Đề Xuất 1/2023 # Triết Lí Đạo Đức Trong Bài Thơ “Ánh Trăng” # Top 7 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 1/2023 # Triết Lí Đạo Đức Trong Bài Thơ “Ánh Trăng” # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Triết Lí Đạo Đức Trong Bài Thơ “Ánh Trăng” mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đời người là chuỗi dài những ghềnh thác mà cũng có khi phẳng lặng như ao thu. Và đôi khi trong những khoảng lặng như vậy, con người dễ lãng quên những ghềnh thác để rồi khi chợt nhận ra nó không khỏi có những day dứt ám ảnh.

Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy là tiếng lòng, là sự suy ngẫm, là một lần “giật mình” của nhà thơ trước điều vô tình dễ có ấy. Nó có ý nghĩa như một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở chúng ta đừng quên đi những gì đẹp đẽ đã gắn bó với con người trong quá khứ.

Nguyễn Duy như thủ thỉ với chúng ta câu chuyện về một người bạn thân quen đã cùng đi suốt những chặng hành trình từ quá khứ đến hiện tại.

Bài thơ mở đầu bằng dòng hoài niệm, nhịp thơ trầm lắng chậm rãi.Câu chuyện về quá khứ hiện lên đẹp đẽ trong một giọng điệu tâm tình :

Không gian bao la: với đồng, sông, biển trải dài theo theo thời gian quá khứ ấu thơ, có hình ảnh trăng gắn bó với con người mọi lúc mọi nơi.

Dòng chảy thời gian lại tiếp nối với những năm tháng chiến tranh ở rừng, vẫn có hình ảnh trăng luôn gắn bó cùng với sự trưởng thành của con người. Trăng đã được nhân hóa để trở thành người bạn tri kỉ. Tri kỉ là bạn thân, hiểu biết nhau, cùng chia ngọt sẻ bùi trong những gian lao và hạnh phúc. Kí ức về một tình bạn cao đẹp trong những năm tháng chiến tranh thật đáng giữ gìn trân trọng.

Mỗi lần nhớ đến quá khứ ấy, hình ảnh trăng hiện ra không chỉ có hồn mà còn mang vẻ đẹp hoang sơ mộc mạc:

Trần trụi với thiên nhiên

Trần trụi gợi lên sự thành thật, tô vẽ, chan hòa với thiên nhiên không một chút ngần ngại, không có gì phải che giấu. Hình ảnh so sánh “hồn nhiên như cây cỏ” thể hiện một cách sống thanh thản lại gợi lên vẻ đẹp bình dị, hiền hậu, tình cảm chân thành. Cả hai đến với nhau bằng sự tương giao, tương cảm, nguyên sơ, trong sáng.

Có lẽ cái không gian mênh mông ở đồng, sông, biển, rừng đã khiến cho trăng và người có nhiều cơ hội để gắn bó với nhau hơn. Trong mấy dòng thơ đầu mà có đến ba từ với diễn tả niềm sung sướng của con người được sống trong những mối quan hệ giữa con người với xung quanh – không chỉ có thiên nhiên mà còn có cả nghĩa tình với quê hương, đồng đội, bạn bè. Vì vậy khi quá khứ đã đi qua, chỉ còn đọng lại trong con người cái tình nghĩa ấy :

cái vầng trăng tình nghĩa “

Câu thơ âm vang như bài ca “tôi không thể nào quên, tôi không thể nào quên…” gợi mở nhiều vấn đề khiến ta suy ngẫm.

Câu chuyện về những biến thiên của con người và cuộc đời được tác giả tiếp tục bộc bạch.

Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ Nguyễn Duy đã dùng thủ pháp đối lập để nói về những đổi thay: không gian tràn ngập hình ảnh thiên nhiên với đồng, sông, bể, rừng đã được thay bằng không gian thành phố với ánh điện, cửa gương. Hình ảnh vầng trăng tri kỉ, nghĩa tình năm xưa nay đã trở thành kẻ xa lạ:

như người dưng qua đường”

Cuộc sống giữa thế giới vật chất hiện đại, tiện nghi, khép kín trong “ánh điện, cửa gương” đã khiến con người trở nên thu mình, tâm hồn xơ cứng dễ trở thành vô tình vô cảm. Người bạn năm xưa nay như người dưng qua đường; thật đau xót biết bao!

Chính sự lãng quên ấy đã phá vỡ tình bạn, làm mất đi sợi dây nối liền giữa quá khứ và hiện tại. Câu thơ thật nhức nhối xót xa bởi sự quay lưng ở đây không chỉ với quá khứ, với đồng đội mà còn với chính bản thân mình.

Tất cả sẽ diễn ra trong dòng chảy của cuộc sống như một qui luật khách quan nhưng tâm lí con người cũng có những qui luật của nó, nhất là khi có bước ngoặt…

Tình huống bất ngờ xảy ra, đẩy dòng tự sự lên cao trào. Trong phút giây “thình lình” ấy, con người “vội bật tung cửa sổ” như một phản xạ bản năng thì chợt nhận ra “đột ngột vầng trăng tròn”. Một lần nữa, nhà thơ Nguyễn Duy lại sử dụng thủ pháp đối lập giữa cái tối om của gian phòng và cái ánh sáng của hiền dịu của vầng trăng tròn.

Hoá ra con người lãng quên trăng nhưng trăng không hề quên người. Trăng vẫn theo người ở đâu đó ngoài ngõ, bên cửa sổ… Trăng vẫn nguyên vẹn thuỷ chung như xưa. Trăng đã soi rọi cái góc tối, đánh thức sự lãng quên của con người.

Văng trăng ấy rất vị tha và khoan dung, lúc nào cũng sẵn lòng đón nhận người tri kỉ trong cảm xúc chan chứa trào dâng.

có cái gì rưng rưng?

“Ngửa mặt lên nhìn mặt” không còn là hành động ngắm trăng mà đó là phút giây tác giả đối diện với người bạn cũ, đối diện với chính mình và nhận ra “Có cái gì rưng rưng?” làm vỡ òa bao ký ức xa xăm có đồng, bể, sông, rừng …

Lời thơ bộc bạch chân thành, nhịp thơ hối hả dâng trào như con người đang hạnh phúc vì gặp lại cố nhân. Trăng vẫn tròn đầy viên mãn như xưa, nay lại thêm tấm lòng đầy bao dung, không mảy may oán trách:

đủ cho ta giật mình.

Trăng bao dung nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc trong thái độ “im phăng phắc” hay đó là sự nghiêm khắc của tác giả với chính mình, sự nghiêm khắc của một con người có lương tâm, biết giật mình phản tỉnh.

Cái giật mình ở cuối bài thơ mang một ý nghĩa sâu sắc đậm chất triết lý nhân bản. Giây phút đối diện với trăng là thời khắc nhà thơ ngộ ra lẽ sống và hoàn thiện mình.

Hegel nói: Cần phải nhìn vào bản thể bằng con mắt của tinh thần, vì nhìn bằng con mắt của nhục thể thì không thể thấy được chân lý và chiều sâu nhân bản. Câu chuyện Ánh trăng của Nguyễn Duy đã giúp chúng ta có được cái nhìn như thế.

Ánh trăng vừa mang ý nghĩa thực vùa có ý nghĩa biểu tượng. Hình tượng ánh trăng và nhân vật trữ tình được đặt trong một hệ trục đối lập gồm nhiều phương diện, từ bề nổi ngôn ngữ đến mạch ngầm tư tưởng: thời gian quá khứ – thời gian hiện tại, không gian tự nhiên – không gian hiện đại, ánh sáng – bóng tối, hướng ngoại – hướng nội… Những yếu tố nghệ thuật ấy góp phần tích cực để tạo sự vận động của mạch thơ để từ cảm xúc đến lí trí mà rút ra bài học mang ý nghĩa thẩm mỹ và triết lí nhân sinh.

Cái triết lý ấy giản dị nhưng sâu sắc như một chân lí, dễ nhớ như bài học đạo đức của con người: “Uống nước nhớ nguồn” – nhưng thật đáng tiếc là giữa đời sống này, có biết bao người hờ hững, lãng quên đến mức vong bản, vong thân.

Triết Lí Nhân Sinh Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong Bài Thơ Nhàn

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân , vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.

Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị :

Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khác, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc,cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đàng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền

Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:

Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai , những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực : một bên là nhà thơ xưng một cách ngạo nghễ, một bên là ; một bên là của Ta, một bên là của người ; một với một chốn lao xao . Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao . Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa ” Người đời tỉnh cả, một mình ta say ” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại . Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản :

Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư . Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát tục, tiêu biểu cho quan niệm ” độc thiện kỳ thân ” của các nhà nho . đồng thời có nét gần gũi với triết lí ” vô vi ” của đạo Lão, ” thoát tục ” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoà hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình . Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hoà hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang phu tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định :

Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình :

Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ () của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.

Bài thơ Nhàn bao quát toàn bộ triết trí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vi thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính./.

Cô Huỳnh Thị Thanh Xuân giới thiệu

Vẻ Đẹp Tâm Hồn Và Triết Lí Sống “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, còn có tên gọi là Trạng Trình. Ông là người học vấn uyên thâm, thông minh, chính trực, coi thường danh lợi. Ông sống trong thời đại phong kiến bắt đầu khủng hoảng khi Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Vì gặp thời buổi loạn lạc nên ông chỉ làm quan 8 năm rồi lui về ở ẩn, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, được người đời suy tôn là Tuyết Giang phu tử và qua đời ở tuổi 94 vào năm 1585. Lúc sinh thời, ông để lại cho nền văn học hai tập thơ: “Bạch Vân am thi tập” viết bằng chữ Hán với gần 700 bài và “Bạch Vân quốc ngữ thi” viết bằng chữ Nôm với gần 170 bài. Thơ của ông mang đậm triết lí, giáo huấn, ca ngợi chí của kẻ sĩ và cái thú thanh nhàn. Trong đó, bài thơ mang ý nghĩa sâu sắc và phong phú, nói lên triết lí sống cao đẹp của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong suốt hơn 40 năm sống ẩn dật. Bài thơ số 73 trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi” cho ta thấy một cách rõ ràng quan niệm sống nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm – “Nhàn”.

Thế nào là sống nhàn? Ngay từ câu thơ đầu tiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho ta câu trả lời. Sống nhàn chính là nhàn ở thân, nhàn ở công việc:

“Một mai, một cuốc, một cần câu”

Tác giả liệt kê ra các công cụ “mai”, “cuốc”, “cần câu” với số từ “một”, kết hợp với nhịp thơ chậm rãi, nhẹ nhàng, tái hiện cuộc sống lao động thôn quê đều đặn, thong thả. Một cuộc sống không tư lợi, bon chen, chỉ cần đáp ứng những nhu cầu tối thiểu rất giản dị và đơn sơ. Chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với dáng vẻ của một lão nông tri điền thuần hậu, chất phác, thư thái, ung dung, ngày ngày đào đất, cày ruộng, câu cá, tìm kiếm niềm vui trong công việc lao động chân tay vốn dành cho nhà nông. Câu thơ thứ hai càng thể hiện rõ hơn thái độ, tâm trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khi trực tiếp nói lên quan điểm sống của mình. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, “nhàn” không chỉ là ở thân mà còn là thảnh thơi, ung dung, mặc kệ những thú vui người đời:

“Thơ thẩn dù ai vui thú nào”

Câu thơ cho thấy ông rất an nhàn qua cụm từ “thơ thẩn”, gợi ra trạng thái thảnh thơi, lấy làm bằng lòng với cuộc sống đơn sơ, giản dị. Một con người đức cao vọng trọng, tài đức hơn người, được muôn dân kính trọng như thế mà nay tìm về nơi thôn dã, hoá thân thành một lão nông tri điền với những dụng cụ thô sơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm hoàn toàn kiên định với lựa chọn của mình, dù cho ai có “vui thú nào”, có tìm đến những vinh hoa phú quý với cuộc sống đủ đầy, ông vẫn chẳng màng danh lợi, không bận tâm tới cuộc sống bon chen kia, ông an nhiên với lối sống “thơ thẩn” mình đã chọn. Từ đó cho thấy tâm trạng của ông là một kẻ sĩ “an bần lạc đạo” vượt lên trên nỗi lo lắng bon chen tầm thường của người đời, từ ông toát lên một vẻ đẹp nhân phẩm khó có thể tìm được ở thời bấy giờ.

Lối sống nhàn vẫn được tiếp tục thể hiện qua cách sống thường ngày của ông ở hai câu luận:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Nguyễn Bỉnh Khiêm mô tả cuộc sống của mình khi về ở ẩn, tìm kiếm thú vui nơi thôn quê qua chuyện ăn uống, sinh hoạt. Câu thơ ngắt nhịp 1/3/1/2, kết hợp với nghệ thuật đối giữa bốn mùa xuân, hạ, thu, đông cùng với những từ ngữ hết sức giản dị, gần gũi. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ nên bức tranh tứ bình độc đáo với nhịp điệu tuần hoàn của thời gian đều đặn, thong thả, gợi ra hình ảnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở tâm thế chủ động, ung dung khi hoà nhịp sống của mình với nhịp điệu thiên nhiên. Câu thơ mở ra bức tranh bốn mùa với mùa nào thức ấy, có hương vị, có màu sắc. Tuy giản dị, đạm bạc với những món ăn dân dã, những sinh hoạt đời thường nhưng đó là lối sống thuận theo lẽ tự nhiên, hoà hợp với thiên nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa nơi thôn dã mà không cần phải mưu cầu tranh đoạt. Tất cả đều không hề khắc khổ bởi nó là điều đáng quý, bởi đó mà lại tạo ra khí điệu thanh cao nơi con người ông. Với lối sống này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có sự gặp gỡ với thi hào Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống

Đìa thanh, phát cỏ, ươm sen”

Cuộc sống tự do, thảnh thơi, tự tại mà biết bao bậc Nho sĩ mơ ước đến, nhưng mấy ai lại có được chữ “nhàn” này ở cái thời buổi loạn lạc kia?

Trở về hai câu thực, ta có thể thấy nhàn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là xa rời phường danh lợi, quyền quý:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao.”

Hai câu thơ không chỉ nói về lối sống nhàn, mà còn nói lên quan niệm dại – khờ đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nơi vắng vẻ và chốn lao xao là hai hình ảnh đối lập giữa hai không gian sống khác nhau. Một nơi yên tĩnh, ít người qua lại, không phải cầu cạnh, tranh đua, cũng chẳng phải bon chen, luồn cúi, giành giật – đó là “nơi vắng vẻ”, nơi thiên nhiên trong lành, con người có thời gian nghỉ ngơi, thư giản, nơi mà ông lui về ở ẩn, nơi Bạch vân am ông mở lớp dạy học. Còn nơi kia, nơi đô thị sầm uất, nhộn nhịp, nơi kinh thành quyền quý, tranh đoạt, con người phải đua chen, luồn cúi, sống giữa quan trường đầy mưu mẹo, lừa lọc, cả thiên nhiên và con người đều vô tình trật nhịp nhau, nơi mà ông gán cho cái danh: “chốn lao xao”.

Ông nhận “dại” về mình, nhường “khôn” cho người, thực ra là cách nói tinh tế, khéo léo thể hiện lối sống an bần lạc đạo, coi thường danh lợi. Cách nói ngược nghĩa này không chỉ hóm hỉnh, sâu sắc mà còn thể hiện khái niệm “dại” – “khôn” đầy ý vị theo quan niệm của riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ông cũng đã từng nói đến ở nhiều bài thơ khác:

“Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.”

Thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự phủ nhận danh lợi: “Để rẻ công danh đổi lấy nhàn”. Mọi thứ công danh, tiền tài đối với ông đều là vô nghĩa, chỉ có một chữ “Nhàn” là có nghĩa. Qua đó, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại được nâng lên một tầm cao mới, toát lên vẻ đẹp nhân cách, trí tuệ, thoát khỏi vòng lợi danh cuộc đời, một con người thanh cao, uyên thâm và sáng suốt.

Nguyễn Bỉnh Khiêm ông sống nhàn là thế, nhưng một chữ “nhàn” này lại khác biệt so với nhiều bậc Nho sĩ ẩn dật khác:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Câu thơ đã nhắc điển tích Thuần Vu Phần uống rượu, nằm mộng thấy mình được đến nước Hoè Nhai và được sống trong vinh hoa phú quý, đến khi tỉnh dậy chỉ thấy bản thân nằm dưới gốc cây hoè cạnh tổ kiến. Từ việc mượn điển tích đã thể hiện sự thông tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có lẽ chính bởi nền học vấn uyên thâm của ông về lý học cho nên ông rất hiểu về sự biến chuyển tuần hoàn của vạn vật, ông hiểu được rằng:

“Càng khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh”

Hiểu được có rồi sẽ mất, thịnh rồi sẽ suy… Chính vì hiểu rõ là thế, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm mới nhìn những điều diễn ra với một con mắt rất bình thản. Ông mang phong thái của một vị tiên, một bậc cao hơn thế nhân để mà đứng nơi cao nhìn xuống, để tìm đến rượu mà say, tìm đến say để tỉnh, tìm đến tỉnh để nhận ra rằng: công danh phú quý cuối cùng chỉ là một giấc mộng thoáng qua, như áng mây trôi bồng bềnh giữa trời, tất cả đều hư vô. Hai câu kết như một lời khẳng định về ý nghĩa của triết lí sống nhàn, thể hiện sự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phù phiếm.

Từ bài thơ ta rút ra được rằng phú quý không phải là đích đến cuối cùng trong cuộc đời mỗi người, cái tồn tại với con người mãi mãi là nhân cách, phẩm chất cao đẹp. Ta học được cái giữ gìn môi trường đang sống bằng cách chọn lối sống hoà hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên.

Bài thơ có sự nhuần nhuyễn giữa yếu tố Đường luật khi sử dụng các điển tích, hình ảnh ước lệ với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, tuân thủ chặc chẽ các niêm luật. Kết hợp với các yếu tố Việt hoá khi sử dụng chữ Nôm, các hình ảnh dân giã, quen thuộc và gần gũi, dãn dị. Đi cùng với sự ngắt nhịp hết sức linh hoạt, sáng tạo và hài hoà. Bài thơ là tiêu biểu cho quan niệm sống “nhàn” và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về một nhân cách lớn, một lối sống bình dị, thanh cao của một Bạch Vân cư sĩ.

Vẻ Đẹp Tâm Hồn Và Triết Lí Sống “Nhàn” Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, còn có tên gọi là Trạng Trình. Ông là người học vấn uyên thâm, thông minh, chính trực, coi thường danh lợi. Ông sống trong thời đại phong kiến bắt đầu khủng hoảng khi Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Vì gặp thời buổi loạn lạc nên ông chỉ làm quan 8 năm rồi lui về ở ẩn, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, được người đời suy tôn là Tuyết Giang phu tử và qua đời ở tuổi 94 vào năm 1585. Lúc sinh thời, ông để lại cho nền văn học hai tập thơ: “Bạch Vân am thi tập” viết bằng chữ Hán với gần 700 bài và “Bạch Vân quốc ngữ thi” viết bằng chữ Nôm với gần 170 bài. Thơ của ông mang đậm triết lí, giáo huấn, ca ngợi chí của kẻ sĩ và cái thú thanh nhàn. Trong đó, bài thơ mang ý nghĩa sâu sắc và phong phú, nói lên triết lí sống cao đẹp của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong suốt hơn 40 năm sống ẩn dật. Bài thơ số 73 trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi” cho ta thấy một cách rõ ràng quan niệm sống nhàn và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm – “Nhàn”.

Thế nào là sống nhàn? Ngay từ câu thơ đầu tiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho ta câu trả lời. Sống nhàn chính là nhàn ở thân, nhàn ở công việc:

“Một mai, một cuốc, một cần câu”

Tác giả liệt kê ra các công cụ “mai”, “cuốc”, “cần câu” với số từ “một”, kết hợp với nhịp thơ chậm rãi, nhẹ nhàng, tái hiện cuộc sống lao động thôn quê đều đặn, thong thả. Một cuộc sống không tư lợi, bon chen, chỉ cần đáp ứng những nhu cầu tối thiểu rất giản dị và đơn sơ. Chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với dáng vẻ của một lão nông tri điền thuần hậu, chất phác, thư thái, ung dung, ngày ngày đào đất, cày ruộng, câu cá, tìm kiếm niềm vui trong công việc lao động chân tay vốn dành cho nhà nông. Câu thơ thứ hai càng thể hiện rõ hơn thái độ, tâm trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khi trực tiếp nói lên quan điểm sống của mình. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, “nhàn” không chỉ là ở thân mà còn là thảnh thơi, ung dung, mặc kệ những thú vui người đời:

“Thơ thẩn dù ai vui thú nào”

Câu thơ cho thấy ông rất an nhàn qua cụm từ “thơ thẩn”, gợi ra trạng thái thảnh thơi, lấy làm bằng lòng với cuộc sống đơn sơ, giản dị. Một con người đức cao vọng trọng, tài đức hơn người, được muôn dân kính trọng như thế mà nay tìm về nơi thôn dã, hoá thân thành một lão nông tri điền với những dụng cụ thô sơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm hoàn toàn kiên định với lựa chọn của mình, dù cho ai có “vui thú nào”, có tìm đến những vinh hoa phú quý với cuộc sống đủ đầy, ông vẫn chẳng màng danh lợi, không bận tâm tới cuộc sống bon chen kia, ông an nhiên với lối sống “thơ thẩn” mình đã chọn. Từ đó cho thấy tâm trạng của ông là một kẻ sĩ “an bần lạc đạo” vượt lên trên nỗi lo lắng bon chen tầm thường của người đời, từ ông toát lên một vẻ đẹp nhân phẩm khó có thể tìm được ở thời bấy giờ.

Lối sống nhàn vẫn được tiếp tục thể hiện qua cách sống thường ngày của ông ở hai câu luận:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Nguyễn Bỉnh Khiêm mô tả cuộc sống của mình khi về ở ẩn, tìm kiếm thú vui nơi thôn quê qua chuyện ăn uống, sinh hoạt. Câu thơ ngắt nhịp 1/3/1/2, kết hợp với nghệ thuật đối giữa bốn mùa xuân, hạ, thu, đông cùng với những từ ngữ hết sức giản dị, gần gũi. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ nên bức tranh tứ bình độc đáo với nhịp điệu tuần hoàn của thời gian đều đặn, thong thả, gợi ra hình ảnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở tâm thế chủ động, ung dung khi hoà nhịp sống của mình với nhịp điệu thiên nhiên. Câu thơ mở ra bức tranh bốn mùa với mùa nào thức ấy, có hương vị, có màu sắc. Tuy giản dị, đạm bạc với những món ăn dân dã, những sinh hoạt đời thường nhưng đó là lối sống thuận theo lẽ tự nhiên, hoà hợp với thiên nhiên, hưởng những thức có sẵn theo mùa nơi thôn dã mà không cần phải mưu cầu tranh đoạt. Tất cả đều không hề khắc khổ bởi nó là điều đáng quý, bởi đó mà lại tạo ra khí điệu thanh cao nơi con người ông. Với lối sống này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có sự gặp gỡ với thi hào Nguyễn Trãi ở thế kỉ XV:

“Ao cạn vớt bèo cấy muống Đìa thanh, phát cỏ, ươm sen”

Cuộc sống tự do, thảnh thơi, tự tại mà biết bao bậc Nho sĩ mơ ước đến, nhưng mấy ai lại có được chữ “nhàn” này ở cái thời buổi loạn lạc kia?

Trở về hai câu thực, ta có thể thấy nhàn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là xa rời phường danh lợi, quyền quý:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao.”

Hai câu thơ không chỉ nói về lối sống nhàn, mà còn nói lên quan niệm dại – khờ đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nơi vắng vẻ và chốn lao xao là hai hình ảnh đối lập giữa hai không gian sống khác nhau. Một nơi yên tĩnh, ít người qua lại, không phải cầu cạnh, tranh đua, cũng chẳng phải bon chen, luồn cúi, giành giật – đó là “nơi vắng vẻ”, nơi thiên nhiên trong lành, con người có thời gian nghỉ ngơi, thư giản, nơi mà ông lui về ở ẩn, nơi Bạch vân am ông mở lớp dạy học. Còn nơi kia, nơi đô thị sầm uất, nhộn nhịp, nơi kinh thành quyền quý, tranh đoạt, con người phải đua chen, luồn cúi, sống giữa quan trường đầy mưu mẹo, lừa lọc, cả thiên nhiên và con người đều vô tình trật nhịp nhau, nơi mà ông gán cho cái danh: “chốn lao xao”.

Ông nhận “dại” về mình, nhường “khôn” cho người, thực ra là cách nói tinh tế, khéo léo thể hiện lối sống an bần lạc đạo, coi thường danh lợi. Cách nói ngược nghĩa này không chỉ hóm hỉnh, sâu sắc mà còn thể hiện khái niệm “dại” – “khôn” đầy ý vị theo quan niệm của riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ông cũng đã từng nói đến ở nhiều bài thơ khác:

“Khôn mà hiểm độc là khôn dại Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.”

Thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự phủ nhận danh lợi: “Để rẻ công danh đổi lấy nhàn”. Mọi thứ công danh, tiền tài đối với ông đều là vô nghĩa, chỉ có một chữ “Nhàn” là có nghĩa. Qua đó, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm lại được nâng lên một tầm cao mới, toát lên vẻ đẹp nhân cách, trí tuệ, thoát khỏi vòng lợi danh cuộc đời, một con người thanh cao, uyên thâm và sáng suốt.

Nguyễn Bỉnh Khiêm ông sống nhàn là thế, nhưng một chữ “nhàn” này lại khác biệt so với nhiều bậc Nho sĩ ẩn dật khác:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Câu thơ đã nhắc điển tích Thuần Vu Phần uống rượu, nằm mộng thấy mình được đến nước Hoè Nhai và được sống trong vinh hoa phú quý, đến khi tỉnh dậy chỉ thấy bản thân nằm dưới gốc cây hoè cạnh tổ kiến. Từ việc mượn điển tích đã thể hiện sự thông tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có lẽ chính bởi nền học vấn uyên thâm của ông về lý học cho nên ông rất hiểu về sự biến chuyển tuần hoàn của vạn vật, ông hiểu được rằng:

“Càng khôn bĩ rồi lại thái Nhật nguyệt hối rồi lại minh”

Hiểu được có rồi sẽ mất, thịnh rồi sẽ suy… Chính vì hiểu rõ là thế, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm mới nhìn những điều diễn ra với một con mắt rất bình thản. Ông mang phong thái của một vị tiên, một bậc cao hơn thế nhân để mà đứng nơi cao nhìn xuống, để tìm đến rượu mà say, tìm đến say để tỉnh, tìm đến tỉnh để nhận ra rằng: công danh phú quý cuối cùng chỉ là một giấc mộng thoáng qua, như áng mây trôi bồng bềnh giữa trời, tất cả đều hư vô. Hai câu kết như một lời khẳng định về ý nghĩa của triết lí sống nhàn, thể hiện sự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phù phiếm.

Từ bài thơ ta rút ra được rằng phú quý không phải là đích đến cuối cùng trong cuộc đời mỗi người, cái tồn tại với con người mãi mãi là nhân cách, phẩm chất cao đẹp. Ta học được cái giữ gìn môi trường đang sống bằng cách chọn lối sống hoà hợp với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên.

Bài thơ có sự nhuần nhuyễn giữa yếu tố Đường luật khi sử dụng các điển tích, hình ảnh ước lệ với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, tuân thủ chặc chẽ các niêm luật. Kết hợp với các yếu tố Việt hoá khi sử dụng chữ Nôm, các hình ảnh dân giã, quen thuộc và gần gũi, dãn dị. Đi cùng với sự ngắt nhịp hết sức linh hoạt, sáng tạo và hài hoà. Bài thơ là tiêu biểu cho quan niệm sống “nhàn” và vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc về một nhân cách lớn, một lối sống bình dị, thanh cao của một Bạch Vân cư sĩ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Triết Lí Đạo Đức Trong Bài Thơ “Ánh Trăng” trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!