trong tâm hồn thi sĩ.” Nhà thơ cần đúc rút và chiêm nghiệm thật nhiều từ cuộc sống. Cần đẩy tâm trạng cảm xúc đến một độ điển hình nào đó thì mới có được thơ. Nhà thơ cần đi đến trăm mảnh đời, thu vào lăng kính người nghệ sĩ vạn cuộc sống để kết tinh, để đúc thành tác phẩm văn chương. Cái tâm sức của nhà thơ là “mỗi giọt mật thành đời vạn chuyến ong bay”. Nhà thơ cần sống sâu sắc với đời sóng mới mong có được những câu thơ sâu sắc. Chế Lan Viên đã từng viết về quá trình sáng tạo của nhà thơ:

Quá trình sáng tạo của nhà thơ chính là quá trình tim về với chân dung cuộc sống, là cái lắng tai nghe những nhịp đập của cuộc đời. Chẳng thế mà Xuân Diệu đã từng ca ngân:

Thế Lữ thoát lên trên. Lưu Trọng Lư trốn trong trường tình, Huy Cận trở về nỗi buồn cùng quá khứ, Xuân Diệu là chú ong mật chốn trần gian mê mải. Mê mải quá giữa ngàn thanh âm sắc điệu mời mọc, lả lơi. Xuân Diệu “đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”.

Đôi khi hiện thực chính là chất men say thôi thúc lòng nghệ sĩ thành thơ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc đã gieo vào lòng những người trực tiếp cầm sung, thật sự xông vào nơi bom đạn viết về mình và đồng động. Giữa lúc đó, Phạm Tiến Duật xuất hiện, đem đến cho nền thơ hiện đại Việt Nam một tiếng nói mới.

Về một phương diện nào đó, có thể nói, chính cuộc đời kháng chiến chống Mỹ và đường Trường Sơn đã sinh ra và nuôi dưỡng thơ Phạm Tiến Duật. Chính Phạm Tiến Duật trong lời tự bạch đã khẳng định: “Nếu không có cuộc sống với những con người đa dạng ồn ào bao quanh với xô bồ chi tiết trôi chảy từng phút, từng giờ, thì hình như tôi không có thơ”. Không khí dữ dội, ác liệt của chiến trường ùa vào những trang thơ nóng bỏng của Phạm Tiến Duật mà sau này những dòng thơ ấy khó trở lại như những nguồn cảm xúc lớn của một thời một đi không trở lại. Không chỉ ngồi để chờ hiện thực đến với mình, các nhà thơ cần tìm hiện thực, đi để lấy tư liệu cho trang viết:

“Nay cành nhãn non Đoài, mai vườn cam xứ BắcMật ngọt ở đồng bằng mà hút nhụy tận miền Tây”

Trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Hạ Long, Huy Cận có “Đoàn thuyền đánh cá”. Nguyễn Thành Long cũng có cho văn chương một “Lặng lẽ Sa Pa”. Khi Chế Lan Viên không có dịp đi lên Tây Bắc nhưng lại có những vần thơ tuyệt hay trong “Tiếng hát con tàu”:

Trong thơ ca cũng có hiện tượng lạ. Nguyễn Chẩn đi viết hay, Bạch Cư Dị không đi viết lại hay hơn. Bài thơ “Con tàu xay” của Ranban được viết khi tác giả chưa đi biển. Ở đây cũng vậy, lúc làm “Tiếng hát con tàu”, Chế Lan Viên chưa lên Tây Bắc. Phải chăng làm thơ “chính là nói, là viết về cái điều tỏa ra trước thực tế chứ không phải chỉ bằng bản thân thực tế: không có thực tế thì không có cái tỏa ra đó” (Chế Lan Viên). Nhà thơ không những phải gắn quá trình sáng tạo với thực tế mà còn là với trí tưởng tượng càng sâu, càng đượm, càng hay!

Thơ là kết tinh của chủ thể sáng tạo và hiện tượng đời sống, cũng như để có đường mật còn có hai điều kiện: sự cần cù của ong và trăm ngàn bông hoa. Hay để được bài thơ theo nghĩa đích thực thì cần cả tài năng của nhà thơ và hiện thực cuộc sống muôn màu. Viễn Phương cho rằng: “Muốn có thơ hay cần có thơ hay cần có tài năng, lòng nhân ái, cái tâm trong sáng. Ngoài ra cần phải cắm sâu vào cuộc sống và lao động nghệ thuật cần cù…”. Hình ảnh con ong chăm chỉ cần mẫn cũng là hình ảnh lao động nghệ thuật của các nhà thơ. Một bài thơ ra đời là tinh chất của bao chữ, bao nghĩa, bao nhọc nhọc tìm kiếm. Hiện thực đời sống sẽ không nên hương nên sắc nếu nhà thơ lao động sáng tạo bằng chính tài năng và tâm huyết của mình. Có tài năng, có tâm huyết và khổ hạnh “phu chữ” cùng với hiện thực phong phú của đời sống là hai yếu tố làm nên một tác phẩm thơ hay đi vào lòng người đọc.

Quan niệm trên của Chế Lan Viên như một tuyên ngôn nhằm điều chỉnh lại những cách hiểu phiến diện: hoặc là quá đề cao tài năng nhà thơ, hoặc là quá đề cao hiện thực đời sống. Trong lịch sử văn học Việt Nam, đã có sự đối lập một thời giữa hai trường phái: nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Một bên quá đề cao những gì thuộc về hình thức, tài năng, còn một bên quá coi trọng về hiện thực đời sống. Quan niệm trên của Chế Lan Viên đã dung hòa được điều đó. “Ong và mật” của Chế Lan Viên đã thực sự nói được mối quan hệ giữa nhà thơ và hiện thực đời sống, nó sâu sắc được quá trình sáng tạo của nhà thơ.

Lời nhận định của Chế Lan Viên đã mở ra hình ảnh công việc “hút mật” của người làm thơ. Mỗi nhà thơ là một chú ong chăm chỉ bay đến mọi vườn hoa trên khắp thế gian này, để mà hút nhụy, để mà làm hương, để nụ hoa này nối tiếp bông hoa kia, khoe sắc hương rực rỡ. Trăm đường ong bay rồi cũng tìm về với hoa, nhà thơ rồi cũng tìm về để sống, rồi ngụp lặn trong làn sữa mát của cuộc đời. Ý kiến của Chế Lan Viên khẳng định công việc đầy cao cả của mỗi nhà thơ: phát hiện ra trăm hoa trong vườn, rông rinh và tôn cao vẻ đẹp ấy lên cho vẻ đẹp ấy rực rỡ và tỏa sáng. Một chú ong mạt hay một nhà thơ đều yêu biết mấy cuộc sống yêu kiều này:

(Chế Lan Viên)

Bài thơ là kết tinh tuyệt diệu giữa “mùa” và “anh”, giữa hiện thực và vai trò của cảm hứng sáng tạo và trí tưởng tượng. Nhà thơ còn phải là người nâng được tâm hồn mình lên đến bậc nhất của những cung điệu trong một trí tưởng tượng khôn cùng. Bài thơ được chấm mực cuộc đời để viết nên bằng trải nghiệm của cả một đời thơ. Nhưng cảm hứng phải được bắt đầu từ hiện thực cuộc sống. Tâm hồn nhà thơ cần được rộng mở để đón gió bốn phương:

Mở rộng để đón mọi vang động của trần gian đập vào trái tim, thương cảm để mà đồng cảm. Nhận định của Chế Lan Viên không chỉ đúng với các nhà thơ mà còn rộng ra là cả với nhà văn, cả những người nghệ sĩ. Nghệ thuật là “để cho cái đẹp của trái đất, lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, niềm vui và tự do, cái cao rộng của tâm hồn người và sức mạnh của tri thức chiến thắng bóng tối như một mặt trời không bao giờ tắt” (C. Pauxtopxki). Chức năng của văn nghệ là nâng con người lên. Thơ ca chính là cách con người vượt lên chính mình (Ý của Bết-sơ). “Ong và mật” không chỉ là nhà thơ và tác phẩm thơ mà còn là nhà văn, nghệ sĩ với tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật ngôn từ. Cần tinh triết đến cô đọng, đến hàm súc để mỗi giọt mật là mỗi bụi quý mà người nghệ sĩ cóp nhặt, đãi cát tìm vàng để tạo nên cho đời này một “bông hồng vàng” vô giá của nghệ thuật. Những “bông hồng vàng” do muôn triệu con ong miệt mài hút ngụy làm hương cho đời!

Thơ ca, nghệ thuật là bao tế vi của cuộc sống góp tạo nên. Sự vi diệu của cuộc sống đã góp phần tạo nên vẻ đẹp vĩnh cửu của văn chương. Chế Lan Viên đã thay mặt cho bao nhiêu nghệ sĩ khác nói lên mối quan hệ giữa nhà thơ và đời sống, mà rộng ra là giữa nhà văn và tác phẩm nghệ thuật cùng quá trình sáng tạo đầy khổ nhọc và gian lao. Con ong kia cứ miệt mài đưa sắc cho đời, không như lũ bướm kia chỉ đem lại bao “sao ngữ”. Nghệ thuật được lên hương lên sắc, dậy ý dậy tình trong sâu thẳm mỗi tâm hồn con người. Cái đèo bòng vất vả ấy của nghệ sĩ khiến ta trân trọng thêm mỗi tác phẩm của họ, trân trọng thêm mỗi con đường đến với nghệ thuật chân chính. Yêu cuộc sống này bao nhiêu lại yêu bài ca về cuộc sống bấy nhiêu. Sâu sắc với mỗi tác phẩm bao nhiêu, lại để biết rằng: trăm đường ong bay mở ra trăm vùng núi non sông và đôi lần thấy cuộc sống đáng để chờ đợi biết bao!

Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích

2. Từ trong các cụm từ truyện dân gian, truyện cổ dân gian, truyện cổ tích với từtrong những danh từ được dùng để chỉ một số thể loại của văn chương viết như: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài v.v.. có chung nguồn gốc. Từ điển Hán – Việt của Thiều Chửu cho biết: trong tiếng Hán, chữ có ba cách đọc và ý nghĩa khác nhau như sau: 1) đọc truyền có nghĩa đem của người này mà trao cho kẻ kia như truyền vị – truyền ngôi, truyền đạo. Truyền còn có nghĩa sai người bảo như truyền kiến – truyền cho vào yết kiến; 2) đọc truyện vừa có nghĩa dạy bảo như Xuân thu Tả thị truyện – họ Tả giải nghĩa kinh Xuân thu để dạy bảo người, vừa có nghĩa là truyện kí như Liệt nữ truyện – truyện các gái hiền; 3) đọc truyến có nghĩa nhà trạm, nhà để đưa kẻ đi, đón kẻ lại cũng gọi là truyến [4, tr.30]. Từ truyện trong tiếng Pháp là conte, tiếng Anh là tale, story.

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, truyện là danh từ có hai nét nghĩa: 1) tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn biến của sự kiện thông qua lời kể chuyện cuả nhà văn; 2) (thường dùng đi đôi với kinh), sách giải thích kinh nghĩa do các nhà triết học của Trung Quốc thời cổ viết [8, tr.1018]. Từ điển tiếng Việt của Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm cũng cho rằng từ truyện có 2 nét nghĩa và giải thích: 1) việc có lớp lang, sự tích hoặc tưởng tượng được kể lại: truyện cổ tích; 2) sách về Nho giáo: Tứ truyện [9, tr.1414]. Từ điển Việt – Hán của Lâm Hoà Chiếm, Lý Thị Xuân Các và Xuân Huy viết truyện là tác phẩm văn học miêu tả tính cách nhân vật và diễn biến của sự kiện, sự việc [3, tr.973].

Trong Từ điển văn học, Nguyễn Xuân viết: Truyện thuộc loại tự sự – có hai phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp nghệ thuật chính là kể. Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng. Tuỳ theo nội dung phản ánh, dung lượng, chủ thể sáng tác cụ thể mà truyện được chia thành nhiều loại: truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (cũng gọi là tiểu thuyết), truyện nôm, truyện nôm khuyết danh [7, tr.450].

Như vậy, cách giải thích ý nghĩa từ truyện của các cuốn từ điển là tương đối thống nhất. Nếu có điểm khác nhau thì hoàn toàn không phải là nhằm loại trừ nhau mà đó là sự bổ sung lẫn nhau để giải thích một cách đầy đủ ý nghĩa của từ truyện. Cần thấy rằng, khi truyện trở thành một thuật ngữ văn học thì nó được sử dụng với ý nghĩa khá phong phú, đa dạng và phức tạp. Riêng lĩnh vực văn chương viết, theo Lại Nguyên Ân, truyện là tác phẩm tự sự. Hàm nghĩa của thuật ngữ này khác nhau trong văn học trung đại và hiện đại.

Ở văn học trung đại Việt , ” truyện“ là một thuật ngữ mà văn học mượn từ sử học (” truyện“ là thể loại trước thuật của sử gia, chép tiểu sử, hành trạng, công tích của các nhân vật lịch sử). Tác phẩm thể truyện có thể được viết bằng thơ (ví dụ truyện thơ nôm) hoặc văn xuôi (ví dụ loại truyện truyền kì, truyện chương hồi viết bằng chữ Hán).

Ở văn học hiện đại, ” truyện“ là khái niệm không thật xác định. Một mặt nó vẫn được dùng để chỉ mọi loại tác phẩm tự sự có cốt truyện nói chung (bao gồm cả truyện kí, tiểu thuyết), mặt khác lại có lối dùng nó như thuật ngữ chỉ dung lượng tác phẩm tự sự (” truyện dài“, ” truyện vừa“, ” truyện ngắn“).

Khái niệm ” truyện“ thường lẫn lộn phức tạp với khái niệm ” tiểu thuyết“. Trong thực chất thể loại, có tác phẩm ” truyện“ là tiểu thuyết và ngược lại. Tuy vậy, ở văn học hiện đại, các nguyên lí của tiểu thuyết chi phối hầu hết các thể loại nên sự phân biệt bản chất thể loại ở tác phẩm cụ thể là không dễ. Có thể nói phạm vi ” truyện“ rộng hơn phạm vi ” tiểu thuyết“. Ở truyện còn giữ lại nhiều hình thức thể loại khác nhau, đặc biệt là giữ lại những nét thuộc sử thi ” tiền tiểu thuyết“. Ví dụ loại truyện mang tính tiểu sử về nhân vật có thực, dù được ” tiểu thuyết hoá“ ở mức nhất định; vì nó thiên hẳn về việc kể lại một cuộc đời theo các mốc niên biểu. Loại truyện kể lại các sự kiện (chiến đấu, sản xuất…) cũng vậy. Sự phát triển và thể hiện hàm nghĩa nghệ thuật của tác phẩm không thực hiện ở vận động cốt truyện. ở truyện, bản thân việc mở rộng cái thế giới mà nhân vật đi vào, theo dòng chảy của một cuộc đời, hoặc sự thay đổi các ấn tượng về những cảnh và người mà nhân vật xúc tiếp – đã là mục đích của trần thuật, của sự thể hiện nghệ thuật. ở truyện, ” chất giọng“ của tác giả (hoặc nhân vật kể chuyện) có vai trò lớn [1, tr.349 -350].

Ở nước ta, từ xưa, trong dân gian chưa có các từ và cụm từ: truyện, truyện cổ dân gian và truyện cổ tích. Người bình dân không quen nói truyện mà thường nói chuyện (chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh, Lý Thông, chuyện Nàng út v.v.); không quen nói truyện cổ tích mà thường nói chuyện đời xưa; không nói truyện cổ dân gian mà chỉ nói chuyện đời xưa. Khi bàn về sự xuất hiện hai thuật ngữ ca dao và dân ca, Nguyễn Xuân Kính cho rằng: Hiện nay, đối với giới nghiên cứu, ca dao và dân ca là những thuật ngữ quen thuộc. Trước kia, trong dân gian, những từ đó chưa có. Để chỉ các hoạt động văn nghệ dân gian, người bình dân sử dụng những từ khác. Đó là các động từ ca, hò, ví, hát, lí, ngâm, kể. Căn cứ vào những tài liệu hiện có, chúng ta biết rằng từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện các công trình sưu tầm, biên soạn ca dao của nhà Nho, hai tên gọi phong dao, ca dao cũng chính thức ra đời. So với thuật ngữ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn. Phải đến những năm 50 của thế kỉ XX, thuật ngữ này mới chính thức được sử dụng với sự xuất hiện của cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam(Vũ Ngọc Phan) [6, tr.72 – 78]. Quá trình xuất hiện các thuật ngữ truyện, truyện cổ dân gian, truyện cổ tích giống với quá trình xuất hiện hai thuật ngữ ca dao và dân ca.

Một trong những đặc điểm lớn nhất trong trước tác của nhà Nho thời phong kiến là hiện tượng văn sử bất phân. Trong sách vở của họ, tính chất sử học và tính chất văn học nhiều khi không được phân biệt một cách rạch ròi. Cho dù vậy, khi phân loại trước tác của nhà Nho, một tác phẩm cụ thể bao giờ cũng thuộc về một loại nhất định. Giả sử, ở một khía cạnh nào đó, các cuốn sách: Báo cực truyện, Việt điện u linh, Lĩnh chích quái có tính chất lịch sử, nhưng không vì thế mà xếp chúng vào phạm vi công trình lịch sử. Các cuốn sách ấy thuộc và chỉ thuộc về lĩnh vực sách văn học. Tương tự như vậy, cho dù Đại Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tính chất văn học biểu hiện khá rõ, nhưng chưa thấy ai gọi đây là hai tác phẩm văn học hay hai công trình nghiên cứu văn học bao giờ! Từ trước đến nay, người ta chỉ xếp chúng vào lĩnh vực công trình lịch sử. Từ đó, ta có thể nói rằng, từ truyện với tính chất là một thuật ngữ văn học đã được sử dụng trong sách vở của nhà Nho khoảng từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII mà Báo cực truyện – một cuốn sách thuộc lĩnh vực văn học là minh chứng cụ thể. Và từ truyện trong sách vở của nhà Nho tương đương với chữ chuyện trong dân gian.

3. Tiếp sau quá trình từ truyện trở thành một thuật ngữ văn học là sự ra đời thuật ngữ truyện cổ dân gian. Quá trình ra đời của thuật ngữ này gồm hai bước: bước thứ nhất là sự xuất hiện các danh từ truyện cổ tích và truyện cổ. Theo Chu Xuân Diên, một cuốn sách chữ Nôm in tại Hà Nội năm 1871 có tên là Ngọc Hoa cổ tích truyện. Như vậy, danh từ truyện cổ tích được dùng ở Việt có lẽ muộn nhất cũng là từ thế kỉ XIX [5, tr.231]. Ngoài ra, các danh từ truyện cổ, truyện cổ tích còn được nhận diện tương đối rõ nét khi các công trình sưu tầm chuyện đời xưa, chủ yếu là của tầng lớp trí thức Tây học và các học giả phương Tây xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như Chuyện giải buồn (1885) của Huỳnh Tịnh Của, Chuyện đời xưa (1886) củaTrương Vĩnh Ký; Contes et legendes annamites (1886) của Landes, Bàn về truyện cổ An Nam ta (1921) của Đỗ Hào Đình; Truyện cổ tích, I (1928) của Lưu Văn Thuận; Đông Tây ngụ ngôn (1927), Truyện cổ nước Nam (1932 -1934) của Nguyễn Văn Ngọc; Chuyện đời xưa (1930) của Phạm Văn Thỉnhv.v; bước thứ hai, trên cơ sở mở rộng ý nghĩa của khái niệm truyện cổ tích hay làm rõ nghĩa hơn nữa khái niệm truyện cổ, thuật ngữ truyện cổ dân gian ra đời. Bước thứ hai của quá trình ra đời thuật ngữ truyện cổ dân gian nếu được hoàn thiện, có sớm, thì cũng phải từ những năm 50 của thế kỉ XX trở về sau, khi khái niệm văn học dân gian xuất hiện. Và khái niệm truyện cổ dân gian trong sách vở của giới nghiên cứu văn học dân gian tương đương với cụm từ chuyện đời xưa trong dân gian, tương đương với các danh từ conte populaire (tiếng Pháp), folktale (tiếng Anh).

Trong các công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian ở nước ta, nhiều khi các khái niệm truyện cổ, truyện dân gian, truyện cổ dân gian và truyện cổ tích được hiểu và sử dụng hoàn toàn như nhau. Thực ra, bốn khái niệm này không hoàn toàn giống nhau.

Theo nghĩa thông thường, truyện cổ là nói tắt của cách nói đầy đủ truyện cổ dân gian. Truyện cổ dân gian là một khái niệm có ý nghĩa khái quát, nó bao gồm hết thảy các loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các thời đại [2, tr.39]. Truyện dân gian và truyện cổ dân gian giống nhau nhưng không đồng nhất, giữa chúng vẫn có nét khác nhau và chính nét khác nhau ấy đã xác định ý nghĩa rộng, hẹp của hai khái niệm. Nếu nói một cách đầy đủ thì khái niệm truyện dân gian là truyện kể dân gian, nó bao quát tất cả truyện dân gian của đời xưa và mới sáng tác ở đời nay, trong khi đó, khái niệm truyện cổ dân gian chỉ bao quát ở giới hạn những truyện dân gian đã được sáng tác từ đời xưa.

4. Như vậy, chỗ khác nhau giữa hai khái niệm truyện cổ tích và truyện cổ dân gian đã rõ. Truyện cổ dân gian là khái niệm được dùng để chỉ một bộ phận của văn học dân gian, bộ phận này gồm nhiều thể loại, trong đó có thể loại truyện cổ tích. Truyện cổ tích là khái niệm được dùng với hai ý nghĩa chủ yếu: 1) (cũng) để chỉ một bộ phận của văn học dân gian, trong trường hợp này, khái niệm truyện cổ tích tương đương với khái niệm truyện cổ dân gian; 2) để chỉ truyện cổ tích – một thể loại của bộ phận truyện cổ dân gian trong văn học dân gian. Để tránh lẫn lộn như đã từng xảy ra, ta chỉ nên sử dụng khái niệm truyện cổ tích trong trường hợp để chỉ riêng thể loại truyện cổ tích mà thôi.

Tài liệu tham khảo

1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

2. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

3. Lâm Hoà Chiêm – Lý Thị Xuân Các – Xuân Huy (1997), Từ điển Việt – Hán, Nxb. Trẻ TP. Hồ Chí Minh.

4. Thiều Chửu (2005), Hán – Việt từ điển, Nxb. Văn hoá – Thông tin, Hà Nội.

5. Chu Xuân Diên (2001), Văn hoá dân gian, mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

6. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

7. Nhiều tác giả (1984), Từ điển văn học, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

8.Hoàng Phê chủ biên (1994), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học – Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

9. Minh Tân – Thanh Nghi – Xuân Lãm (1999), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Thanh Hoá.

Nguồn: chúng tôi 12/12/2006

Bạn đang đọc nội dung bài viết Truyện Cổ Tích Hay Rủ Nhau Đi Kiếm Mật Ong trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!