Đề Xuất 2/2023 # Truyện An Dương Vương Và Mị Châu # Top 4 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Truyện An Dương Vương Và Mị Châu # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Truyện An Dương Vương Và Mị Châu mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

[alert style=”danger”]

Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là bài học cảnh giác đối với kẻ thù, đồng thời giải thích nguyên nhân của việc mất nước Âu Lạc trong lịch sử.

[/alert]

[/alert]

Ngày xưa ở nước ta có một ông vua tên là An Dương Vương xây một cái thành. Thành dày hơn nghìn trượng, hình tròn xoáy ốc, gọi là Loa thành. Nhân dân tốn bao nhiêu công phu xây đắp tường dày, nền vững, nhưng cứ gần xong là thành bị lật đổ ngả nghiêng, đất đá tứ tung bùn lầy bừa bãi, nhà vua lấy làm buồn bã.

Một hôm, An Dương Vương ngồi chơi trên bờ sông, bỗng thấy mặt sông nổi sóng. Một con rùa vàng to lớn hiện lên, vái nhà vua mà nói:

– Ta là thần Kim Quy, sứ giả dưới sông đây! Ta sẽ giúp nhà vua diệt trừ yêu quái, tự khắc thành sẽ đắp xong.

Quả nhiên, ba tháng sau, Loa thành xây xong.

Thần Kim Quy cho An Dương Vương một cái móng chân để làm lẫy nỏ và dặn cẩn thận”

– Lẫy nỏ này có phép lạ. Một phát có thể giết chết hàng nghìn người. Nhà vua phải hết sức giữ bí mật.

Nói xong, thần Kim Quy từ tạ xuống sông.

An Dương Vương mừng lắm. Con gái Mị Châu trông thấy liền hỏi. Nhà vua chiều con, nói cả cho con nghe.

Bấy giờ, Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải. Mấy lần Đà đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng thất bại vì An Dương Vương có nỏ thần. Chỉ ba phát tên của vua Âu Lạc đã tiêu diệt hết hàng vạn quân. Triệu Đà đành xin giảng hòa.

Đà dò xét, biết vua có con gái là Mị Châu, bèn hỏi cho con trai mình là Trọng Thủy. An Dương Vương bằng lòng. Đà xin để cho con ở rể. Đó là âm mưu của họ Triệu sai con đánh cắp nỏ thần.

Một đêm trăng sao vằng vặc, Mị Châu cùng Trọng Thủy ngồi trên phiến đá trắng giữa vườn, cùng nhau trò truyện. Trọng Thủy hỏi vợ rằng:

– Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được?

Mị Châu đáp:

– Có bí quyết gì đâu chàng! Âu Lạc đã có thành cao, lại có chiếc nỏ thần, như thế còn ai đánh nổi!

Trọng Thủy tỏ vẻ ngạc nhiên, vờ như mới nghe nói nỏ thần lần này là lần đầu và đòi xem chiếc nỏ. Mị Châu không ngần ngại, chạy ngay vào chỗ cha nằm, lấy nỏ đem ra cho chồng xem. Nàng lại chỉ cho chồng biết cái lẫy của Kim Quy và giảng cho Trọng Thủy rõ cách bắn.

Sau đó, Trọng Thủy về thuật lại cho Triệu Đà biết về chiếc nỏ thần. Đà sai làm một chiếc nỏ giả giống hệt như nỏ thần. Trọng Thủy giắt vào trong áo rồi lại trở về Âu Lạc. Trong một bữa tiệc, thừa cơ An Dương Vương mà Mị Châu say rượu, Trọng Thủy vào buồng đánh cắp nỏ thần, thay nỏ giả vào chỗ nỏ thần.

Sáng hôm sau, Trọng Thủy lại từ biệt Mị Châu. Trọng Thủy nói:

– Ta sắp phải đi xa. Đôi ta phải chia ly ít bữa. Ở nhà, ngộ có giặc giã, ta biết làm thế nào thế nào tìm được nàng?

Mị Châu rầu rĩ đáp:

– Thiếp có cái áo lông ngỗng. Hễ thiếp chạy về đâu, thiếp sẽ rút lông ngỗng rắc dọc đường, chàng theo đó mà tìm.

Triệu Đà đem quan đánh An Dương Vương. Nhà vua cậy có nỏ thần không đề phòng gì cả. Mãi khi quân giặc đến sát chân thành, An Dương Vương mới sa đem nỏ thần ra bắn, nhưng không trúng như mọi lần nữa. Nhà vua bèn cùng Mị Châu lên ngựa chạy trốn.

Đến núi Mộ Dạ (nay thuộc Diễn Châu, Nghệ An) gần bờ biển, bỗng thần Kim Quy hiện lên và bảo:

– Giặc ngồi sau lưng mà nhà vua không biết!

An Dương Vương nổi giận, rút gươm chém Mị Châu, rồi nhảy xuống biển tự tử.

Quân Nam Hải chiếm được thành Cổ Loa. Trọng Thủy lần theo dấu lông ngỗng tìm thấy xác vợ. Trọng Thủy khóc òa lên, nhặt xác vợ đem chôn và nhảu xuống giếng tự tử.

Ngày nay, ở làng Cổ Loa có đền thờ An Dương Vương. Tục truyền khi Mị Châu chết, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn phải nên mới có ngọc trân châu. Lấy nước giếng trong thành Cổ Loa rửa ngọc thì ngọc sáng vô cùng.

Truyện truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy Nguồn: Chuyện nỏ thần, trang 53, SGK tập đọc lớp 3, NXB Giáo dục – 1958

[alert style=”danger”]

[alert style=”danger”]

[/alert]

An Dương Vương Thục Phán là ai?

Theo các nguồn tư liệu thư tịch cổ của ta và của Trung Quốc phù hợp với những truyền thuyết dân gian phổ biến cho phép ghi nhận An Dương Vương Thục Phán là một nhân vật lịch sử có thật.

Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để, đó là nguồn gốc lịch sử về An Dương Vương và sự thành lập nước Âu Lạc.

Những tài liệu xưa nhất trong thư tịch cổ của Trung Quốc như Giao Châu ngoại vực ký, Quảng Châu ký… đều chép, An Dương Vương là “con vua Thục” (Thục Vương Tử), nhưng không cho biết rõ nguồn gốc xuất xứ của vua Thục, vị trí của nước Thục và cả tên của An Dương Vương.

Theo Việt Nam sử lược dựa vào Việt sử thông giám cương mục, cho rằng An Dương Vương Thục Phán “không phải nhà Thục bên Tàu”. Ngô Tất Tố thì phân tích sâu hơn các luận cứ, khẳng định “Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục”.

Vào những năm 50, thuyết cổ truyền về nguồn gốc Ba Thục của An Dương Vương vẫn được nhiều nhà sử học bảo vệ, nhưng với những cách giải thích mới.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, sau khi nước Thục bị quân Tần diệt, con cháu vua Thục từ đất Ba Thục tiến xuống phía nam ẩn náu, rồi dần dà vào đất Việt, lập nên nước Âu Lạc với triều Thục An Dương Vương, tồn tại khoảng 5 năm từ 210 đến năm 206 tr.CN.

Một số nghiên cứu khác cho biết Thục Phán có thể là con hay cháu xa của nhà Thục ở Ba Thục, sau khi đất nước bị diệt, đã cùng với tộc thuộc, chạy xuống vùng Điền Trị, rồi theo sông Hồng vào đất Lạc Việt, chiếm vùng Tây Vu ở phía Tây bắc trung du Bắc Bộ ngày nay. Sau khi lãnh đạo người Lạc Việt và Tây Âu kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán gồm chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương lập ra nước Âu Lạc vào khoảng năm 208 tr.CN.

Cũng có nhà nghiên cứu căn cứ vào tình hình phân bố cư dân vùng Tây Nam Di, phỏng đoán rằng, Thục Vương trong các thư tịch cổ không phải vua nước Thục ở Ba Thục, mà là tù trưởng của bộ lạc Khương di cư từ đất Thục xuống phía nam và tự xưng là Thục Vương. Bộ lạc Thục đó đi xuống vùng Quảng Tây và đông bắc Bắc Bộ, cộng cư và đồng hóa với người Tây Âu ở vùng này (nước Âu Lạc khi đó bao gồm hai thành phần cư dân: Lạc Việt và Tây Âu).

Đa số các học giả đều cho rằng, Thục Phán là người nước ngoài, xâm lược nước Văn Lang. Nhưng trong ký ức và tình cảm lâu đời của nhân dân ta được phản ánh trong các thần tích, ngọc phả, trong các nghi thức thờ cúng, diễn xướng dân gian… thì An Dương Vương Thục Phán hoàn toàn không phải là kẻ thù, mà là một người có công dựng nước và giữ nước, một anh hùng được tôn kính. Nếu 10 tháng 3 (âm lịch) là ngày giỗ tổ Hùng Vương thì ngày 6 tháng 1 (Âm lịch) cũng là một ngày hội lớn ở đền Vua Thục tại Cổ Loa:

“Chết thì bỏ con bỏ cháu, Sống thì không bỏ mồng sáu tháng Giêng”.

An Dương Vương đặt quốc hiệu nước ta là gì?

Hiện nay, có rất nhiều bạn nhầm lẫn lịch sử, hay hỏi An Dương Vương là vua Hùng thứ mấy. Lịch sử Việt Nam trải qua 18 đời vua Hùng. An Dương Vương đã mang quân đánh chiếm nhà nước Văn Lang của Hùng Duệ vương và lập ra nhà nước Âu Lạc. Nhưng vì nhà nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn, cho nên đời Hùng Vương – An Dương Vương hay được nhắc đến cùng nhau.

Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy kể trên chỉ là câu truyện lý giải nguyên nhân An Dương Vương thất bại. Thực tế do Triệu Đà đã biết sử dụng mưu kế, lấy binh lực uy hiếp biên cảnh, lấy của cải đút lót, khiến Mân Việt và Tây Âu Lạc thần phục, đồng thời gây bất hòa, chia rẽ trong nội bộ vua tôi triều Thục. Nhiều tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán…bị bạc đãi, bị giết hại hay phải bỏ đi.

Có một số tài liệu còn cho rằng, nhân vì tổ phụ ngày trước cầu hôn lấy Mị Nương là con gái Hùng Vương nhưng không được gả nên mang oán. Sau này Thục Phán mới cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang. Truyền thuyết Việt Nam kể rằng, Mị Nương được vua Hùng gả cho thần núi Tản Viên Sơn Tinh. Tham khảo truyện truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh để hiểu rõ hơn.

Nước Âu Lạc chỉ tồn tại được trong thời gian rất ngắn, sau bị Triệu Đà chinh phục. Triệu Đà sáp nhập đất đai Âu Lạc vào phạm vi quốc gia Nam Việt của mình và quy thuận nhà Tần, mở ra thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hàng nghìn năm, đúng như nhà sử học Ngô Thì Sĩ nhận xét: “Nước ta bị nội thuộc Trung Hoa từ Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chính là Triệu Đà”.

Thành Cổ Loa – Di tích lịch sử trong truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ

Sau khi thành lập nước Âu Lạc, An Dương Vương đã chọn Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) làm kinh đô và xây dựng ở đó một tòa thành lớn. Đấy là thành Cổ Loa, trung tâm của nước Âu Lạc đời An Dương Vương.

Cổ Loa nằm ở vùng đồng bằng giáp trung du của lưu vực sông Hồng, trên bờ bắc Hoàng Giang. Ngày nay, Hoàng Giang chỉ là một đoạn sông đã bị bồi lấp và được cải tạo thành một kênh thủy nông. Nhưng theo các tài liệu địa lý học lịch sử thì xưa kia, Hoàng Giang là một con sông lớn nối liền sông Hồng với sông Cầu ở Quả Cảm – Thổ Hà. Trên bản đồ và thực địa, dấu vết của dòng sông cũ còn rõ nét với những đoạn gọi là sông Thiếp hay Ngũ Huyện Khê ( chảy qua 5 huyện: Yên Lãng, Kim Anh, Đông Ngân, Yên Phong, Tiên Du).

Thành Cổ Loa hiện nay còn giữ được một quần thể di tích lịch sử văn hoá lâu đời gồm đền thờ An Dương Vương, am thờ công chúa Mị Châu và giếng Ngọc (tương truyền đó là nơi Trọng Thuỷ tự vẫn sau cái chết của Mị Châu). Bao quanh cụm đền, am là từng đoạn của vòng thành cổ chạy dài trên cánh đồng – dấu vết còn lại của thành Cổ Loa chín vòng do An Dương Vương xây nên.

Phân Tích Truyện An Dương Vương Và Mị Châu

[Văn mẫu học trò] Phân tích Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Dàn ý chi tiết 1. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về đặc trưng truyền thuyết dân gian.

– Giới thiệu về xuất sứ, khái quát nội dung truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu

2. Thân bài: * Diễn biến câu chuyện 2.1. Công cuộc xây thành chế nỏ của Vua An Dương Vương.

– Xây thành rất khó cứ hễ xây thành lên cao quá đầu người, thì chỉ trong một đêm tự nhiên đổ sụp.

– Vua lập đàn rồi tự mình trai giới cầu cúng. Sau đó đã có thần Kim Quy xuất hiện giúp đỡ và tặng vuốt làm nỏ thần.

2.2. Bi kịch cơ đồ đắm biển sâu và bài học nâng cao cảnh giác chống giặc ngoại xâm.

a) Sự mất cảnh giác và sai lầm của An Dương Vương.

– Triệu Đà mượn cớ giảng hòa cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy

– Bị đánh cắp nỏ thần mà không hề hay biết cũng chính sự thiếu cảnh giác chủ quan của Vua An Dương Vương.

– An Dương Vương còn là sự ỷ lại vào nỏ thần không chuẩn bị nghênh địch mà lại thản nhiên đánh cờ đến khi biết mất nỏ thần mà địch ngay trước mắt mới vội vã mang con gái lên ngựa bỏ chạy.

b) Bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

– Bi kịch của mối tình éo le này mị Châu đã rắc lông ngống để Trọng Thủy tìm được mình nhưnh không ngờ đã chuốc lấy cái chết bằng nhát chém của cha cho chính mình.

– Trọng Thủy cũng thật đáng thương mất Mị Châu chàng như ngây dại và lao đầu xuống giếng mà chết .

2.3. Bài học rút ra từ câu chuyện.

– Không nên chủ quan mất cảnh giác mà khinh thường địch.

– Không ỷ lại vào sức mạnh của vũ khí

– Lấy tinh thần dân tộc làm chỗ dựa

– Rõ rành giữa ranh giới của các mối quan hệ.

3. Kết bài

– Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” đã đẻ lại cho người đọc về bài học dựng nước, không nên chủ quan mất cảnh giác mà khinh thường địch.

– Yếu tố kì ảo làm nên thành công lớn cho tác phẩm.

Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” trích từ “Truyện Rùa Vàng” trong ” Lĩnh Nam chích quái” kể về Vua An Dương Vương xây thành nhưng nhiều lần bị đổ, nhờ có thần Kim Quy mà dựng được Loa thành và được tặng cho chiếc vuốt làm lẫy nỏ . Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà xâm lược. Nhưng vì sự chủ quan khinh thường địch vua đã khiến cơ đồ đắm biển sâu.

Yếu tố kì ảo xuấ hiện khi Thần Kim Quy tặng một cái vuốt và cua An dương Vương đã tạo ra một chiếc nỏ nhờ cái vuốt ấy. Chi tiết kì ảo được hiểu là những điều không có thực, nó được xây dựng để tăng lên sự biểu đạt mà tác phẩm muốn thể hiện, nó hư cấu và được tạo nên để củng cố niềm tin cho con người. Nỏ thần chính là tượng trưng cho niềm tin sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể vượt xa cái tầm thường, tiêu diệt tất cả bè lũ xâm lược.

Triều Đà cậy có đất rộng, dân đông, lại thiện chiến, mấy lần kéo quân sang đánh, nhưng mỗi lần vượt cõi là một lần chuốc lấy thất bại. Bên này An Dương Vương sai đem nỏ thần ra bắn. Mỗi phát bắn ra, tên bay rào rào, quân Nam-việt chết như rạ. Tuy nhiều lần thất bại thảm hại, Triệu Đà vẫn nuôi âm mưu xâm chiếm nước Âu Lạc. Vì vậy, Triệu Đà mượn cớ giảng hòa, cho sứ giả sang cầu hôn Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thủy. Mục đích đích của hắn không phải là thắt chặt tình giao hiếu giữa hai nước mà để dò xét tình hình Au-lạc. Bằng sự ngây thơ và thật thà Trọng Thủy đã lừa Mị Châu – con gái Vua An dương Vương để lấy nỏ thần. Bị đánh cắp nỏ thần mà không hề hay biết cũng chính sự thiếu cảnh giác chủ quan của Vua An Dương Vương. An Dương Vương còn là sự ỷ lại vào nỏ thần mà quên mất sức mạnh dân tộc không chuẩn bị nghênh địch mà lại thản nhiên đánh cờ đến khi biết mất nỏ thần mà địch ngay trước mắt mới vội vã mang con gái lên ngựa bỏ chạy. Đây cũng chính là bài học răn dạy dân tộc ta không nên khinh địch và mất cảnh giác ,bất cứ lúc nào đất nước cũng có thể rơi vào tay địch.

Nạn nhân của chiến tranh chính là Mị Châu – Trọng Thủy. Bi kịch của mối tình éo le này mị Châu đã rắc lông ngống để Trọng Thủy tìm được mình nhưnh không ngờ đã chuốc lấy cái chết bằng nhát chém của cha cho chính mình. Nàng đáng trách là khi không nhận ra ẩn ý rõ ràng trong lời nói ly biệt của Trọng thủy mà chỉ đợi ngày đoàn viên, giặc đuổi giết nhưng vẫn rải lông ngỗng. Đặt tình yêu lên trên vận mệnh quốc gia, Mị Châu vô cùng đáng phê phán. Nhưng Trọng Thủy cũng thật đáng thương mất Mị Châu chàng như ngây dại và lao đầu xuống giếng mà chết .Tiếng thét “Người ở sau lưng nhà vua chính là giặc đó!” chính là sự giác ngộ thức tỉnh nhà vua. Một lần nữa tinh thần rằng cần phải nâng cao mạnh mẽ được sức mạnh và giá trị to lớn để bảo vệ nền độc lập cho nhân dân.

Cái nhìn nhân hậu của nhân dân chính là lòng bao dung, thương cảm cho tình yêu lứa đôi đối mặt với những âm mưu và tương truyền máu Mỵ Châu chảy xuống nước, những con trai con hến ăn vào đều hóa thành ngọc.

Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” đã đẻ lại cho người đọc về bài học dựng nước, không nên chủ quan mất cảnh giác mà khinh thường địch. Yếu tố kì ảo được xây dựng nên nhằm gia tăng lên giá trị của tác phẩm và nhiều ý nghĩa của nó được biểu hiện một cách mạnh mẽ có nhiều giá trị nhất làm cho truyền thuyết trở nên đặc sắc mà hiếm có câu truyện nào được như vậy.

Bùi Thị Chung

Thơ Về Cổ Loa, An Dương Vương Và Mỵ Châu

Thơ về Cổ Loa, An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy

Bạn đã đọc bài trước phân tích về Truyền thuyết An Dương Vương và mối tình oan trái Mỵ Châu -Trọng Thủy. Vậy xin mời bạn thưởng thức một số áng văn thơ đề cập đến truyền thuyết này do Phan Duy Kha sưu tầm và giới thiệu.

*

THƠ CHỮ HÁN Vũ Phạm Hàm

Lân bảng phi thân tế bất sàn

Quân vương dung dị ngộ hồng nhan

Tồn vong mịnh hệ Linh quang nỗ

Sinh tử hồn y Mộ Dạ sơn

Nam hải yên đào châu tích lệ

Bắc lâm phong vũ thạnh thành ban

Chí kim từ vũ lân nguyên miếu

Nguyệt xuất do văn hưởng bội hoàn.

Người thân thích ít, rể khôn lường

Lầm lỡ má hồng bởi phụ vương

Sống chết hồn nương đồi Mộ Dạ

Mất còn mệnh hệ nỏ Linh quang

Bể Nam khói sóng châu hoen lệ

Rừng Bắc phong sương đá lổ loang

Đền miếu tới nay bên điện cũ

Trăng lên khánh ngọc vẫn còn vang.

Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch

*

Lê Huy Phan

Vận tiếp Hồng Bàng thái cổ thiên

Dư đồ vạn lý Thục sơn xuyên

Loa thành nhân hiểm nan di đỉnh

Quy nỗ thần cơ bất cập tiên

Giao cách sự phi do nữ tế

Hưng vong số hữu định thần tiên

Linh phong mỹ tích kim trường tại

Sử luận hoang đường khủng vị nhiên.

Kế tiếp Hồng Bàng vận tại thiên

Nước non vạn dặm đất Thục liền

Loa Thành hiểm yếu đâu thần phục

Móng rùa thần nỗ lắm cái phiền

Sự việc xưa kia do ai nhỉ ?

Hưng vong số định bởi thần tiên

Khí thiêng dấu cũ nay còn đó

Sử luận hoang đường quả dĩ nhiên.

*

Vũ Tuân

Đương dương vạn mã đảo thành âm

Nam hải văn tê bạch trú trầm

Quy trảo dĩ tùy khinh bạc tế

Nga mao thụy lượng nữ nhị tâm

Hà sơn hữu lệ minh châu kết

Oan trái nan điền cổ tỉnh thâm

Đôn phách trinh hồn chung bất tử

Quế kỳ phong vũ dạ tiêu sâm.

Ngựa lướt vầng dương thành sẩm tối

Sừng tê rẽ nước giữa ban ngày

Móng rùa mưu rể đem đi mất

Lông ngỗng lòng con ai biết đây

Sông núi lệ tuôn trai ngọc kết

Oan khiên khôn lấp giếng xưa đầy

Phách hồn trinh trắng còn không mất

Cờ quế đêm mưa gió lắt lay.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Bùi Phu Kinh (Họa bài thơ của Vũ Phạm Hàm)

Ông thị hiền vương vị thị sàn

Gian hùng nữ tế thái vô nhan

Thiếp tư báo đức đồng thiên địa

Lang nhẫn vong tình phụ hải san

Quy nỗ thu quang sơn tuyệt mộ,

Bạng châu sải lệ tỉnh lưu ban

Đội lân tịch mịch đình biên miếu

Dạ nguyệt thê lương cổ lũy hoàn

Nhạc phụ vua hiền đâu phải dại

Gian hùng chàng rể quá vô tình

Thiếp mong báo đức ngang trời đất

Chàng nỡ quên ơn phụ thệ minh

Nỏ báu mất thiêng non vắng mộ

Hạt trai tưới lệ giếng lưu hình

Bên đình tòa miếu thiêng mờ mịt

Lạnh lẽo trăng đêm quyện cổ thành.

Nguyễn Huệ Chi dịch

*

Lang quân tình trọng, phụ ân thâm

Bất bạch kỳ oan, hận đáo câm

Trường trảo vô linh quy diệc khứ

Minh châu hữu lệ bạng do trầm

Hoang bi cổ mộc thiên niên quốc

Bích hải thanh thiên nhất phiến tâm

Tịch mịch An Dương cung ngoại miếu

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt âm âm.

Tình chàng dù nặng , nghĩa cha sâu

Ôm ấp oan kia đến tận đâu.

Nỏ thiếu móng thiêng, rùa lẩn bóng

Trai chìm đáy nước , lệ hoen châu.

Bia mòn cây cỗi, ngàn thu hận

Bể biếc trời xa một mối sầu.

Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt

Trăng mờ khắc khoải cuốc kêu thâu.

Nguyễn Tường Phượng dịch.

*

Sở Cuồng Lê Dư Vịnh An Dương Vương

Ngã nguyên vô trá, nhĩ vô ngu

Vị giám tiền xa thỉ nữ ngô

Chỉ niệm bắc nam đôn quốc hảo

Thục tri tế tử sính gian đồ

Hà sơn đa cố quy vô trảo

Cốt nhục thương tâm bạng hữu châu

Hoa miếu thiên thu công luận tại

Tín trung trường thống nữ vô cô.

Dịch nghĩa: Ta không dối người mà cũng không phòng bị

Làm cái gương xe đổ về việc gả con sang Tàu

Chỉ muốn bắc nam được thuận hòa

Đâu ngờ rẻ kia là kẻ gian tế

Non sông mấy đỗi rùa không móng

Cốt nhục đau lòng trai ngậm châu

Công luận ngàn năm còn vẳng bên miếu

Con gái thành thật không lỗi lầm mà phải mang nỗi xót xa này.

Vịnh Mỵ Châu công chúa

Thâm cung sinh trưởng quán kiều si

Thế thái ba đào kỷ đắc tri

Kỳ vị ái ân nghi tế thiểu

Cánh giao trung tín bỉ lang khi

Châu trầm ngọc vẫn tâm câu toái

Quốc phá gia phong hối diệc trì

Thiên cổ Loa Thành di hận tại

Hồn oanh hoa biểu hạt thăng bi.

Dịch nghĩa: Nàng ngây thơ lớn lên trong cung cấm

Việc đời lắm sóng gió làm sao mà biết được

Vui vẻ ái ân nào có để dạ nghi chồng

Bởi quá thật thà mà bị lừa dối

Châu chìm ngọc rơi cõi lòng tan nát

Nước mất nhà tan hối có kịp đâu

Loa Thành ngàn năm còn vương nỗi hận

Hồn vấn vương bia mộ, sầu kể sao nguôi.

( Hai bài thơ của Sở Cuồng Lê Dư chỉ mới thấy dịch nghĩa, chưa tìm thấy bản dịch thơ, tạm bằng lòng vậy)

*

THƠ QUỐC ÂM Thành Cổ Loa

Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa

Trải bao gió táp với mưa sa

Nỏ thiêng hờ hững dây oan buộc

Giếng Ngọc vơi đầy hạt lệ pha

Cây cỏ vẫn cười ai bạc mệnh

Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa

Hưng vong biết chửa, người kim cổ

Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà.

Á Nam Trần Tuấn Khải

*

Đề miếu Mỵ Châu

Một khối oan tình đập chửa tan

Nghìn thu hiu hắt khói hương tàn

Bia mòn rêu biếc, ngàn mây phủ

Nỏ đó người đâu giếng nước tràn

Tần Tấn bởi tin phường bạch nhãn

Việt Ngô để lụy khách hồng nhan

Cơ trời dâu bể vì ai đấy

Riêng mỗi thơ đào mắc tiếng oan.

Nguyễn Trung Khuyến

*

Loa Thành hoài cổ

Trông cảnh Tư Long luống ngậm ngùi

Nỏ rùa chuyện cũ, phải hay sai

Hình thành sao khéo xoay trôn ốc

Nước giếng nay còn sáng ngọc trai

Trừ bại ma gà nhờ có thuật

Mắc mưu lông ngỗng vị thương ai

Bể nam sóng gió mê đường ngựa

Đà cuống tin chi, hối chậm rồi.

Nguyễn Văn Đào

*

Mỵ Châu -Trọng Thủy

Một đôi kẻ Việt người Tần

Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương

Vuốt rùa chàng đổi máy

Lông ngỗng thiếp đưa đường

Thề nguyền phu phụ

Lòng nhi nữ

Việc quân vương

Nệm gấm vó câu

Trăm năm giọt lệ

Nghìn thu khói hương. . .

Tản Đà

*

Tâm sự

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ, để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.

Tố Hữu (Trích bài thơ Tâm sự)

*

Mị Châu Lông ngỗng lông ngan rơi trắng đường chạy nạn Những chiếc lông không biết tự dấu mình.

Nước mắt thành mặt trái của lòng tin Tình yêu đến cùng đường là cái chết Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu.

Giá như như trên đời còn có một Mỵ Châu Vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác Không sơ hở, chẳng mắc lừa mẹo giặc Một Mỵ Châu như ta vẫn hằng mơ

Thì hẳn Mỵ Châu không sống đến bây giờ Ðể chung thuỷ với tình yêu hai ngàn năm có lẻ Như anh với em dẫu yêu nhau chung thuỷ Ðến bạc đầu bất quá chỉ trăm năm.

Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng Vẫn không thể cứu Mỵ Châu khỏi chết Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu.

Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu Bởi cụt đầu nên tượng càng rất sống Cái đầu cụt gợi nhớ dòng màu nóng Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào.

Anh cũng như em muốn nhắc Mỵ Châu Ðời còn giặc xin đừng quên cảnh giác Nhưng nhắc sao được người hai ngàn năm trước Nên em ơi ta đành tự nhắc mình.Anh Ngọc

*

Vô đề

Am Mỵ Châu thờ bức tượng không đầu

Cảnh báo một trái tim khờ dại

Thử hỏi , nửa thế giới này đang tồn tại

Đã yêu rồi, ai không giống Mỵ Châu ?

Hạnh Mai

(Tạp chí Người Hà Nội, số 115)

*

MỴ CHÂU

Không thể tưởng có đường gươm như thế

Dù lời thần mách bảo tự trời cao

Thần có lúc cũng nhầm như hạ giới

Đứa con thương tội lỗi tự khi nào?

.

Khi ngực trẻ hồn nhiên non nớt quá

Thì tình yêu có phút dại khờ thôi

Nắm lông ngỗng rải đường hoa trắng xóa

Hoa theo nàng rải khắp nắng mồ côi.

.

An Dương Vương dưới đáy mồ nghìn tuổi

Vẫn hằng đêm nức nở lưỡi gươm xưa

Mây vẫn trắng để tang trời vĩnh cửu

Mỵ Châu ơi, oan nghiệt đến bao giờ ?

Quang Huy

( Hà Nội mới cuối tuần,10.3.2012)

*

Ảnh trong bài

1. 2 : Lẫy nỏ và kho mũi tên đồng đào được ở Cổ Loa

3: Tượng không đầu Công chúa Mỵ Châu

Entry filed under: Uncategorized.

Truyện: Tra Vương Tác Phi

Gầy gò, tinh thần sa sút, khẩn trương, nôn nóng!

Hắn đã từng là một thiếu niên tuấn lãng, nhiệt huyết phấn chấn dưới ánh mặt trời. Thế mà bây giờ lại trở nên ủ rũ và ảm đạm đến như vậy!

Đứng trước tình huống hiện tại, tâm tình nàng trái lại vô cùng bình thường.

“Lâu rồi không gặp biểu muội!”

Cố Đình Dục nhìn chăm chăm vào khuôn mặt êm dịu của Dung Khuynh cùng với cái bụng bằng phẳng kia, sắc mặt hắn lặng như nước, miệng mân thành một đường thẳng, đáy mắt tràn đầy uất ức cùng lệ khí.

Thích một nữ nhân, nữ nhân đó cũng là vị hôn thê của mình, nhưng nàng lại mang thai đứa bé của một nam tử khác. Loại khuất nhục này, sâu thẳm trong lòng nam nhân, không người nào chịu nổi. Huống chi Cố Đình Dục còn là một người chưa từng trãi qua sương gió.

Bây giờ hắn chỉ có thể siết chặt quả đấm, vì siết quá mạnh mà phát ra tiếng kêu răng rắc. Nhưng lại không thể vung về phía Trạm vương hay Dung Khuynh được, thế nên hắn đương nhiên càng thêm bị đè nén khó chịu rồi.

Nhìn bộ dáng Cố Đình Dục vì nhận hết khuất nhục mà bất cứ lúc nào cũng có thể nổ tung như vậy. Dung Khuynh có cảm giác: tại trong mắt thế nhân này, trừ phi nàng tự vẫn bồi tội ra, còn lại nói cái gì cũng là dư, không biết xấu hổ! Cho nên….

“Ta vẫn khỏe, Dục biểu ca định đi xa nhà sao?” Dung Khuynh nhìn qua bao đồ trên tay gã sai vặt, vẻ mặt như thường, tán gẫu như thường.

Ánh mắt thế nhân đúng là quan trọng, dĩ nhiên phải tuân theo quy tắc thế tục. Nhưng…vào lúc sinh tử, nàng vẫn muốn tuân theo bản thân mình hơn!

Nếu dựa theo bình phán của thế nhân và tâm tình Cố Đình Dục, nàng không thể sống!

Vì một cái danh tiếng, vì trấn an một thiếu niên đang cảm thấy ủy khuất mà đi tìm chết, Dung Khuynh không làm được chuyện vĩ đại như thế! Cho nên ngươi muốn nói nàng không biết xấu hổ hay không có lương tâm gì đó cũng được.

Không cách nào khác nha! Nàng trời sinh đã thiếu tinh thần dâng hiến rồi!

Nghe Dung Khuynh hỏi, vành mắt Cố Đình Dục phút chốc ửng lên đỏ hồng, là tức giận, cũng là lạnh lòng. Vào lúc này rồi sao nàng vẫn có thể bình tĩnh như vậy được chứ? Nàng như thế này mà còn không mặn không nhạt nói ra được mấy chữ “nàng còn khỏe” sao.

Đứng trước mặt hắn, chẳng lẽ một chút cảm giác áy náy nàng cũng không có? Rốt cuộc nàng còn lương tâm hay không?

Nhìn ánh mắt lên án kèm theo thương xót, vẻ mặt giận dữ của Cố Đình Dục. Dung Khuynh mấp máy khóe môi, nở ra một nụ cười nhạt nhẽo.

Cái gì gọi là có tình? Nàng phải quỳ xuống cầu xin Trạm vương thành toàn cho bọn họ thì mới xem như không phụ tình ý của Cố Đình Dục? Mới xem như không màng phú quý, kiên cường bất khuất sao? Nếu vậy thì thật xin lỗi, xương nàng không có cứng như thiết!

Hơn nữa, dù Trạm vương có thật sự thu tay về, mặc kệ bọn họ đi nữa, nàng cùng Cố Đình Dục cũng sẽ không có kết quả gì. Bóng dáng của hạnh phúc, viên mãn gì đó, một chút cũng không có.

Lúc thiếu niên còn trẻ thì tình là tất cả, khốn khổ vì tình, muốn chết muốn sống!

Đợi sau này hắn sẽ hiểu, so với gả cho hắn, nàng rời đi mới là tốt cho hắn!

Đợi đến khi hắn thật sự trưởng thành, thông nhân sự, am hiểu chuyện đời thì sẽ hiểu rõ: tình yêu nói cho cùng cũng chỉ như chế thuốc mà thôi. Đặc biệt là ở thời đại này, nam nhân muốn nữ nhân, chỉ cần có tiền thì tiện tay quơ một cái, muốn bao nhiêu cũng có.

Cho nên tất cả mọi chuyện xảy ra bây giờ đối với Cố Đình Dục mà nói, đó chỉ là một loại trãi nghiệm, là một loại ma luyện bản thân mà thôi. Nhưng đối với nàng mà nói lại là loại chuyện khác.

Dưới bối cảnh nam nhân vi tôn cường giả độc quyền này, nàng lựa chọn quy thuận. Nói nàng vô tình cũng tốt mà bạc tình cũng được. Nàng không có quyền được tùy hứng.

Có tiền có quyền, tùy hứng một chút thì không sao.

Không quyền không thế, là một cá nhân yếu thế giữa xã hội, vẫn nên thức thời mới tốt.

“Biểu ca thuận buồm xuôi gió.” Dung Khuynh nói xong cũng liền xoay người bước đi.

Tại lúc này nếu Cố Đình Dục là người thông minh thì sẽ lập tức rời đi. Bởi vì loại chuyện này dưới mí mắt Trạm vương mà nói, vô luận nói cái gì cũng chỉ có vẻ Cố Đình Dục hắn trông buồn cười còn nàng thì vô tâm vô tình hơn mà thôi.

Để ở trong mắt, nghe vào trong tai, tựa như nảy giờ chỉ có nói chuyện cười, không có gì khác.

“Dung Khuynh…”

Nhìn cái tay đang giữ cổ tay nàng lại, Dung Khuynh nhíu mày. Quả nhiên thiếu niên cuối cùng vẫn là thiếu niên!

Trạm vương lười nhác ngồi trong xe ngựa thấy một màn nam nhân khác bắt lấy cổ tay trắng nõn của Dung Khuynh, mày khẽ nhíu. Ngón tay thon dài bắt đầu không tự chủ được mà nhẹ gõ gõ.

Động tác đó của Trạm vương rơi vào trong mắt Lẫm Ngũ khiến Lẫm Ngũ rũ mắt xuống, hắn đi theo Trạm vương nhiều năm như thế cũng hiểu biết một phần về tính tình chủ tử.

Ngón tay nhẹ gõ gõ, nhìn thì giống như một động tác lúc rảnh rang nhàn rỗi, nhưng thật chất đó chính là một dấu hiệu nhỏ báo trước Trạm vương đang ngứa tay muốn hại người.

Lần này kẻ khiến chủ tử ngứa tay sẽ là ai? Lẫm Ngũ nhìn về phía Dung Khuynh, Cố Đình Dục!

Bàn về làm người, Cố Đình Dục lương bạc kia thật sự kém Dung cửu xảo trá này quá nhiều.

Còn bàn về đạo lí sinh tồn, Cố Đình Dục hoàn toàn không thể so sánh với Dung Khuynh. Dung Khuynh đong đưa dưới mắt chủ tử lâu như vậy, đủ thấy năng lực của nàng không phải tầm thường. Về phần Cố Đình Dục… không nói nữa

Một người quá thông minh, một người lại quá mức ngu đần, bọn họ quả thật không xứng!

“Khuynh Nhi, ngươi không có gì để nói với ta sao?” Cố Đình Dục nhìn chằm chằm Dung Khuynh, một bộ dạng kiên quyết không tha.

Dung Khuynh dừng chân, quay đầu lại lẳng lặng nhìn Cố Đình Dục. Đúng vậy! Nàng thật sự không có gì muốn nói, không có tâm sự nào có thể kể, cũng không có cái gì mà bi tình, yêu khổ để biểu đạt ra mặt. Cho nên….

“Cựu phụ..”

Nghe Dung Khuynh gọi, vẻ mặt Cố Đình Dục khẽ cứng lại, theo phản xạ quay đầu ra sau.

Vừa quay đầu lại, gáy lập tức đau xót.

“Công tử…”

Tiếng kinh hô của gã sai vặt vang vang bên tai, ánh mắt Cố Đình Dục bắt đầu trở nên mơ hồ. Trước khi mất đi ý thức, hình ảnh cuối cùng hắn còn nhìn thấy chính là vẻ mặt lãnh đạm sâu xa cùng đôi mắt buồn bã của Dung Khuynh!

“Biểu tiểu thư, ngươi…”

“Chỉ là té xỉu mà thôi, không lâu sẽ tỉnh lại. Đưa hắn lên xe ngựa đi!” Dung Khuynh nói xong liền xoay lưng rời đi. Nhưng nàng không phải đi lên xe ngựa phía sau của mình mà là bước lên xe ngựa của Trạm vương!

Dung Khuynh vừa lên xe, xe ngựa liền chuyển động. Giữa tầng tầng lớp lớp bảo vệ của hộ vệ, chiếc xe ngựa thanh thế oai hùng lại tiếp tục đi chậm về phía trước.

Gã sai vặt nhìn theo chiếc xe ngựa dần dần đi xa, nhìn cái thế trận hùng hùng dũng dũng kia, lại ngước xuống nhìn Nhị công tử nhà mình đang té xỉu dưới đất. Hắn bất giác thở dài: Công tử ơi! Biểu tiểu thư có chỗ nào giống đang bị bất đắc dĩ chứ? Nàng rõ ràng đã thay lòng rồi nhưng sao ngươi cứ mãi không chịu thông suốt vậy!!

Một nữ nhân chủ động bò lên trên xe ngựa Trạm vương, một nữ nhân tham quyền phú như thế. Không đáng để công tử yêu đến tận tim tận phổi, không đáng!

***

“Đáng thương cho một mảnh thâm tình cuồng dại của Cố nhị công tử, cư nhiên lại bất hạnh yêu phải loại nữ nhân ái mộ hư vinh, nhẫn tâm tuyệt tình như ngươi.”

Trạm vương trước giờ luôn rất giỏi việc nói móc người khác.

Dung Khuynh thở dài: “Đúng vậy, số hắn thật đen đủi!”

Trạm vương giễu cợt nhìn nàng: “Thừa nhận rất dứt khoác!”

Dung Khuynh cười nhẹ, vẻ mặt bình hòa mà thản nhiên: “Cố Đình Dục là người tốt, là một biểu ca tốt!”

Chỉ là trên đời này có rất nhiều người tốt, nhưng người nàng có thể gả lại chỉ có một. Nếu lúc nào đó nữ nhân có thể nạp thiếp, vậy thì nàng chắc chắn mình sẽ nạp vô số người tốt.

Trạm vương hừ lạnh: “Mà ngươi lại là một nữ nhân không có lương tâm!”

Dung Khuynh dứt khoác như vậy khiến Trạm vương vừa hài lòng lại vừa cảm thấy không thoải mái. Còn như vì sao không thoải mái? Hắn cũng không rõ.

Quan trọng là cả chuyện như bổ nhào vào Trạm vương nàng cũng đã làm rồi, bây giờ còn làm ra bộ dạng bị bất đắc dĩ, vậy thì quá ác tâm rồi.

Làm kỹ nữ còn muốn được lập đền thờ, đó chính là tiện nhân biết gây chuyện. Ách….hình như câu đó có gì đó kì kì! Giống như nàng vừa vô ý gọi mình là kỹ nữ vậy, ách……

Nàng thật sự là tiếp thu không nổi môn thể dục với ngữ văn của các giáo sư nha!

“Vương gia, ngươi có mệt hay không, có muốn tiểu nữ giúp ngươi đấm bóp chân không?” Dung Khuynh vốn muốn nịnh nọt, thuận tiện cũng thử thăm dò xem Trạm vương tiếp theo định ném nàng đi đâu? Ai ngờ…

Móc xỉa mang theo vô tận giễu cợt! Nếu là người da mặt mỏng, bị ngọn rễ phong kiến cắm sâu vào tư tưởng thì có lẽ đã bị Trạm vương đả kích đến xấu hổ, giận dữ tới tìm chết từ lâu rồi.

May mắn nàng đã lăn lộn được vài thập niên ở hiện đại, da mặt đủ dày.

Khuôn mặt nhỏ nhắn của Dung Khuynh đầy nghiêm túc, ánh mắt cương trực, hai đầu lông mày nhíu chặt: “Nữ tử tốt không hầu hai phu, ta đã là nữ nhân của Trạm vương thì cả đời này cũng chỉ có thể là nữ nhân của Trạm vương mà thôi!” Nên đấm chân cho Trạm vương cũng không phải là chuyện sai trái.

Nữ tử tốt không hầu hai phu, nếu câu này là do một nữ nhân khác nói thì có lẽ Trạm vương sẽ tin tưởng. Nhưng từ trong miệng Dung Khuynh nói ra… Trạm vương chỉ cảm thấy được hai chữ… giả dối!

“Dung cửu, ngươi đừng có ý nghĩ hão huyền, tự dát vàng lên mặt mình, bản vương không phải là phu của ngươi.”

“Vương gia không phải là phu của ta, mà Vương gia ngài là trời của ta!” Nàng nói không chút do dự, rõ ràng mà mạnh mẽ.

So với Trạm vương vô tình lạnh gan lạnh phổi, Dung Khuynh nàng thắng hắn ở chỗ da mặt dày không biết xấu hổ.

Đứng trước người nam nhân tối qua vừa mới lăn qua lăn lại trên giường cùng nàng, hôm nay lại độc miệng như thế, mà nàng còn có thể thốt ra được mấy lời khiến người ta chán ghét như vậy. Dung Khuynh tự khen thưởng mình vạn vạn lần.

Trạm vương nhìn Dung Khuynh, đôi mắt sắc lạnh: “Rất tốt! Bản vương là trời nên sẽ che chở cho ngươi, cho đến khi ngươi gả vào Cố gia thì thôi.”

Trạm vương vừa dứt lời Dung Khuynh liền lập tức tạ ơn: “Đa tạ Vương gia.” Nói xong, nàng kéo kéo vạt áo, khóe mắt bắt đầu ửng hồng: “Cố gia và triều đình chắc chắn đã chuẩn bị tốt và đang chờ đợi ta. Ăn chay niệm phật sống qua ngày cũng tốt, cũng rất tốt…”

“Ngày nào cũng ăn chay niệm phật nguyền rủa bản vương thành châm?”

Trạm vương cùng lắm cũng chỉ thuận miệng nói thôi. Ai ngờ… ánh mắt của Dung Khuynh lại bắt đầu lóe lên, cái cổ rụt rụt vào trong. Mỗi lần nàng chột dạ đều sẽ có bộ dạng như thế. Vậy nghĩa là….

Trạm vương híp mắt lại, xem ra hắn đã nói trúng!

“Đồ hỗn trướng!”

“Vương gia thứ tội!”

“Ngươi còn dám thừa nhận?”

“Thẳng thắn được khoan hồng, xin ra tay khoan dung!”

“Ngươi muốn chết!”

“Vương gia, tiểu nữ đã từng nói qua khối bớt trên mông của ngươi rất mê người chưa???”

Dung Khuynh nói xong, trong xe ngựa đột nhiên rất yên tĩnh.

Bên ngoài xe ngựa, Lẫm Ngũ giật giật khóe miệng. Đây xem như là chủ tử đang bị đùa giỡn sao? Dung cửu đúng là cái gì cũng dám nói.

“Ô…”

Đó là tiếng kêu đau của Dung Khuynh. Tiếp theo không biết Trạm vương mắng cái gì, lại nghe tiếng cười lanh lảnh của Dung Khuynh vang vọng ra ngoài.

Bầu không khí trên xe vô cùng xa lạ, có tiếng vui cười cũng có tiếng mắng mỏ đầy tức giận.

Nhưng điều khiến Lẫm Ngũ cảm thấy vô cùng khó hiểu lại chính là Dung cửu làm càn đến như thế mà chủ tử lại không có ném người ra khỏi xe!!

Bạn đang đọc nội dung bài viết Truyện An Dương Vương Và Mị Châu trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!