Đề Xuất 1/2023 # Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Trị # Top 9 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Trị # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Trị mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TRIẾT LÝ Ở HIỀN GẶP LÀNH VÀ ƯỚC MƠ CÔNG LÝ CỦA NHÂN DÂN TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM

                                                                                                Lương Thị Tố Uyên

                                                                                                Khoa Xã hội

Trước hết, đây là niềm tin và mơ ước của nhân dân. Nó chi phối toàn bộ sự xây dựng và phát triển của các nhân vật chính diện, phản diện và lực lượng thần kì ở trong truyện cổ tích.

Đối với các nhân vật chính diện (Thạch Sanh, cô Tấm, người em trong truyện Cây Khế…) tác giả dân gian không chỉ dừng lại ở sự phản ánh và cảm thông đối với những đau khổ, đắng cay, oan ức của họ mà còn đặc biệt quan tâm, tìm cách, tìm đường giải thoát cho họ để họ được đền bù xứng đáng. Nhờ vậy mà nhiều nhân vật chính diện trong truyện cổ tích đã được đổi đời, được đền bù thích đáng làm cho cả người kể lẫn người nghe đều hả hê, sung sướng (Sọ Dừa thi đổ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông, Tấm trở thành hoàng hậu, Thạch Sanh lấy công chúa và lên làm vua…).

Đối với các nhân vật phản diện (Lí Thông, mẹ con nhà Cám, người anh tham lam trong truyện Cây Khế…) thì tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố cáo, lên án sự tham lam, ích kỉ. độc ác, dã man của chúng mà còn tìm cách loại trừ, tiêu diệt chúng để cho những người lương thiện được sống yên vui. Vì thế hầu hết các nhân vạt phản diện trong truyện cổ tích đều dẫn đến kết cục bi thảm và bị trừng phạt thích đáng. Mức độ và hình thức thưởng phạt đối với các nhân vật chính diện và phản diện ở trong truyện cổ tích Việt được thực hiện có phân biệt, tương xứng với tài đức, tội trạng của từng nhân vật. Cô Tấm đẹp người, đẹp nết, chịu thương chịu khó, chịu nhiều thiệt thòi, được lấy vua trở thành hoàng hậu. Thạch Sanh có tài năng, mức độ, có nhiều công tích được lấy công chúa làm vua, Sọ Dừa thì đổ trạng. Người em (trong truyện Cây Khế) là người nghèo khổ, hiền lành, thật thà nhưng không có tài năng, công tích gì đặc biệt nên chỉ được Chim thần cho vàng (vừa đầy chiếc túi “ba gang”) để trở thành giàu có mà thôi. Đối với các nhân vật phản diện, sự trừng phạt cũng có sự phân biệt rỏ rệt. Lí Thông tham tài, tham sắc, tham danh vọng, địa vị, vong ân bội nghĩa, lợi dụng, lùa gạt, cướp công và hãm hại Thạch Sanh thì bị trời đánh hoá thành kiếp bọ hung, đời đời chui rúc nơi hôi hám. Người Anh (trong truyện Cây khế) ích kỉ, tham lam thì Chim thần cũng chỉ “chiều” theo tham vọng của hắn để cho hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã mà thôi. Còn ở truyện Tám Cám thì sự trừng phạt nhân vật phản diện có phần đặc biệt so với nhiều truyện cổ tích khác. Và đây là một trong những chổ có vấn đề đã từng gây ra sự tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Người thì cho Tấm trừng trị mẹ con nhà Cám như thế là phải, là thích đáng. Người thì cho cách trả thù của Tấm  (giết Cám bằng nước sôi, rồi muối thành mắm…) như thế là quá quắt, trái với bản tính hiền lành vốn có của Tấm và cũng trái với truyền thống khoan dung, rộng lượng của dân tộc. Do đó có người đã đề nghị không nên đưa truyện Tấm Cám vào chương trình văn học dân gian trường phổ thông.

Quả thực cách trả thù của Tấm đối với mẹ con nhà Cám là rất đặc biệt, khác với thông lệ của truyện cổ tích. Thông thưòng trong truyện cổ tích, các nhân vật chính diện ít khi trực tiếp trả thù các nhân vật phản diện. Thạch Sanh hoàn toàn tha bổng cho mẹ con Lí Thông; người em trong truyện cây khế không hề phàn nàn, oán trách người anh tham lam; Sọ Dừa và vợ chàng cũng không hề đả động gì đến tội trạng của hai người chị gái (con phú ông)… việc trừng phạt các nhân vật phản diện trong truyện cổ tích phần lớn là do các lực lượng thần kì (Trời, Phật, Thần linh…) thực hiện, hoặc do bản thân các nhân vật tự chuốc lấy. Trái lại, ở truyện Tấm Cám, các tác giả dân gian đã để cho Tấm trực tiếp trả thù và trả thù một cách quyết liệt, dữ dội đối với mẹ con nhà Cám khiến cho tính cách của Tấm phát triển thành hai phần, hai giai đoạn khác nhau và đối lập nhau rõ rệt. Giai đoạn đầu khi còn sống (lúc còn ở nhà với dì ghẻ và Cám cũng như khi đã vào cung vua làm hoàng hậu) Tấm rất hiền lành, chịu thương, chịu khó, thậm chí rất yếu đuối (chỉ biết khóc mỗi khi gặp khó khăn) và nhẹ dạ, cả tin (nên bị Cám cướp giật liên tiếp: cướp giỏ cá, cướp quyêng đi trảy hội, cướp chồng…). Nhưng sau khi bị giết, trải qua nhiều kiếp (kiếp người, kiếp chim, kiếp xoan đào, kiếp khung cửi, kiếp thị) và trở lại làm người thì Tấm trở thành một người khác hẳn: đáo để, kiên quyết, chỉ tên vạch mặt kẻ thù đến nơi đến chốn và trừng trị chúng một cách không thương tiếc. Ở đây có sự kết hợp, hoà trộn giữa niềm tin và triết lí truyền thống “ở hiền gặp lành” của nhân dân và thuyết luân hồi, quả báo (“thiện giả thiện báo, ác giả ác báo”) của đạo Phật. Vì thế mà có hai cô Tấm khác nhau rõ rệt. Cô Tấm thứ nhất (từ đầu cho đến khi trở thành hoàng hậu) về cơ bản đồng dạng với các nhân vật chính diện khác của truyện cổ tích (cuộc đời cũng gồm hai phần:  phần hiện thực và phần ước mơ, phần tối tăm và phần tươi sáng). Cô Tấm thứ hai (từ khi trèo cau bị giết cho đến khi trở lại làm người trải qua nhiều kiếp khác nhau) chủ yếu là nhân vật của sự trả thù, báo ứng, không còn là nhân vật phổ biến, thông thường trong cổ tích nữa. Và đây chính là chỗ đặc biệt trong truyện Tấm Cám so với các truyện cổ tích khác. Với mức độ khác nhau, cả hai cô Tấm ấy đều phù hợp với triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân. Việc xây dựng cô Tấm thứ hai (hay giai đoạn thứ hai của nhân vật Tấm) cho thấy tác giả dân gian của truyện này có cái nhìn hiện thực xã hội rất sâu sắc và sự phản ánh ước mơ công lí của nhân dân rất triệt để.

Tác giả không bằng lòng kết thúc truyện một cách “có hậu” ở việc Tấm lấy được vua và trở thành hoàng hậu (mặc dù truyện đến đây đã khá dài và có đầy đủ các bước phát triển như nhiều truyện cổ tích thần kỳ khác).

Sự kiện bà hoàng hậu Tấm về nhà làm giỗ cha và bị mẹ con nhà Cám giết chết mở đầu cho phần thứ hai của truyện Tấm Cám, phản ánh sâu sắc và triệt để hơn xung đột quyền lợi trong xã hội phong kiến và khát vọng chính nghĩa thắng gian tà của nhân dân. Với phần thứ nhất truyện Tấm Cám chỉ mới nói được vấn đề “người hiền” có thể và cần phải được “gặp lành”. Với phần thứ hai, tác giả mới nói được rõ hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn kinh nghiệm và lí tưởng sống của mình là: “người hiền” không dễ gì sống yên ổn với “điều lành” khi “kẻ ác” còn tồn tại, chưa bị loại bỏ.

Nếu như ở phần thứ nhất kẻ cướp công của Tấm là Cám thì ở phần thứ hai, sự căm phẫn và trả thù của Tấm cũng chủ yếu hướng vào nhân vật Cám.

Sẽ là một thiếu sót đáng kể nếu không nói đến các nhân vật thần kì, siêu nhiên, khi bàn về triết lí “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lí của nhân dân ở trong truyện cổ tích.

Khi khát vọng công lí và niềm tin “ở hiền gặp lành” chưa có điều kiện để thực hiện được nhiều trong đời sống thực tế, tác giả truyện cổ tích đã dùng các nhân vật thần kì, siêu nhiên để thực hiện ở trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng.

Lực lượng thần kì, siêu nhiên ở trong truyện cổ tích Việt rất phong phú, đa dạng, bao gồm các nhân vật thần kì (như Tiên, Bụt, Thần linh, Diêm Vương), các con vật siêu nhiên (như Trăn Thần, Rắn Thần, Têy Tinh, Hồ Tinh…), các vật thiêng có phép lạ (như gậy Thần, Đàn Thần, Cung Thần, Niêu cơm Thần, chiếc áo tàng hình…).

Lực lượng nảy sinh ra từ nhiều nguồn gốc khác nhau, như quan niệm thần linh trong thần thoại, sự tín ngưỡng của nhân dân, ảnh hưởng của các tôn giáo (đạo Phật, đạo Lão…), nhưng đã được nhào nặn lại theo quan niệm và lí tưởng thẩm mĩ của tác giả truyện cổ tích. Vì thế lực lượng thần kì trong cổ tích không giống với các vị thần trong thần thoại và các tôn giáo đã sản sinh ra chúng. Lực lượng thần kì trong truyện cổ tích không phải là hiện thân của các lực lượng tự nhiên như các vị thần (Thần Mưa, Thần Gió…) trong thần thoại mà ít nhiều đều mang tính xã hội, tính giai cấp. Tiên, Phật (hay Bụt) trong truyện cổ tích chỉ giúp những người nghèo khổ, lương thiện (như Tấm, Thạch Sanh…) chứ không giúp kể ác (như Cám, Lí Thông…). Có khi nhân vật thần kì tỏ ra vô tư, trung lập, không thiên vị, nhưng cuối cùng vẫn gây ra những tác dụng ngược nhau đối với nhân vật chính diện và phản diện. Chẳng hạn con Chim thần trong truyện Cây khế đã nói với người em và người anh một câu như nhau (“Ăn một quả trả cục vàng – May túi ba gang mang đi mà đựng”) và đã đưa cả người anh lẫn người em đến đảo vàng ngoài biển xa. Nhưng sức Chim thần có giới hạn, nên không mang nỗi số vàng quá nhiều của người anh tham lam, khiến cho y pahỉ mất mạng. Cây đàn thần (trong truyện thạch Sanh) cũng chỉ phát huy được tác dụng kì diệu khi vào tay Thạch Sanh mà thôi (vua Thuỷ Tề có cây đàn thần mà vẫn phải chịu bó tay để cho yêu quái bắt Thái tử nhốt trong cũi sắt).

Phần lớn các lực lượng thần kì trong truyện cổ tích đều chỉ xuất hiện khi nhân vật chính diện gặp tai nạn, bế tắc, cần sự giúp đỡ. Nhưng cũng có khi bản thân nhân vật chính diện mang trong mình yếu tố thần kì (ví dụ Thạch Sanh, Sọ Dừa, người vợ Cóc trong truyện lấy vợ Cóc), Thạch Sanh là người nhưng có nguồn gốc siêu nhiên (là thái tử con Ngọc Hoàng, đàu thai vào nhà họ Thạch, năm 13 tuổi đã được Tiên ông dạy cho các phép võ nghệ thần thông). Sọ Dừa cũng có nguồn gốc phi thường (ẩn trong lốt sọ xấu xí, đáng sợ nhưng vốn là “người trời”, tài giỏi và chỉ một mình cô con út của phú ông sớm nhận ra điều kì diệu đó).

Thạch Sanh đã hoạt động trong một không gian rất rộng, bao gồm bốn cõi (từ”cõi trời” đầu thai vào nhà họ Thạch làm người hạ giới, rồi từ cõi trần, xuống hang động, từ hang động xuống thuỷ cung và cuối cùng mới trở lại trần gian).

Số lượng nhân vật trong truyện Thạch Sanh rất đông (trên 20 nhân vật và vật thần kì khác nhau), được phân làm hai tuyến (chính diện và phản diện). Ở mỗi tuyến đều có nhân vật là người và nhân vật siêu nhiên, kì ảo. Tuyến chính diện gồm các nhân vật là người (Thạch Sanh, công chúa, vua (cha của công chúa) và cha mẹ Thạch Sanh). Các nhân vật siêu nhiên (Ngọc Hoàng, Tiên Ông, vua Thuỷ Tề, Thái tử con vua Thuỷ Tề) và các nhân vật thần kì (Cung thần, Đàn thần, Niêu cơm thần). Tuyến nhân vật phản diện cũng bao gồm các nhân vật là người (Lí Thông, mẹ Lí Thông, Quân 18 nước chư hầu) và các quái vật thần kì (Trăn Tinh, Đại Bàng, Hồ TInh).

Thạch Sanh là nhân vật có nguồn góc siêu nhiên, là “con trời” nhưng đã đầu thai vào nhà họ Thạch và được trần gian hoá, xã hội hoá hoàn toàn (có cha mẹ, quê hương, có một cuộc đời phong phú với nhiều thân phận, công việc và kì tích khác nhau: trẻ mồ côi, người tiều phu, người ở dưới hình thức em nuôi, dũng sĩ diệt trừ yêu quái cứu người…).

      Có thể nói Thạch Sanh là con người đẹp nhất, phong phú và hoàn hảo nhất trong những nhân vật chính diện mà truyện cổ tích Việt Nam đã xây dựng.

                                                                                                Đông Hà, tháng 4/2013

Huỳnh Văn Hoa: Quảng Trị

Bài viết của nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Hoa đã khắc họa cho chúng ta thấy được tâm thế của người lính Cụ Hồ trong những ngày chiến đấu tại Quảng Trị.

Là người sưu tập sách cũ, tôi đang giữ tập sách Những ngày dài trên quê hương in năm 1972, trong đó in các bài bút ký của nhà văn, ký giả chiến trường ở miền Nam như Dương Nghiễm Mậu, Đoàn Kế Tường, Huỳnh Văn Phú, Hồng Phúc, Người Xứ Huế, Phạm Văn Bình, Phan Nhật Nam, Phan Huy, Sao Bắc Đẩu, Vũ Hoàng. Họ cũng viết về năm tháng đó. Sách dày 300 trang, có hình ảnh.

Đã từ lâu

Tôi không còn nước mắt

Dù tôi vẩn khóc thầm

Trên những đồng lương bán mạng

Trên những nắm cơm lùa vội

Trên những bước chân súng đạn nặng nề

Ôi những giọt lệ khô

Khóc một đời buồn bã

Đã từ lâu

Tôi chán ngán cảnh ra đi

Mà sao vẫn phải tiếp tục lên đường

(tr. 232 – 234)

L.M.Q

XI.2012

 Quảng Trị nằm ở phía bắc kinh thành Huế. Mảnh đất này, do vị trí địa – chính trị nên luôn được nhà Nguyễn, bắt đầu từ Gia Long, đã quan tâm và cho xây thành đắp lũy. Thành cổ Quảng Trị xây theo kiểu Vauban, dạng hình vuông, bốn góc thành có 4 pháo đài canh giữ. Thành có các cửa: Tiền, Hậu Tả, Hữu, xây hình vòm cuốn, trên có vọng lâu. Bên ngoài thành là một hệ thống hào bao quanh, có độ sâu 3,2m, rộng 34,85m. Nội thành có nhiều công trình kiến trúc quan trọng, như hành cung, dinh tuần vũ, dinh án sát, dinh lãnh binh, ty phiên, ty niết, nhà kiểm học,…

Năm 1885, trên đường ra Tân Sở, vua Hàm Nghi đã dừng lại ở Thành cổ, kêu gọi các tầng lớp nhân dân, đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Suốt gần 140 năm, kể từ 1809 đến Cách mạng tháng Tám 1945, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa của tỉnh Quảng Trị và là phên dậu phía bắc, bảo vệ kinh đô Phú Xuân.

Kháng chiến chống Pháp, nhất là kháng chiến chống Mỹ, Quảng Trị được xem là chiến trường dữ dội và khốc liệt nhất Đông Dương, nơi diễn ra nhiều cuộc đụng độ nảy lửa giữa ta và địch. Từ sau 1954, Quảng Trị là cửa tử đối với quân đội Mỹ. Đặc biệt, năm 1972, Thành cổ Quảng Trị với 81 ngày đêm rung chuyển đã để lại dấu ấn khó phai mờ trên nhiều phương  diện, trong đó có văn học nghệ thuật.

Quảng Trị với những địa danh như sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, Đường Chín, Khe Sanh, Cam Lộ, Đông Hà, Ái Tử, Gio Linh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, sông Thạch Hãn,… đã tạo nên một dòng sông thơ ca trong văn học hiện đại Việt Nam.

Con sông Bến Hải, nói như Nguyễn Tuân, sông tuyến đó là giới tuyến của hai bờ Nam – Bắc, hai miền phân ranh suốt 21 năm. Con sông đó đã trở thành biểu tượng của khát khao thống nhất đất nước và đã trở thành niềm thao thức nơi bao trái tim của nhiều văn nghệ sĩ.

Một ngày về lại cầu Hiền Lương, vẫn cây dương liễu vươn cao, vẫn cây bạch đàn bóng mát, vẫn đồng ruộng sum vầy, vẫn dòng sông chảy ngày đêm không nghỉ, chỉ có con đò cứ bến vắng, không còn lối sang ngang, xúc cảm giữa cảnh ấy, nhà thơ Tế Hanh viết:

Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị

Tận chân trời mây núi có chia đâu

(Nói chuyện với Hiền Lương)

Hiền Lương, nơi đó có bà mẹ chèo đò, đưa quân sang bên kia vĩ tuyến, đi qua những hố bom, đi qua những hàng cây cháy đen, qua “những nơi bến cũ đường xưa” trong Người mẹ của Nguyễn Đình Thi. Quảng Trị trong thơ Chế Lan Viên là những ngày, những đêm thương nhớ về một nơi sinh ra mình, nơi có mộ mẹ… Nam Hà có bài thơ dài “Chào đường chín anh hùng” nói về con đường của “máu đỏ phu làm đường… đã nhuộm thắm đồi chè, bãi sắn quê hương” và cả “tiếng hát của những người tù đi đày Pha Lan, Lao Bảo, vẫn còn nghe ngân vọng mãi giữa Trường Sơn”. Đường chín của “Ôi Cam Lộ, Gio Linh đói nghèo, ôi rừng thiêng Khe Sanh”, “đất đau thương sẽ là đất anh hùng”. Đó là:

Con đường của tâm hồn ta,

                                     ta nô nức đi giành cuộc sống

Con đường của cuộc đời ta,

                                       ta đi giành độc lập tự do

Con đường của thời đại ta,

                                      ta đi giành hạnh phúc ấm no

Con đường đi giữa tim ta,…

Một cách nhìn khác, trong Nước non ngàn dặm, Tố Hữu đã viết:

Xe lên đường 9 cheo leo

Hố bom đỏ mắt, trắng đèo bông lau

Cây khô, chết chẳng nghiêng đầu

Nghìn tay than cháy rạch màu trời xanh…

Vẫn là đường Chín, vẫn là con đường đầy những hoa lau trắng nhưng sự dữ dội và hủy hoại của chiến tranh đã khiến những cành cây khô, xương xẩu như hàng nghìn ngón tay, cháy đen thành than, rạch lên bầu trời xanh, vẽ nên một cảnh tượng đầy bi tráng của những ngày rực lửa của chiến trường Quảng Trị. Những câu thơ mang đậm tính tượng hình đã để lại nơi người đọc những ám ảnh khó phai về đường Chín – con đường máu, như cách gọi của số nhà quân sự thế kỷ XX.

Vũ Ngàn Chi, nhà thơ gắn liền đời mình với chiến trường Trị – Thiên, có tập thơ trữ tình mang tên Đêm Quảng Trị (NXB Văn nghệ Giải phóng, 1975).Tập thơ có 2 phần, phần I. Đất gọi, phần II. Sớm nay về. Những đia danh ghi dưới các bài thơ như: Hải Lăng, Xê-kôi, Hướng Hóa,… cho thấy sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với Quảng Trị anh hùng:

Đêm Quảng Trị dắt ta vào trận đánh

Thủ pháo rung rung đầu kíp nụ xòe

Đêm kỳ diệu quen nhuộm màu đen nhánh

Đêm nghìn đời đất thánh vẫn trùm che

Ta nghe đêm nay đôi bờ sông Thạch Hãn

Rặng mít bên Cùa, dặm cát Phương Lang

Đêm Quảng trị giục canh gà gọi sáng

Cờ ta bay đỏ rực lũy tre làng…

Đọng trong tâm trí nhiều thế hệ, đó là 81 ngày đêm chiến đấu tại Thành cổ, từ 28-6 đến 16-9-1972. Ngày nay, cuộc chiến đã lùi vào quá khứ. Đất nước đã sang trang mới. Màu xanh đã phủ lên những hố bom xưa. Dòng Thạch Hãn đã trong xanh lại. Song, những vần thơ về Thành cổ, về Ngã ba Long Hưng vẫn gợi nên bao bùi ngùi, thương cảm. Số bom ném xuống Quảng Trị khoảng 328 nghìn tấn, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima, Nhật Bản (1945). Thị xã Quảng Trị là một đống gạch vụn. Nơi ấy, hàng nghìn người con ưu tú của Tổ quốc, tuổi mười tám đôi mươi đã ngã xuống, nằm lại trên các nẻo đường của Quảng Trị, của Thành cổ:

Đồng đội tôi nằm lại cả Binh đoàn

Đội ngũ chỉnh tề hàng ngang hàng dọc

(Đặng Trung Hội, Viết ở nghĩa trang Trường Sơn)

Dòng sông Thạch Hãn, nơi bao người chiến sĩ vĩnh viễn không về:

Đò xuôi Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm

(Lê Bá Dương)

Nguyễn Đức Mậu, nhà thơ – chiến sĩ, có nhiều bài thơ về Quảng Trị, đó là: Đêm Thành cổ 1972, Tráng khúc Quảng Trị, Hoa lau đường Chín, Ở vùng quê Quảng Trị, Chép lại một chân dung,…Thơ ông chạm khắc chân dung người lính vào những thời điểm thử thách của cuộc đời, đó là cảnh:

Sau tiếng thét Bường lịm dần rồi tắt

Tôi gọi hoài tên nó, gọi tàn hơi

hoặc:

Mùi tóc cháy, mùi thịt da khét lẹt

Ngọn gió qua đồi hóa ngọn gió mồ côi

Khuôn mặt bạn cháy đen, chỉ còn đôi mắt nhìn tôi

không chịu khép

Như hai hốc đất sâu, hai vết thủng vòm trời…

Phạm Đình Lân có bài thơ Tấc đất Cổ thành khá cảm động. Về lại chiến trường xưa, nơi đồng đội yên nằm dưới cỏ, nơi “mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật / Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào”:

Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió

Ru mãi bài ca Bất tử đến vô cùng.

Đoàn Xuân Hòa, người lính chiến đấu tại Quảng Trị, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ghi lại một kỷ niệm cảm động, ngày ấy, giữa khói bom của trận đánh, “Em hát tặng tôi dưới tầm đạn pháo / Dìu dặt lời thương cởi áo cho nhau/ Gương mặt em đánh thức ánh trăng rằm”. Vậy mà, tiếng hát trong trẻo của người con gái tuổi mười tám, em đã không còn nữa trên đời:

Con chim họa mi ơi

Sao em không về với rặng tre ngà bên bờ Thạch Hãn

Bài hát ngày qua hát lại cho mình

Sao em không về với con đường lợp xanh bóng lá

In trong chiều kỷ niệm gót chân xinh…

(Vầng trăng thời gian đi qua)

Trong nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi, nơi trang cuối cùng, anh binh nhì Nguyễn Văn Thạc, đã ghi: “Kính chào hậu phương – Chào gia đình, và người tôi yêu. Đêm nay tôi đi-Nhất định có ngày trở về Thủ đô yêu quí của lòng tôi. 3-6-1972 – Ngã ba Đồng Lộc “.

Không. Không, anh không trở về Hà Nội nữa. Ngày 30-7-1972, anh hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị, lúc tròn 20 tuổi. Những gì anh viết trong Lời mẹ dặn, về người mẹ của mình, chỉ là hoài niệm:

Này buổi sáng tinh sương, mẹ cựa mình thức suốt

Nổi lửa hồng gọi mặt trời lên…

Những vần thơ tặng Như Anh như Đêm trắng, Nhớ trường chỉ còn lại là những hồi ức xa xăm.

 Quảng Trị, mảnh đất cằn khô, hạnh phúc khó mỉm cười với con người. Nơi ấy, những ngọn gió Lào thổi suốt cả mùa hạ, thổi suốt một đời, đến nỗi Chế Lan Viên như gào lên:

Ôi gió Lào ơi!  ngươi đừng thổi nữa

Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ

Những đồi sim không đủ quả nuôi người

Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười…

(Kết nạp Đảng trên quê mẹ)

Vậy mà, đó là nơi gửi về bao thương nhớ của những người con tha phương cầu thực. Mỗi khi bão gió, lũ lụt xô về miền Trung, đi qua các làng quê nghèo của Quảng Trị, đều gợi nên nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi nơi những đứa con xa quê. Tạ Nghi Lễ là một hồn thơ như thế.

Thơ Tạ Nghi Lễ là tiếng lòng của kẻ tha hương phương Nam, đau đáu, dằn vặt, xót xa khi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn. Nhiều bài thơ không nén nỗi cảm xúc, “Có nơi mô như ở quê mình / Bưng bát cơm ăn sao đắng cả lòng / Có nơi mô như ở quê mình / Mẹ đợi con tóc hóa ngàn lau trắng / Có nơi mô như ở quê mình/Khúc ruột thắt giữa hai miền đất nước.(Quê mình). Quảng Trị trong thơ Tạ Nghi Lễ là khung trời thị xã yên bình, là kỉ niệm làng quê ngày thơ dại, là khói lửa chiến tranh, là món quê hương thèm đến nao lòng, là em cuối chân trời trôi dạt, là tiếng cầu kinh tha thiết, trầm buồn:

– Chiều thị xã, hương sầu đông thơm ngát

Tiếng ve khô, cong ngọn gió Nam Lào

– Tôi chú bé ngày xưa trọ học

Phượng rụng vai người xao xác mùa thi

(Về)

Có một bài thơ được Nguyễn Phú Yên phổ nhạc, Quang Linh hát và nhiều người yêu thich. Bài thơ có tên Chị ơi, sao nghẹn ngào, đau xót đến tận cùng như thế ở trên cuộc đời này ! Người chị ở quê. Tuổi bốn mươi mới in thiệp cưới. Thiệp cưới in xong, chưa kịp gửi về. Cơn lũ lớn đi qua. Khắc nghiệt thay, “Lũ cuốn trôi nhà và chị… chị ơi!”. Thế là hết. Màu trắng của mưa và màu trắng khăn tang:

Cha cố nuốt nước mắt vào trong,

không nói nên lời

Cả nhà phủ một màn mưa trắng

Mưa trắng trời hay trắng cả con tim?

Em không về kịp nữa chị ơi!

Mưa trắng cả một trời Quảng Trị.

Nhiều bài thơ viết về Quảng Trị của Tạ Nghi Lễ được phổ nhạc, như Quê mình, Nhớ về Quảng Trị, Thị xã tôi về, Quảng Trị trong tôi, Quảng Trị, quê hương tôi,… được các ca sĩ Thu Hiền, Vân Khánh, Quang Linh, Thiên Bảo,Tú Anh,… thể hiện, làm nên một nét riêng, đậm đà, tha thiết, một tiếng lòng với vùng gió Lào cát trắng.

Quảng Trị, vẫn là nơi tha thiết đi về của bao tâm hồn, vẫn là nơi neo đợi những chờ mong, lưu luyến. Dòng sông thơ về Quảng Trị vẫn ngày đêm chảy giữa đôi bờ thương nhớ!

HUỲNH VĂN HOA

Chia sẻ liên kết này…

Gia Sư Sư Phạm Cảm Nhận Về Bài Thơ Sóng Hay Nhất

Viết về tình yêu, nhà thơ Xuân Diệu từng nói:

Gia sư sư phạm thấy rằng tình yêu lúc nào cũng vậy, luôn gắn liền và trở thành một phần không thể thiếu của tuổi trẻ. Những ai còn yêu là vẫn còn trẻ. Có lẽ chính vì thế mà biết bao người nghệ sĩ trẻ đã động lòng khơi nguồn cảm hứng để viết nhiều và viết mãi về đề tài này. Và là một người trẻ hơn ai hết, nữ sĩ Xuân Quỳnh đã sáng tác nên tác phẩm “Sóng” để ghi lại những tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ của người phụ nữ trong tình yêu.

Nhắc đến Xuân Quỳnh, người ta nhớ đễn một nữ sĩ đa tài đa sắc toàn vẹn. Cô không chỉ là nhà thơ mà còn là diễn viên múa, nhà báo, nhà viết kịch nổi tiếng thời bấy giờ. Thế nhưng, cuộc đời của Xuân Quỳnh lại thật nhiều trắc trở thương cảm. Khi còn nhỏ, cô đã phải sống xa người mẹ của mình, ở quê ở với ông bà. Lớn lên còn trải qua một lần đổ vỡ trong tình yêu hôn nhân. Có lẽ chính vì thế, cô luôn khát khao tình yêu và thơ của Xuân Quỳnh luôn da diết thứ hạnh phúc gia đình bình dị. Không chỉ vậy, thơ cô còn hướng ngòi bút về tuổi thơ với niềm vui nhỏ bé nhưng dễ thương của những em nhỏ. Thơ Xuân Quỳnh khác hoàn toàn với thơ của những nhà nghệ sĩ khác cùng thời ở chỗ cô dùng tâm hồn và tâm lòng của một người phụ nữ vừa cá tính vừa dị dàng để cảm nhận thế giới vạn vật xung quanh. Người ta vẫn hay gọi đó là chất “thiên tính nữ” trong văn học bao thời.

Trung tâm tìm gia sư tại tphcm nhận thấy tác phẩm “Sóng” tiêu biểu cho phong cách sáng tạo nghệ thuật của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Vào một ngày cuối năm, đứng trước biển cả bao la, giữa không gian rộng lớn của đất trời và sự dài lâu của thời gian, Xuân Quỳnh đã được khỏi nguồn cảm hứng để viết tác phẩm này. Thông qua hình tượng sóng gần gũi mà nên thơ, Xuân Quỳnh đã phản ánh những điều bí ẩn thiêng liêng của tình cảm người phụ nữ trong tình yêu.

Gia sư môn văn tại tphcm nhận thấy rằng để hiểu rõ tầng sâu ý nghĩa của tác phẩm, ta nên chia văn bản làm từng phần nhỏ để tìm hiểu và phân tích. Hai khổ đầu là những nhận thức về tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng sóng. Hai khổ thơ tiếp theo là những suy nghĩ trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu. Ba khổ tiếp nữa là lời khẳng định về nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái trong tình yêu. Và cuối cùng là phần còn lại thể hiện khát vọng muốn được vĩnh cửu hóa tình yêu.

Điểm nổi bật nhật về nghệ thuật của “Sóng” có lẽ là nhịp điệu của bài thơ. Có khi nhịp nhàng, miên man có khi lại dữ dội, dịu êm. Nhịn điệu ấy được tạo nên từ cách sử dụng thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp linh hoạt và cách gieo phần, phối thanh đa dạng. Đọc qua ta tưởng như trước mắt mình cũng chính là biển, là những con sóng vỗ bờ không dứt. Thông qua nghệ thuật ấy, tác giả còn khéo léo truyền tải những tầng sâu ý nghĩa.

Sóng biển đã khơi nguồn cảm hứng để Xuân Quỳnh sáng tác. Bởi lẽ, cô tìm thấy ở sóng biển sự tương đồng với tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu. Con sóng ở tự nhiên luôn mênh mông rộng lớn giữa biển cả bao la và tồn tại nhiều đối cực, những trạng thái khác nhau. Cuộc hành trình sóng biển tới bờ cũng đầy tạo bạo. Và điểm khởi đầu, nơi khơi nguồn cũng chúng cũng đầy bí ẩn. Không chỉ vậy, sóng còn luôn luôn vận động. Nó đã trở thành một quy luật bất biến khi sóng luôn tìm về bến bờ của riêng mình. Và quan trọng hơn cả, sóng biển vĩnh cửu và trường tồn cùng với thời gian. Tình cảm của người phụ nữ khi cũng hẳn nhiên mang những điểm tương đồng như thế.

Gia sư dạy tiếng anh tphcm thấy rằng thông qua tác phẩm “Sóng” của Xuân Quỳnh ta cảm nhận được vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu và thủy chung của người phụ nữ trong tình yêu. Không chỉ vậy, họ còn táo bạo, mãnh liệt, dám vượt mọi trở ngại gian nan để sẵn sàng đi tìm và giữ gìn hạnh phúc của riêng mình. Dù cho thời gian có vô hạn, đời người có hữu hạn, chúng ta có lo âu trước bước đi tạo hóa cũng không thể phá vỡ niềm tin vào sức mạnh trường tồn vĩnh cửu của tình yêu. Đó chính là những thông điệp mà nữ sinh muốn truyền tải đến chúng ta thông qua tác phẩm này

Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

cảm nhận về bài thơ sóng hay nhất

cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài sóng

cảm nhận tác phẩm sóng của xuân quỳnh

cảm nhận về khổ 5 6 7 bài sóng

những nhận định về bài thơ sóng

cảm nhận bài thơ sóng khổ 1 2

những bài văn hay về sóng

cảm nhận về hai khổ thơ cuối bài sóng

hình tượng sóng và cảm nhận của em về hình tượng người phụ nữ

Các bài viết khác…

Các Bài Viết Về Thành Cổ Quảng Trị

Người thành cổ Quảng trị

Thành cổ nằm ngay trung tâm thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A khoảng 2km về phía đông và cách dòng sông Thạch Hãn khoảng 500m về phía nam.

Ban đầu Thành cổ được đắp bằng đất, đến năm 1827 được vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Thành có hình vuông, chu vi tường thành 2.000m, cao 9,4m, bao quanh có hệ thống hào, có bốn cửa Đông Tây Nam Bắc. Sau này Thành cổ vừa là công trình quân sự, vừa là trụ sở chính của nhà Nguyễn trên đất Quảng Trị (1909-1945). Năm 1972, trải qua 81 ngày đêm Thành cổ như một túi bom của kẻ thù. 81 ngày đêm, từng giờ từng phút trôi đi là biết bao mất mát, biết bao máu xương trộn lẫn với từng nắm đất nơi đây Thành cổ bị san bằng, chỉ còn sót lại một cửa phía đông.

Đến nay, trên những bức tường thành vẫn còn chi chít mảnh bom đạn. Qua một chiếc cầu bắc qua con sông nhỏ dẫn chúng tôi đến cổng thành vào bên trong. Khác với tưởng tượng của tôi, Thành cổ không có một ngôi mộ riêng nào cả. Sừng sững trước mắt tôi là một đài tưởng niệm duy nhất giữa bốn bề cỏ non và cây xanh mơn mởn.

Tượng đài được xây dựng khá cao, hình tròn tượng trưng nấm mồ chung cho những người con đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Bước lên đài tưởng niệm, du khách có thể nhìn được toàn cảnh Thành cổ. Tượng đài tạo ra một thế lưỡng nghi, trên là phần dương, dưới là phần âm. Phần dương có một lỗ thông từ dương xuống âm và hai nửa vầng trăng khuyết. Nó như diễn tả triết lý kinh Dịch: Trong âm có dương và trong dương có âm.

Phía bên dưới là phần âm, bên trong phần âm có đặt hành trang người lính (mũ và balô). Phần dương hướng lên trời với một cây Thiên mệnh. Nó có ý nghĩa đưa linh hồn các chiến sĩ đến sự siêu thoát trên thiên đường. Cây thiên mệnh đó xuyên qua ba áng mây tượng trưng cho: thiên, địa, nhân.

Phía trên cây thiên mệnh có một ngọn nến, tượng trưng cho ánh hào quang tỏa sáng nơi nơi. Và cũng là để nhắc nhở thế hệ sau luôn nhớ đến công lao trời biển của cha ông mình. Dưới tầng mây cuối cùng có hình tượng trưng cho ba bát cơm cúng người đã khuất. Điều đặc biệt là ngoài vòng tròn có gắn 81 tờ lịch, thể hiện 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt giữ Thành cổ của quân giải phóng.

Từng đoàn người bước lên dâng hương, hoa tưởng niệm. Khúc mặc niệm vang lên là lúc thiêng liêng nhất, không ai cầm nổi nước mắt.

Khi cô hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến Bảo tàng Thành cổ, tôi không khỏi xúc động trước những di vật còn lại nơi đây. Là thế hệ trẻ, chưa một lần biết đến khói lửa chiến trường. Nơi đây còn minh chứng cho quá khứ hào hùng của dân tộc.

Những lá thư nặng lòng của người con gửi về quê mẹ, tinh thần lạc quan của các chiến sĩ trẻ với những nụ cười ngời lên trong bom đạn… Những dòng nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Kỳ Sơn viết trước lúc hi sinh khoảng một tuần: “19-8-1972: Ngày mai tôi giáp trận. Ác liệt, đấy là một điều tất nhiên của chiến trận. Rất có thể rồi đây tôi sẽ ngã xuống.

Không can gì, đấu tranh là phải đổ máu. Có máu mới có màu đỏ, có chiến thắng. Không sợ chết, không sợ hi sinh, gian khổ. Cái chủ yếu là phải sống. Cuộc sống đẹp nhất là sống trong chiến trận. Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời được tôi rèn”. Thiết nghĩ trong thời bình hôm nay, đó vẫn là lý tưởng sống mà tuổi trẻ hôm nay nên noi theo: “Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời được tôi rèn”.

Nhìn làn khói hương nghi ngút lan tỏa ở đài tưởng niệm, tôi chợt nhớ đến những câu thơ của cựu chiến binh Lê Bá Dương, khi ông trở lại chiến trường xưa rải những bông hoa trắng xuống dòng Thạch Hãn:

“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Những tuổi đôi mươi thành sóng nước

Giữ yên bờ bãi mãi ngàn năm…”.

(K9 ĐH Văn hóa Hà Nội)/ chúng tôi

Ngày 1.5.1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng hoàn toàn. Quảng Trị là một địa danh được thế giới biết đến bởi nơi đây từng là mảnh đất ác liệt nhất, mang nhiều “dấu tích” của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Những cái tên: Thành cổ, địa đạo Vịnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, hàng rào điện tử McNamara, căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu… trở thành điểm đến của khách du lịch trong nước và quốc tế.

Sau giải phóng, tượng đài tưởng niệm liệt sĩ hy sinh ở thành cổ được xây dựng. Tượng đài hình tròn tượng trưng nấm mồ cho những người đã mất. Tượng đài tạo ra một thế lưỡng nghi, trên là phần dương, dưới là phần âm. Phần dương có một lỗ thông từ dương đến âm và hai nửa vầng trăng khuyết, thể hiện dương có âm và âm có dương.

Trong phần âm có đặt hành trang người lính (mũ và balô), phần âm hướng lên trời, một cây thiên mệnh với ý nghĩa đưa linh hồn các liệt sĩ lên chốn thiên đường. Cây thiên mệnh xuyên qua ba áng mây thể hiện: Thiên (trời), địa (đất) và nhân (người).

Phía trên cây thiên mệnh có một ngọn nến tượng trưng ánh hào quang toả sáng, dưới tầng mây cuối cùng có gắn hình tượng chung cho ba bát cơm cúng người đã khuất. Ngoài vòng tròn có gắn 81 tờ lịch, thể hiện 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt giữ thành cổ của các chiến sĩ quân giải phóng. Phía dưới tượng đài làm theo hình bát quái.

Nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị, Ngân hàng Công thương VN đã hỗ trợ kinh phí để xây dựng tháp chuông (quả chuông nặng trên 7 tấn, trị giá gần 4 tỉ đồng).

Tháp chuông được đặt tại quảng trường từ thành cổ đến bờ sông Thạch Hãn, được khánh thành vào sáng ngày 29.4.2007; để đến ngày lễ, ngày rằm, tiếng chuông vang lên, siêu thoát linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh.

Quảng trường đã nối liền không gian giữa thành cổ và dòng sông Thạch Hãn – dòng sông nghĩa trang. Dòng sông này là nơi yên nghỉ của không biết bao nhiêu chiến sĩ từ bờ bắc vượt sông vào thành cổ để chiến đấu.

Hàng năm, cứ đến ngày 30.4 hay ngày 27.7, nhân dân ở đây lại thả những bó hoa xuống dòng sông để tưởng nhớ các liệt sĩ. Tưởng nhớ đồng đội đã không trở về, một người lính chiến đấu bảo vệ thành cổ đến bên dòng sông, thả hoa, rót chút rượu xuống dòng nước và viết: Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Những tuổi đôi mươi thành sóng nước/ Giữ yên bờ bãi mãi ngàn năm”.

Người trở về từ Thành Cổ Quảng Trị

TP- Một sáng mùa hè năm 2005, sau ba mươi tư năm, kể từ ngày những sinh viên trẻ măng rời Hà Nội vào chiến trường máu lửa, có một người cựu chiến binh – thương binh đến trồng bên mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc hai cây bạch đàn.

Đây loài cây mà Nguyễn Văn Thạc yêu thích, được nhắc tới nhiều lần trong những trang nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi. Anh là đồng đội, nhập ngũ cùng ngày với Nguyễn Văn Thạc (6/9/1971), nhưng may mắn hơn, anh đã có cơ hội đi tiếp vào “chảo lửa” Quảng Trị, có mặt trong 81 ngày đêm khốc liệt và bi tráng của Thành Cổ trong mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Người cựu chiến binh đó là ông Nguyễn Quốc Triệu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đấu tranh thống nhất đất nước, Quảng Trị là chảo lửa tiếp tuyến giữa hai miền Nam – Bắc, nơi đụng độ quyết liệt giữa ta và địch. Người ta ước tính rằng, cứ mỗi mét vuông đất ở Quảng trị phải hứng chịu 250 kg bom pháo. Số lượng đạn bom của kẻ thù dội xuống Quảng Trị có sức công phá bằng 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945.

Tính riêng ở Thành Cổ, trung bình một chiến sĩ giải phóng phải hứng chịu 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Có ngày địch xả vào Thành Cổ 5.000 quả đại bác, vài chục lượt B52 quần đảo.

Cho đến nay, chưa có con số thống kê chính xác bao nhiêu người lính đã nằm lại Thành Cổ Quảng Trị. Có tài liệu ghi hơn một vạn, có tài liệu ghi hơn một vạn rưỡi, nhưng tại nghĩa trang Thành Cổ chỉ quy tập được chưa đầy một ngàn nấm mộ, hầu hết là vô danh.

Biết bao chiến sĩ trẻ vừa rời giảng đường đại học đã mãi mãi nằm lại trong đống đổ nát của Thành Cổ và cả dưới dòng sông Thạch Hãn. Lê Bá Dương đã viết những câu thơ yêu thương máu ứa: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”.

Máu xương của hơn một vạn người lính đã nằm xuống Thành Cổ ngày ấy đã góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris 1973 và Đại thắng Mùa xuân năm 1975. Nhiều người trong lớp sinh viên vào tuyến lửa năm ấy may mắn được trở về cứ mãi đau đáu với nghĩa tình đồng đội, lao vào cuộc chiến đấu mới trong công cuộc xây dựng đất nước, gánh cả phần việc của những đồng đội đã hy sinh.

Cùng với ông Nguyễn Quốc Triệu, đồng đội năm ấy nhiều người hôm nay cũng đang nắm giữ các trọng trách khác nhau như ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Biên tập báo Nhân dân và hàng ngàn kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ, nhà khoa học, nhà văn hoá… hoạt động trên nhiều lĩnh vực công tác.

Ông Nguyễn Trọng Bường, một cựu chiến binh Thành Cổ người Quảng Trị đã rưng rưng hồi tưởng lại trong lễ trao Kỉ niệm chương bảo vệ thị xã Thành Cổ ngày 22/12/2006 tại Hà Nội: “Hồi đó, thấy mấy anh từ Bắc vô, anh nào cũng trắng trẻo, thư sinh, đẹp trai, nhìn mấy anh tụi tui thấy tiếc, cứ nghĩ những người như mấy anh phải đi học, phải là bác sĩ, kỹ sư để xây dựng đất nước chứ răng lại vô đây cầm súng chiến đấu?”.

Vậy đó, chính lớp chiến sĩ – sinh viên ấy đã làm nên trang sử hào hoa trong khúc ca bi tráng của Thành Cổ Quảng Trị. Đúng như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, khi nói về những người lính Thành Cổ đã viết: “Những người chết không phải vì để trở thành anh hùng mà chính là để đằng sau họ những người khác được tiếp tục sống trong tự do và hoà bình, chết cho nhân loại sống còn và thức tỉnh”.

Không có may mắn đi hết cuộc chiến tranh, không được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, nhưng trong những thời khắc máu lửa, trong những giờ phút đối mặt với cái chết, đối mặt với thử thách khốc liệt ấy, người lính trẻ Nguyễn Quốc Triệu cùng đồng đội Trương Xuân Hương đã vinh dự được kết nạp Đảng tại trận (ngày 25/8/1972). Đó là 2 chiến sĩ tiêu biểu của cả Đại đội quân y, được chọn lựa sau thử thách một chiến dịch ác liệt.

Lễ kết nạp Đảng tổ chức ngay trong một căn hầm dã chiến ở thôn An Khê, xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Giờ phút thiêng liêng trước Đảng kỳ năm đó mãi in sâu trong tâm trí ông: “Đồng đội ơi, sao đồng đội không về/ Vinh dự thế mà lòng son máu ứa/ Trên nóc hầm vẫn gầm gào đạn nổ/ Ôm súng xông lên sau phút thiêng này”(thơ Lê Cảnh Nhạc).

Về cuộc pháo kích dữ dội khiến ông Nguyễn Quốc Triệu bị thương năm ấy, ông Ngô Thản – nguyên Chủ nhiệm hậu cần Trung đoàn18 chiến đấu ở phía Nam Thành Cổ Quảng Trị và ông Dung- nguyên là chiến sĩ y tá, quê Thái Bình kể lại: Đó là một ngày khốc liệt. Khi C24 vừa được điều động đến địa điểm tập kết thì địch nã pháo dồn dập vào trúng đội hình đại đội quân y. Căn hầm chữ A của ông Triệu và một đồng đội khác bị quả đạn pháo gần kề cắt đứt nóc.

Cả “cái mũ” chữ A bay đi. Ngớt tiếng bom pháo, ông Ngô Thản cùng Đại đội trưởng Phan Ngọc Sơn đi kiểm tra thì thấy ông Triệu bị thương nặng ở ổ bụng, máu tuôn trào. Đại đội trưởng Phan Ngọc Sơn và y tá Trương Xuân Hương cõng ông Triệu xuống xuồng máy, cho chở ngay ra bệnh viện mặt trận ở Cam Lộ. Xuồng chở ông Triệu đi được nửa chừng thì chết máy.

Tình hình hết sức nguy cấp. Vết thương ở ổ bụng càng ra máu nhiều, nếu không nhanh thì tính mạng khó qua khỏi. Vậy là các chiến sĩ quân y phải bỏ xuồng máy, khiêng ông Triệu và các đồng chí thương binh chạy bộ 3 cây số mới tới bệnh viện mặt trận đặt tại Cùa. Hôm đó may mắn là bệnh viện vừa được tăng cường đội điều trị của quân y viện 103 từ miền Bắc nên anh Triệu đã được cứu sống…

Đã ba mươi sáu năm trôi qua, trang sử bi tráng của 81 ngày đêm máu lửa ở Thành Cổ Quảng Trị vẫn trào dậy trong kí ức những Cựu chiến binh- Người lính – Sinh viên hào hoa mà trung kiên năm ấy. Hằng năm, cứ đến ngày 6/9 – ngày lớp sinh viên trẻ rời giảng đường đại học vào tuyến lửa, các anh Nguyễn Quốc Triệu, Đinh Thế Huynh, Trịnh Quân Huấn, Trương Xuân Hương, Đỗ Hán, Dương Cao Tường, Nguyễn Văn Khanh, Trần Sỹ Lập, Hoàng Văn Dung … và nhiều đồng đội cũ lại gặp nhau để ôn lại những kỷ niệm chiến trường, gắng làm điều gì đó cho đồng đội, cho những người đã hy sinh.

Mãi ba mươi lăm năm sau, ông Nguyễn Quốc Triệu mới tìm lại được đại đội trưởng Phan Ngọc Sơn của mình, cũng là người giới thiệu ông vào Đảng, hiện đang công tác ở Hội Chữ thập đỏ Cần Thơ. Ông Bộ trưởng tóc hoa râm khiêm nhường chào Thủ trưởng như đang đứng giữa hàng quân ba mươi lăm năm về trước.

Người đại đội trưởng năm nào nay tóc mây mướt gió, tâm hồn nghệ sĩ, thấp thoáng bóng dáng của tài tử hào hoa, sống chan hòa vào cỏ cây hoa trái của bình dị đời thường. Họ đều trở về từ Thành Cổ Quảng Trị, mỗi người một vị trí khác nhau nhưng cùng có một điểm chung, đó là tuổi tác và thời gian không thể xoá nhòa được dư âm hào sảng của năm tháng chiến trường gắn bó bên nhau, vào sinh ra tử, với tâm hồn trong sáng, vô tư và tình yêu cuộc sống thiết tha của một thời Sinh viên – Chiến sĩ.

Thành cổ Quảng Trị – Du ký mùa thu

Quảng Trị: một thời khói lữa – Du ký mùa thu

Nhưng nhắc đến Quảng Trị, có lẽ người ta nhớ nhiều hơn về những khía cạnh lịch sữ đã được ghi vào vùng đất này. Đây chính là vùng đất chia cắt 2 miền Nam – Bắc của Việt Nam tại vỹ tuyến 17. Cho đến nay, cây cầu Hiền Lương ở vỹ tuyến 17 vẫn còn hiện diện như là chứng nhân lịch sữ của một thời kỳ binh đao khói lữa.

Chính vì vị trí đặc biệt như vậy, Quảng Trị đã trở thành một khu vực tranh chấp hết sức quyết liệt giữa hai phía Bắc – Nam . Là chiến trường của những trận đánh khốc liệt mà mỗi bước tiến công đều phải trả giá bằng sự ngã xuống của hàng ngàn chiến sĩ của cả hai phía. Cũng bởi vì vậy, cả hai nghĩa trang liệt sĩ to nhất nước đều tập trung ở vùng này: Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường Sơn và Nghĩa Trang Thành Cổ Quảng Trị. Và đây cũng chính là nơi đã diễn ra rất nhiều các đại lễ trai đàn cầu siêu cho các oan hồn đã khuất.

Trận đánh lớn nhất ở khu vực này chính là Chiến dịch Xuân hè 1972 (còn gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa). Đây là cuộc tổng tấn công chiến lược bằng các chiến dịch tiến công quy mô lớn, hiệp đồng binh chủng của quân đội nhân dân Việt Nam (Bắc Việt), tiến công sâu hệ thống phòng ngự của quân đội Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt). Chiến sự ác liệt nhất diễn ra ở khu vực Trị Thiên (Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) với thương vong rất nhiều dành cho cả hai phía.

Thành Cổ Quảng Trị nằm ngay ở trung tâm thị xã Quảng Trị, cách quốc lộ 1A khoảng 2km về phía Đông, cách bờ sông Thạch Hãn 500m về phía Nam.

Đây vừa là công trình thành luỹ quân sự, vừa là trụ sở hành chính của nhà Nguyễn trên đất Quảng Trị từ năm 1809 đến năm 1945. Theo các nguồn tài liệu thì vào đầu thời Gia Long, thành được xây dựng tại phường Tiền Kiên (Triệu Thành – Triệu Phong), đến năm 1809, vua Gia Long cho dời đến xã Thạch Hãn (nay là phường 2 thị xã Quảng Trị).

Lúc đầu, thành được đắp bằng đất, đến năm 1827, vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch. Khuôn viên Thành Cổ Quảng Trị có dạng hình vuông với chu vi tường thành là 481 trượng 6 thước (gần 2000m), cao 1 trượng 94m), dưới chân dày 3 trượng (12m). Bên ngoài thành có hệ thống hào rộng bao quanh. Bốn góc thành là 4 pháo, đài cao, nhô hẳn ra ngoài. Các cửa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu xây vòm cuốn, rộng 3,4m, phía trên có vọng lâu, mái cong, lợp ngói, cả 4 cửa đều nằm chính giữa 4 mặt thành.

Nội thành có các công trình kiến trúc như Hành cung, cột cờ, dinh Tuần Vũ, dinh án Sát, dinh Lãnh Binh, Ty Phiên, Ty Niết, kho thóc, nhà kiểm học, trại lính … Trong đó, Hành cung được xem là công trình nổi bật nhất: bao bọc xung quanh là hệ thống tường dày, chu vi 400m, có hai cửa. Hành cung là một ngôi nhà rường, kết cấu 3 gian, 2 chái, mái lợp ngói liệt, trên có trang trí các hoạ tiết: rồng, mây, hoa, lá… Đây là nơi để vua ngự và thăng quan cho các quan cấp tỉnh ở Quảng Trị hay tổ chức các lễ tiết trong năm.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt chính quyền bảo hộ thì Thành Cổ lại có thêm nhà lao, toà mật thám, trại lính khố xanh, cơ quan thuế đoạn… Từ năm 1929 đến năm 1972, nhà lao Quảng Trị là nơi giam cầm các chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước và chính nơi đây đã trở thành trường học chính trị, để rèn luyện ý chí son sắt, đấu tranh trực diện với kẻ thù của những người yêu nước.

Thành Cổ Quảng Trị còn được thế giới biết đến và kính phục bởi cuộc đấu tranh anh dũng để bảo vệ Thành Cổ suốt 81 ngày đêm của các chiến sĩ giải phóng quân và nhân dân Quảng Trị

Hai phần ba tỉnh Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng vào đầu năm 1972 là sự quyết định thắng lợi tại bàn Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Vì vậy, để làm thay đổi hội nghị, Mỹ – ngụy đã âm mưu huy động tối đa lực lượng và phương tiện nhằm tái chiếm thị xã Quảng Trị mà trong đó mục tiêu đánh phá hàng đầu là Thành Cổ.

Tại thị xã nhỏ bé chưa đầy 2Km2 này, địch đã tập trung vào đây mỗi ngày 150 – 170 lần máy bay phản lực, 70 – 90 lần máy bay B52, 12 – 16 tàu khu trục, tuần dương hạm, 2 sư đoàn dù và thuỷ quân lục chiến, 1 liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp (với 320 xe tăng, xe bọc thép) và hàng chục tiểu đoàn pháo cỡ lớn…

Chỉ trong vòng 81 ngày, Mỹ- ngụy đã ném xuống đây gần 330.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Riêng ngày 25/7, chúng xả vào Thành Cổ hơn 5000 quả đại bác.

Trước cuộc tấn công cực kỳ dã man đó, quân và dân ta dù số lượng không đông (các đơn vị của sư 320, 308, 325 là chủ yếu) song với ý chí quyết tâm cao độ, tinh thần chiến đấu kiên cường đã đánh địch bật ra khỏi Thành Cổ và cả thị xã mà có khi “mỗi mét vuông đất là cả một mét máu”.

Chiến công ở Thành Cổ Quảng Trị đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam những trang hào hùng. Thành Cổ là nơi hi sinh cao quý của biết bao chiến sĩ giải phóng quân và nhân dân Quảng Trị anh hùng.

Do phải gánh chịu một khối lượng bom đạn khổng lồ trong chiến tranh nên từ sau hoà bình lập lại, Thành Cổ chỉ còn dấu vết của một số đoạn thành, lao xá, cổng tiền, hậu…

Từ năm 1993 – 1995, hệ thống hào, cầu, cống, một số đoạt thành, cổng tiền đã được tu sửa, hàng nghìn cây dừa đã mọc lên phía trong thành. Đặc biệt một đài tưởng niệm lớn đã được xây dựng ở chính giữa Thành Cổ. Đài tưởng niệm được đắp nổi bằng đất có hình một nấm mồ chung, bốn phía gia cố xi măng tạo thành hình bốn cửa của Thành Cổ, phía trên là nơi để mọi người thắp hương tưởng niệm.

Hiện nay Thành Cổ được Nhà nước đầu tư để tôn tạo các khu vực:

– Khu ghi dấu ấn về cuộc chiến đấu 81 ngày đêm ở góc Đông Nam, tái toạ lại chiến trường năm 1972 với hầm hào, công sự, hố bom… Tại đây sẽ đặt 81 khối đá tự nhiên tạc văn bia mô tả cuộc chiến đấu phi thường của quân và dân ta.

– Khu phục dựng Thành Cổ nguyên sinh: ở phía Đông bắc, thu nhỏ kiến trúc các công trình cổ, trồng một rừng mai vàng để gợi biểu tượng non Mai sông Hãn.

– Khu công viên văn hoá: ngoài tượng đài và nhà trưng bày bổ sung hai tầng, tại phía tây và tây nam này xây dựng một công viên có nhiều lối đi, ghế đá, cây cảnh, hồ nước, sân chơi,…

Thành Cổ Quảng Trị là địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước và là điểm thu hút hấp dẫn khách tham quan trong nước và bè bạn quốc tế

Theo www.dostquangtri.gov.vn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quảng Trị trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!