Đề Xuất 2/2023 # Trăng Trong Thơ Hàn Mặc Tử # Top 4 Like | Chungemlachiensi.com

Đề Xuất 2/2023 # Trăng Trong Thơ Hàn Mặc Tử # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Trăng Trong Thơ Hàn Mặc Tử mới nhất trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TRẦN THOẠI NGUYÊN

HÀN MẶC TỬ (1912-1940) bậc tài hoa yểu mệnh,thiên tài kiệt xuất của thơ ca hiện đại Việt Nam với một hồn thơ trăng láng lai bất tuyệt rất đặc biệt,hết sức độc đáo,tôi đoan chắc rằng thơ ca nhân loại chúng sinh xưa nay không có một nhà thơ,thi nhân,thi sĩ nào có thể gùn ghè cập kè so sánh !

Ấy vậy mà trong một loại sách văn học lớp 11 của chương trình phổ thông,cái gọi là “Sách giáo viên” được xem như cẩm nang của thầy cô giáo dạy văn,vị giáo sư văn học ở ĐH đã phán về hai câu thơ trăng độc đáo nhứt của bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ như sau:”Có người đặc biệt ca ngợi hình ảnh nầy ở khổ thơ thứ hai “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Có chở trăng về kịp tối nay?”.Đó quả là một hình ảnh thơ mộng và đẹp.Nhưng độc đáo thì không phải.”Thuyền gối bãi”,”Thuyền đậu bến”,”Thuyền chở trăng”,những hình ảnh thơ đó thực ra đã trở thành ước lệ được dùng phổ biến trong thơ ca kim cổ (thơ Đỗ Mục,Trương Kế,Nguyễn Trãi,Hồ Chí Minh,Quách Tấn,Yến Lan,Thúc Tề v.v…) “

Tôi thật ngỡ ngàng!

Hướng dẫn NỘI DUNG và PHƯƠNG PHÁP giảng dạy “nhằm hổ trợ trực tiếp và thiết thực cho người dạy” theo lời nói đầu của “Sách giáo viên” ấy mà viết như thế về hai câu thơ trên trong bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ,thật càng làm cho tối và rối thêm! Nhất là đối với thầy cô giáo vốn trước kia chẳng được học bài thơ nầy ở chương trình phổ thông cũng như ở trường ĐHSP ngày ấy!

Người soạn sách đã nhặt từ ra một cách tùy tiện rồi gán ghép nào “Thuyền gối bãi”,Thuyền đậu bến”,”Thuyền chở trăng” đã làm lệch đi hình ảnh thơ của HÀN MẶC TỬ. Do cảm nhận hình ảnh thơ với những chi tiết hiện thực cụ thể như thế nên người soạn sách đã vội phán “độc đáo thì không phải”! Câu chữ trong thơ HÀN MẶC TỬ vốn mơ hồ,chập chờn,hư ảo “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó.Có chở trăng về kịp…”. “Thuyền ai” thật phiếm chỉ,mơ hồ không xác định,thật mông lung. “Bến sông trăng” đã là bến mộng. Đọc kĩ toàn bài thơ: “Đó” đối lập với “Đây”(Ở đây sương khói mờ nhân ảnh) đã gieo vào tâm trí người đọc về cõi mộng,cõi mơ ước chứ không chỉ là từ xác lập nơi chốn hiện thực cụ thể nào. Và tiếng gọi bi thiết,chới với “Có chở trăng về kịp…” càng thêm phi thực, hư ảo phiêu linh vô cùng. Thử hỏi các nhà thơ từng có thơ về trăng mà người soạn sách đã liệt kê ra như ở trên có tạo ra được hình ảnh thơ nào về trăng lại chập chờn mộng ảo độc đáo đến như thế,gợi cảm đến như thế?

Vị giáo sư nọ đã đồng hóa hình ảnh thơ rất riêng về trăng của HÀN MẶC TỬ với những hình ảnh thơ “Ước lệ được dùng phổ biến trong thơ ca kim cổ” và chẳng hướng dẫn gợi ý gì thêm,rồi lại đưa ra hàng loạt nhà thơ xưa nay viết về trăng,thật chẳng khác gì tung hỏa mù!

Lẽ nào ánh trăng thanh thản ung dung lạc quan tin tưởng trong “Yên ba thâm xứ đàm quân sự/Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền” (Giữa dòng bàn bạc việc quan/Khuya vế bát ngát trăng ngân đày thuyền) của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chi Minh cũng là ánh trăng”Giang nguyệt minh”,”Nguyệt mãn thuyền” trong thơ đời Đường của Trung Quốc xưa?

Lẽ nào hình ảnh trăng trong trong hai câu thơ trên của HÀN MẶC TỬ cũng giống như hình ảnh trăng trong thơ Hồ Chí Minh? Lẽ nào hình ảnh”Thuyền ai đậu bến sông trăng…Có chở trăng về kịp…” của HÀN MẶC TỬ lại không ẩn chứa cảm xúc xao xuyến,náo nức,khao khát hạnh phúc tình yêu của “cái tôi” thời đại Thơ Mới?

Nhà phê bình Hoài Thanh ( trước CM tháng 8,1945) đã từng có lời bình rất đáng suy ngẫm (để học tập) về hỉnh ảnh con cò trong thơ ca : “Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay trong ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân có sự cách biệt của hơn ngàn năm và của hai thế giới.” (Thế giới quan cổ điển và thế giới quan hiện đai)

Hơn nữa,vị giáo sư nọ không đặt gắn hình ảnh “Thuyền ai đậu bến sông trăng…” vào trong toàn bài thơ,vào hồn thơ tài hoa ảo mộng HÀN MẶC TỬ. Xuyên suốt bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ không chỉ “Thuyền ai…” mà nào”Vườn ai…” và rồi “Ai biết tình ai…” Tất cả tạo nên một hệ thống phiếm chỉ,bàng bạc,mông lung mơ hồ mà lại day dứt ám chỉ đến nghẹn ngào trong con tim không thể gọi tên! Trước khi dựng hình ảnh trăng bến mộng nầy,HÀN MẶC TỬ đã tê tái con tim cho cảnh chia lìa “Gió theo lối gió,mây đường mây”,anh đường anh,em đường em,không còn chung lối mộng nữa rồi! Thật là nghìn trùng xa cách,xa cách trong không gian,xa cách trong thời gian,xa cách trong tâm hồn người thơ đang ám ảnh cái chết,giây phút lìa đời! Hình ảnh thơ trăng hết sức kỳ lạ,mang hồn vía thơ HÀN MẶC TỬ xuất hiện trong khoảnh khắc chấn động tâm tư ấy,người soạn sách có nắm bắt cảm nhận mảy may nào không? “Trữ tình HÀN MẶC TỬ là gợi cảm chứ không phải là truyền cảm.Nhà thơ không truyền thẳng cảm xúc của mình tới độc giả nhờ phương tiện ngôn ngữ,mà bằng bản thân ngôn ngữ thức dậy thứ năng lượng đó vốn tiềm ẩn trong mỗi độc giả,vì vậy mà cảm xúc thẩm mĩ của người đọc no đủ hơn,sâu sắc hơn bởi như tránh được một sự áp đặt từ bên ngoài.” (Đỗ Lai Thúy)

Mỗi bạn đọc yêu thơ đến với thơ ca nói chung,với hai câu thơ về trăng nầy của HÀN MẶC TỬ nói riêng (Dù là bạn đọc trẻ tuổi,học trò học văn) phải là người đồng sáng tạo với tác giả,có thể cảm nhận theo cách riêng của mình,nhưng dứt khoát không được chủ quan áp đặt cho rằng hình ảnh thơ trăng nầy không có gì sáng tạo “Độc đáo thì không phải”,và “nó đã trở thành ước lệ được dùng phổ biến trong thơ ca kim cổ”!

Đừng có vì một thần tượng linh thiêng(!),giáo điều nào mà quy chiếu trói buộc thơ,đặc biệt là thơ HÀN MẶC TỬ vào một khuôn,một hướng (thơ Đường…thơ Hồ Chí Minh-đặc biệt một người không ham mê thơ “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”,làm thơ bộc lộ ngôn chí,cốt để nói chính trị mà thôi!).

Bình giảng thơ như thế là giết chết thơ ca!

Bình giảng thơ như thế là đầu độc,giết chết những tâm hồn trong trẻo hồn nhiên mơ mộng của các em nhỏ học trò thơ ngây!

Từ những vị đại giáo sư cây đa cây đề như thế,đến các lớp thầy cô giáo dạy văn được đào tạo rập khuôn như thế,đừng trách chi học trò ngày nay không thích học môn văn,không muốn thi vào ngành văn ở trường đại học!

NÓI ĐI RỒI LẠI NÓI LẠI:

Người yêu thơ nào cũng biết : Trăng là một hình tượng thơ độc đáo,hết sức lạ kỳ,vừa mang “màu sắc cụ tượng” vừa mang “màu sắc trừu tượng”,chuyển tải hồn thơ hư linh thần mộng HÀN MẶC TỬ. Đọc toàn bộ thơ văn của HÀN MẶC TỬ, người đọc như lạc vào một thế giới trăng huyền ảo với đủ mọi tầng bậc(Thượng giới,hạ giới,cõi mộng,ngọc tuyền…) lấp lánh phiếu diễu cơ man nào màu sắc,vô lượng,vô biên…!

Không gian dày đặc toàn trăng cả

Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng.

Mỗi ảnh mỗi hình lên phiếu diễu…

(HUYỀN ẢO)

Trăng đã trở thành một bầu khí quyển bao bọc vây quanh mọi cảm giác,mọi suy tưởng,chan hòa trong cả thể xác lẫn tâm hồn người thơ! Và trăng xuất hiện trong thơ HÀN MẶC TỬ ở mỗi bài,mỗi đoạn thơ ở mỗi thời khắc tâm trạng khác nhau với mỗi sắc thái biểu cảm tình ý khác nhau của một óc tưởng tượng hết sức độc đáo.

Hình ảnh trăng xuất hiện trong thơ HÀN MẶC TỬ với một tầng số rất cao và biến hóa kỳ ảo vô cùng,có khi hữu thể như có thể nắm bắt được và có khi vô hình mông lung trong cõi phi tưởng xứ rất trừu tượng siêu hình,có khi trong sáng hồn nhiên yêu kiều và có khi mê hoặc điên dại đến kinh hoàng.

+Có khi trăng là biểu tượng cho tâm hồn đẹp trong sáng,trinh trắng,e ấp của tình yêu mới chớm,một tình yêu thơ mộng thanh quý cao thượng vô cầu:

Mới lớn lên trăng đã thẹn thò,

Thơm như tình ái của ni cô.

(HUYỀN ẢO)

Con trăng mắc cỡ sau cành thông.

(TÌNH THU)

+Có khi trăng là biểu tượng cho cái đẹp duyên dáng, tình tứ trong mong chờ đợi yêu:

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi.

(BẼN LẼN)

+Có khi trăng là biểu tượng cho cái đẹp tuyệt đối chân như:

Ô kìa,bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

+Có khi trăng là biểu tượng cho vàng ngọc châu báu lấp lánh lâu đài tình ái tráng lệ sáng láng đến mê hoặc:

Trăng tan tành rơi xuống một vũng cù lao,

Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ.

(PHAN THIẾT! PHAN THIẾT!)

Trăng,trăng,trăng là trăng,trăng,trăng

Ai mua trăng toi bán trang cho.

(TRĂNG VÀNG TRĂNG NGỌC)

+Có khi trăng là biểu tượng cho hồn thơ điên dại kinh hoàng:

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy,

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra.

(SAY TRĂNG)

Ta hoảng hồn,hoảng vía,ta hoảng thiên

Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên.

(TRĂNG TỰ TỬ)

Và còn biết bao là hình ảnh trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ mang biểu tượng khác nữa,có khi rất siêu hình huyền bí không dễ gì giải mã.Thậm chí trong cùng một hình ảnh trăng nhưng lại gợi lên những hình tượng trăng với những tầng biểu tượng mang ý nghĩa rất khác nhau!.Bởi vì,người đọc,tụng thơ của một nhà thơ mình say mê,luôn phải là người đồng sáng tạo cùng tác giả,làm cho màu sắc trừu tượng của hồn thơ kia trở nên hiển hiện lên màu sắc cụ tượng có thể nắm bắt được.

Xin mời bạn yêu thơ đọc thơ (và cả vị giáo sư văn học đã đỡ đầu cho bao luận án tiến sĩ văn học kia!) đọc lại lời của Thi sĩ HÀN MẶC TỬ:

“Màu sắc,như ta đã thấy trong các thi phẩm đông tây,đều gồm hai tính cách:

1.Màu sắc cụ tượng 2.Màu sắc trừu tượng Màu sắc cụ tượng thì lộ nguyên hình bằng bản chất của nó,như gấm,như hoa,mà ta rờ được,nắm được với đôi tay (palpable),còn màu sắc trừu tượng là thứ gì nửa thực,nửa hư,nghe,thấy,biết mà không làm chủ được nó,ví dụ:ánh sáng,hương thơm,nhạc vui,không gian,thanh khí…Màu sắc cụ tượng dễ tìm,dễ kiếm;trái lại màu sắc trừu tượng rất khó sáng tạo,vì đây là cái đẹp của thơ,và phải có con mắt của thi nhân,của một kẻ siêu phàm,thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng,phép tắc ấy,và mới thấu triệt hết tinh hoa của nó. Với màu sắc trừu tượng ,thi nhân có cái công phu làm cho trở nên cụ tượng . Nghĩa là có thể nắm được một nạm hào quang ,lùa không gian vào vạt áo ,dồn kinh cầu nguyện về phương Nam,cho hai tiếng sáo đuổi nhau là là… Bắt cái vô hình trở nên hữu hình,khiến cái chết trở nên sống,cho vật câm không còn là câm nữa. Đấy là tất cả nghệ thuật và trí tưởng tượng phi thường của thi nhân,nếu thi nhân là một thiên tài.”

(Trích trong BÍCH KHÊ THI SĨ THẦN LINH,bài tựa thi phẩm TINH HUYẾT của Bích Khê)

Thi sĩ thiên tài đã: “Bắt cái vô hình trở nên hữu hình,khiến cái chết trở nên sống,cho vật câm không còn câm nữa.” thì người yêu thơ đọc thơ hãy mở hồn mình,đánh thức các giác quan tinh sắc nhứt của mình để cùng rúng động nao nao âm hưởng đồng sáng tạo cùng người thơ! Người yêu thơ đọc thơ,tụng thơ HÀN MẶC TỬ cần nhập tâm quán tưởng để có cái nhìn trong sáng thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng,tinh túy tinh hoa của thơ. Nghĩa là thế nầy: Nhiều khi hình ảnh trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ không còn là hình ảnh trăng của giới tự nhiên dương gian nầy nữa,mà là hình ảnh trăng rất trừu tượng gợi lên ý nghĩa biểu tượng nào đó trong thơ. Mây,gió cũng vậy: “Gió theo lối gió,mây đường mây” không còn là hình ảnh mang màu sắc cụ tượng mà đã hóa thành hình ảnh mang màu sắc trừu tượng gợi lên ý nghĩa biểu tượng cho sự ngăn cách,chia lìa,không cùng chung lối mộng. Cho nên,người yêu thơ đến với hình ảnh thơ trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ cần biết:Phải có một nỗi ám ảnh lạ thường về trăng như thế nào,phải có một trạng thái tinh thần và thể xác rúng động đến lạ thường về trăng như thế nào,mới có thể khiến HÀN MẶC TỬ trào lên đầu ngọn bút những câu thơ về trăng độc đáo lạ thường,hay đẹp đến như thế!

Riêng về hình ảnh trăng trong hai câu thơ trong bài ĐÂY THÔN VĨ DẠ mang biểu tượng về cái đẹp sáng láng nguyên sơ êm đềm của hạnh phúc tình yêu mà nhà thơ đang khao khát mong ước”Có chở trăng về kịp tối nay?”. Nếu chúng ta biết rằng HÀN MẶC TỬ đang có một ám ảnh sâu sắc về cái mong manh mệnh yểu,cuộc đời mình quá ngắn ngủi do đang mắc phải căn bệnh phong,hiểm nghèo,khốc liệt,không có thuốc đặc tri,phải đưa vào trại phong Quy Hòa cách li với đời sống xã hội,và đặc biệt,nếu ta biết rằng hồn thơ HÀN MẶC TỬ yêu thương cuộc đời tha thiết “Ta còn triều mến biết bao người/ Vẻ đẹp xa hoa của cuộc đời…” mà phải run rẩy nuối tiếc trong giây phút sắp chia lìa “Ta trút linh hồn giữa lúc đây,/Gió sầu vô hạn nuối trong cây…”,thì ta mới thấu hiểu,cảm nhận hết được tình ý trong nổi khao khát cháy bỏng về hạnh phúc tình yêu của HÀN MẶC TỬ hiện thể trong hai câu thơ trên.Thật là một nổi niềm khát khao hạnh phúc tình yêu chân thành đến tê tái ,chấn động lòng người!

Hình ảnh về Thuyền (tình) và Bến (mộng) bàng bạc một màu trăng nguyên sơ êm đềm hạnh phúc,sáng láng phiếu diễu như trong cõi mộng ấy đã góp phần miêu tả,ca ngợi cảnh vật đêm trăng trên dòng Hương giang của xứ Huế đẹp mộng mơ và tình tứ,nhưng ấn tượng sâu xa khó phai mờ,ám ảnh mãi trong tâm hồn người yêu thơ đọc thơ là tiếng gọi vọng lên từ nổi lòng riêng của HÀN MẶC TỬ về một tình yêu đơn phương câm lặng,xót xa trong tuyệt vọng cùng người đẹp xứ Huế mà Thi sĩ đã thầm yêu trộm nhớ thuở nào! Tiếng gọi đò yêu thương chới với,tiếng gọi đò vô thanh độc đáo có một không hai ấy,chứa chan bao là khao khát yêu thương giữa trời trăng hư ảo ấy sẽ đồng vọng ngân dội mãi nơi tầng sâu kín nhất trong tâm hồn người đọc hôm nay và mai sau!

NÓI LẠI RỒI LẠI NÓI ĐI:

Qua hai câu thơ về trăng trong bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ của HÀN MẶC TỬ,từ sự phê phán cách giảng bình hủ nút bắt bướm bỏ hộp cho có “tính tư tưởng” của vị quan thầy văn học (Rất nhiều vị quan thầy văn hoc nghệ thuật như thế trong thời đại nầy!),tôi đã khai mở đưa dẫn người yêu thơ đọc thơ thâm nhập vào hình tượng thơ trăng của HÀN MẶC TỬ chút ít…,nhưng tôi cũng thật sự băn khoăn…! Bởi hình ảnh trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ là một hình tượng thơ rất tượng trưng,trừu tượng,siêu thực không dễ gì hàm hồ nắm bắt lĩnh hội được,và đặc biệt hơn nữa,hồn thơ trăng dị thường HÀN MẶC TỬ đòi hỏi phải cảm nhận bằng một trạng thái tâm hồn khác thường thì mói thâm nhập cõi bí mật huyền diệu thượng thừa của thi ca!

Ta hãy nghe HÀN MẶC TỬ rao giảng:

“Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi,máu tôi,hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi mất trí,đã phát điên. Nàng đánh tôi đau quá,tôi bật ra tiếng khóc,tiếng gào,tiếng rú.”

Và để cho ra đời những vần thơ trăng đẹp thơ mộng mang ý nghĩa biểu tượng cao siêu ấy,Hàn Mặc Tử đã sống,đã cháy đời mình với ngọn lửa thiêng trong từng phút giây: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim,bằng phổi,bằng lệ,bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui,buồn,giận,hờn đến gần đứt sự sống”

Nghĩa là: Chưa “mất trí“,chưa “phát điên”,chưa bị “Nàng đánh tôi đau quá”,chưa biết thế nào là “đến gần đứt sự sống” thì chưa bao giờ hiểu thơ HÀN MẶC TỬ,và đừng nói chi đến giảng bình thơ HÀN MẶC TỬ!

Ta hãy nghe chính HÀN MẶC TỬ viết mở đầu cho tác phẩm CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG:

“Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu,ánh sáng càng thêm kỳ ảo thơm thơm,và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say… Trăng rằm trung thu: Một đêm siêu hình,vô lượng,tượng trưng của một mùa ao ước…hiện hình của một mùa khoái lạc chê chán…”

Một đêm siêu hình?

Trăng rằm trung thu sáng trưng,vằng vặc,trong lành,thanh khiết như một tấm gương trong.Đó là hình ảnh mang màu sắc cụ tượng:

“Trung thu trăng sáng như gương” (Hồ Chí Minh)

Còn với hồn thơ HÀN MẶC TỬ:

Và giữa trời trăng mây nước CHIÊM BAO VÀ SỰ THỰC nầy (Nhan đề một tác phẩm của HÀN MẶC TỬ) ,Thi sĩ đã đánh thức người yêu thơ đọc thơ: “Hỡi quý nhân,người có nghe thấy điều gì mới lạ,tinh khôi,reo lên,hiện lên và sử linh tư tưởng của người?”

Sử linh tư tưởng?

Đó là con đường,dòng chảy của thế giới tâm hồn,tâm linh trong đêm siêu hình huyền bí theo trực giác tâm linh của HÀN MẶC TỬ. Thi sĩ đã nói về trạng thái tinh thần khi làm thơ: “Khi ngòi bút của tôi đã thấm nhuần những ý nghĩ cao cường,truyền sang bởi điện tinh truyền của trí tuệ…” …”Như có ma lực vô song xô tôi đến bờ huyền diệu.” Trong những giây phút xuất thần hồn thơ trào dâng lai láng ấy,Thi sĩ đã tự phơi lộ: “Tôi phải tự giảng: Đang khi trăng,sao,mây khói dần cao hòa hợp thành khí hạo nhiên,tôi không thở bằng phổi nữa,tôi thở bằng hơi thở tinh sạch của hồn tôi.”…”Từ sự thực đi tới bào ảnh,từ bào ảnh đến huyền diệu và từ huyền diệu đi tới chiêm bao.Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực,bị ánh sáng của chiêm bao vây riết.”

Nghĩa là hồn thơ của HÀN MẶC TỬ đã hòa nhập vào cõi bờ “Sử linh tư tưởng”,thoát ly hoàn toàn dòng chảy lịch sử tháng năm của xã hội loài người xưa nay. Cho nên,cõi thơ HÀN MẶC TỬ đã siêu vượt các phạm trù thời gian,không gian,hệ thống tư tưởng văn hóa của xã hội loài người xưa nay,mà đó là cõi thơ của “Một đêm siêu hình”,chân trời của “Sử linh tư tưởng”,một Cõi Thơ Thuần Túy giữa “Nguồn Trong Trẻo” (Chữ của HMT) cho tình yêu và tôn giáo..Chỉ có hồn thơ ấy mời có thể :

Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất.

Và,trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ là trăng trong cõi bờ”Sử linh tư tưởng” (Có nơi HMT sử dụng từ “Tơ Tưởng”) của “Một đêm siêu hình” ấy.

HÀN MẶC TỬ nói về “BÍCH KHÊ THI SĨ THẦN LINH”,nhưng cũng là nói về chính mình: “Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần,thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sáng phong tình và thanh khiết cho giai nhân? Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngụ quan của người trần?” …”Sự say mê,tìm kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến huyền diệu. Ở đấy,sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa,người ta chỉ gặp toàn âm thanh ngả ngớn,với muôn thứ xạ hương bay lẵng lơ trong lồng nhạc,trong khi có hằng hà sa số là ánh hào quang va vào nhạc,chạm nhằm không khí lạ.”

Đó là Trời Cao Cả trong Mơ Ước một Mùa Trăng Bát Ngát của Thi sĩ : “Không có sự say đắm nào ở phương xa,hay sự mong nhớ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy,gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ ,mùa trăng bát ngát “

Mùa Trăng Bát Ngát ấy không có thực ở cõi hạ giới nầy Mùa Trăng Bát Ngát ấy là ánh sáng hào quang,là hương thơm xạ hương,là ánh nhạc hồn hoa của một đêm siêu hình huyền bí vượt ra ngoài nghĩ suy tư tưởng của thế nhân,mà chỉ có trong “sử linh tư tưởng” trong sáng bất nhị,vô biên…Khi ấy,sẽ thấy được ” Từng lá trăng rơi trên xiêm áo như những mảnh nhạc vàng” Và trong ánh trăng sáng láng phiếu diễu nguyên sơ mà rực rỡ hào quang ấy đã soi sáng linh hồn thi nhân:” Soi sáng linh hồn tôi và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi giam cầm của xác thịt” để thi sĩ “.. bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn đời thôi”. Cả một đời sáng tạodù ngắn ngủi nhưng cháy rực một thứ lửa thiêng của HÀN MẶC TỬ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt dữ dội của hồn người nơi dương thế bao la sầu này như câu chữ HÀN MẶC TỬ sử dụng:”Cái ước mơ vô hạn của một linh hồn khát khao vàng ngọc của trời cao cả”.

Xin nói lại,với HÀN MẶC TỬ,Mùa Trăng Bát Ngát siêu hình huyền bí không có trong cõi thế gian nầy.Cái mùa trăng bát ngát huyền diệu chỉ có ở cõi ” Nước Trời Cao Cả” của ” Sử Linh Tư Tưởng” trong cõi mộng vĩnh hằng thôi!Hãy nghe HÀN MẶC TỬ tỏ bày: “Tìm mãi cái đẹp không thấy,vì tất cả mọi sự ở thế gian đều tầm thường cả,thi sĩ mới nhận ra rằng chỉ có cái gì đời đời ,cái gì hằng sống (éternité) mới thỏa mãn nổi khát khao thương nhớ vô hạn của thi sĩ” .

Trong thơ, HÀN MẶC TỬ cũng từng bộc lộ như thế:

Anh đứng cách xa hàng thế giới,

. Lặng nhìn trong mộng miệng em cười.

LƯU LUYẾN

Người thơ HÀN MẶC TỬđã từng có những giây phút xuất thần trong sáng tạo thi ca:“Tôi vừa thoát ra khỏi cực lạc giới,toàn thân tôi rung động như một sợi đường tơ.”để cho ra đời những vần thơ trăng siêu thoát bất tuyệt!

Do vậy,đến với trăng trong thơ và hồn thơ trăng của HÀN MẶC TỬ ,người yêu thơ đọc thơ cần phải biết,phải nhớ đến lời khai mở của chính Thi sĩ HÀN MẶC TỬ:

“Cái thơ trên cái thơ khác nữa”

Nghĩa là cõi thơ HÀN MẶC TỬ là cõi thơ siêu thoát linh thánh của Thế Giới Huyền Bí để đi đến chỗ Tuyệt Đích là:Tôn Giáo (HÀN MẶC TỬ đã chú thích:Xin hiểu nghĩa chữ ấy với tất cả tinh thần của nó).

Có hiểu được điều như thế,ta mới hiểu vì sao một thi sĩ theo đạo Thiên Chúa rất thuần thành ngoan đạo đã tụng ca tấu lạy Bà Ave Maria ơn phước cả với một cảm xúc thánh tẩy ” Run như run thần tử thấy long nhan,/ Run như run hơi thở chạm tơ vàng.” ,thi sĩ HÀN MẶC TỬ vẫn tư tưởng về thế giới nhiệm mầu của nhà Phật một cách xác quyết: “Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà Phật là sắc cũng như không,chết cũng như sống,gần cũng như xa và hư cũng như thực…Những điều phải trái ấy dầu thế nào,cũng có liên lạc mật thiết và thông cảm nhau.”

Bởi vậy,cảm nhận bình giảng về hình tượng trăng,hồn thơ trăng trong thơ HÀN MẶC TỬ với kẻ phàm phu tròng mắt thịt là điều bất khả,mà lại còn bị che chắn trói buộc bởi học thuyết nầy nọ nhị nguyên nhị tướng …thì càng thêm bất khả!

Lời của Thi sĩ HÀN MẶC TỬ đã viết ta thán lúc còn sống vẫn còn nhắc bảo người yêu thơ đọc thơ : “Thi sĩ rơi xuống cõi đời,bơ vơ,bỡ ngỡ và lạ lùng.Không có lấy một người hiểu mình!”

Đã hơn 70 năm qua,những lời nhiếp dẫn khai lộ của Thi sĩ HÀN MẶC TỬ mà tôi đã nhặt trích lại ở trên,không mấy ai chịu đọc kĩ lưỡng,thật quá hò hững không một chú lưu tâm để mở nếp gấp bước vào cõi thơ “Sử linh tư tưởng” của “Một đêm siêu hình” của hồn thơ HÀN MẶC TỬ ,kể cả nhà phê bình xuất sắc Hoài Thanh,tác giả Thi Nhân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám 1945 ! (Kể chi khi đã dính nhập trói buộc vào học thuyết nầy nọ thì đã lầm lạc rồi!)

Soi chiếu những điều hiểu biết về hồn thơ tài hoa ảo mộng của HÀN MẶC TỬ vào bài thơ ĐÂY THÔN VĨ DẠ ,người yêu thơ đọc thơ mới hiểu ra rằng: Cảnh thôn VĨ DẠ trong bài thơ dường như là cõi thực của mây gió sông nước trời trăng xứ Huế mộng mơ,nhưng đã là cõi ảo mộng,chiêm bao đấy thôi! Từ những chi tiết hình ảnh sắc màu trừu tượng:“Nắng hàng cau nắng mới lên,xanh như ngọc,lá trúc che ngang mặt chữ điền,gió theo lối gió mây đường mây,bến sông trăng,mơ khách đường xa,trắng quá nhìn không ra,sương khói mờ nhân ảnh…” cho đến ý tình hồn thơ đã là mộng ảo,đã được “ánh sáng của chiêm bao vây riết” của “một đêm siêu hình” trong “Sử linh tư tưởng” đấy thôi!

Và hai câu thơ mang cốt cách hồn vía thơ trăng lãng mạn tài hoa ảo mộng HÀN MẶC TỬ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?

Không chỉ là tiếng gọi đò thất thanh của cái tôi chàng trai HÀN MẶC TỬ khao khát hạnh phúc tinh yêu trong giây phút hoảng loạn tuyệt vọng sắp lìa đời:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây Gió sầu vô hạn nuối trong trong cây – Còn Em sao chẳng hay gì cả? Xin để tang anh đến vạn ngày.

Mà còn là nổi niềm mơ ước khao khát chung của thế nhân!

Người yêu thơ đọc thơ cần phải sụp lạy Thi sĩ Thiên tài HÀN MẶC TỬ,bằng tất cả cảm nghiệm đau thương của mình ở thế gian mà “Đau đớn lòng” (Chữ của Đại thi hào Nguyễn Du),Thần Thơ HÀN MẶC TỬ đã đánh thức,đã lay gọi,đã khơi gợi,đã tinh truyền đến hồn ta,đến linh hồn của mọi mọi người đời về một khát vọng tình yêu cháy bỏng,khát vọng hạnh phúc cao đẹp tuyệt đích vô biên,siêu thoát,vĩnh hằng. Một tiếng gọi đò vô thanh vô lượng về hạnh phúc tình yêu cao đẹp trọn vẹn tuyệt đích vô biên vĩnh hằng ở cõi”Sử linh tư tưởng” của “Đêm siêu hính” thần bí ấy ,thuyền ơi có chở niềm vui cực lạc ấy về kịp trong đêm tối dương gian nầy không?! Bởi cuộc đời nầy,cõi dương gian nầy quá phù du ngắn ngủi mà chìm ngập trong bao la sầu đau!

Bạn có nghe ra lời thơ như kinh cầu nguyện cúa HÀN MẶC TỬ? Lời kinh cầu nguyện của các tôn giáo ở thế gian nầy cũng thế thôi?

Ai trong đời ngày đêm sống thao thức ước mong nguyện cầu điều như thế,tâm hồn mình hẳn cao đẹp thánh thiện biết bao!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Biểu Tượng “Trăng” Trong Thơ Hàn Mặc Tử

BIỂU TƯỢNG “TRĂNG” TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

Trải qua một thời kỳ khá dài trong lịch sử văn học trung đại, thơ ca không thể thoát ra khỏi những quy phạm chặt chẽ của thể loại. Và phải đợi đến những năm 1932 – 1945 của nền văn học Việt hiện đại, thơ ca mới có bước bứt phá làm chuyển động, rạn nứt cả hệ thống nền tảng kiên cố về thi pháp thể loại. Phải nói rằng, Việt tự hào về một thời đại thơ ca có một không hai trong lịch sử nước nhà. Một thời đại mà Vũ Ngọc Phan đã hãnh diện khi đưa ra nhận định: mười năm của ta bằng mấy mươi năm của người. Vì thế, trong rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đều đi đến một kết luận: Phong trào thơ mới là một cuộc cách mạng trong thơ ca, mang một quan niệm hoàn toàn mới mẻ, quan niệm về cá nhân, cái tôi biểu hiện với một tinh thần duy lý phương Tây. Thơ mới ra đời đã xóa đi luật lệ xưa cũ cứng nhắc, trên tinh thần đổi mới toàn diện. Thơ mới đã sáng tạo ra những thể thơ mới và cải tạo, nâng cấp các thể thơ truyền thống. Nói đến sự thành công rực rỡ của thơ mới là phải nói đến sự nhiệt thành, tâm huyết, say mê lao động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ, với mong muốn mang lại diện mạo mới cho nền văn học nước nhà.

Trong khoảng thời gian ra đời, phát triển và suy thoái của mình, phong trào thơ mới đã tồn tại nhiều trường phái sáng tác: Lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, … Với những đại biểu xuất sắc như: Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, LeiBa, … . Trong số đó nhà thơ mới Hàn Mặc Tử được xem là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt nhất trong phong trào thơ mới. Từ Gái quê, Lệ thanh thi tập, Đau thương đến Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội (kịch thơ), Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuô i) chỉ trong vòng từ 1935 – 1940 ông đã làm một cuộc hành trình văn học bằng một thế kỷ, mở đầu là thơ bát cú đường luật và cuối cùng là những bài thơ chứa đựng nhiều yếu tố tượng trưng, siêu thực. Một điều đặc biệt hơn nữa là mỗi tập thơ của ông để lại gắn liền với từng giai đoạn, biến cố của cuộc đời. Với Gái quê mọi thứ đều dịu dàng, mơ mộng, chấ t phác, trẻ trung thì Đau thương mọi cảm quan trong Gái quê hoàn toàn tan biến bù lại đó là những hồn, máu, trăng, một tâm hồn bị ám ảnh bởi bệnh tật. Đau thương không còn chứa đựng những yếu tố lãng mạn, hồn nhiên như trong Gái quê mà chứa đầy những yếu tố siêu thực, tượng trưng. Đến Xuân như ý, Thượng thanh khí thì hồn thơ của thi sĩ càng ngày càng xa khỏi thế gian và mọi thứ tình tứ của đời thường với một lối thơ bí hiểm khó mà suy nghiệm cho ra nghĩa. Thơ ông bám chặt với cuộc sống trần thế đầy đau khổ, bệnh tật nhưng lại có một sức hút kỳ diệu. Qua các tập thơ, người đọc nhận ra thơ Hàn Mặc Tử là một thế giới khác thường, đau đớn, quằn quại, khát khao sống với những Hồn – Máu – Trăng. Vì thế, Hồn – Máu – Trăng cứ trở đi trở lại trong thơ ông với một cường độ dày đặc, nó như là biểu tượng cho sự sống còn của sự nghiệp sáng tác của chính thi sĩ. “Hàn Mặc Tử là nhà thơ viết rất nhiều, rất hay và rất say về trăng. Trăng trong thơ ông kỳ ảo, biến hóa vô cùng và có khi như là ý nguyện tha thiết muốn vươn tới cái đẹp, cái hoàn mỹ mà không đạt được” [3, Tr 10]. Đọc thơ ông ta mới thấy được hàng loạt những ý niệm qua hình tượng trăng.

1.2. Khái niệm biểu tượng

Biểu tượng là một khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên cứu trên thế giới bởi nó là một khái niệm chứa đựng nhiều bí ẩn và mang trong bản thân nó cả trường ý nghĩa. Trên thực tế, khái niệm này là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau.

Như vậy, hiểu một cách đơn giản và ngắn gọn thì Biểu tượng là một hình ảnh tượng trưng, có ý nghĩa rộng lớn hơn chính bản thân nó. Mỗi biểu tượng phải khái quát được một phạm vi bao quát rộng lớn những hiện tượng, sự vật trong cuộc sống. Nếu biểu tượng không mang lại cho ta một ý nghĩa rộng hơn “cái biểu đạt” thì nó được coi là những hình ảnh thuần túy mà thôi chứ không được coi là biểu tượng. Hơn nữa, ý nghĩa của biểu tượng phụ thuộc vào biên độ và khả năng sáng tạo của nhà thơ.

Bàn về biểu tượng thơ Hegel cho rằng : “Biểu tượng nên thơ là một biểu tượng có hình tượng, bởi vì biểu tượng nên thơ không phải phơi bày trước mắt ta bản chất trừu tượng của cái hiện thực cụ thể”. Vì lẽ đó mà trong thơ ca biểu tượng đóng một vai trò hết sức to lớn. Biểu tượng giúp người nghệ sĩ thể hiện một cái gì đó ngoài bản thân nó, lớn hơn ý nghĩa thông thường của nó. Đồng thời, nó mang phong cách độc đáo và dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ.

Với quan niệm: Sáng tạo thơ là hành động nhà thơ đi vào trong cõi mơ ước, trong “huyền diệu”, trong “sáng láng” và vượt hẳn ra ngoài cõi “hư linh”. Đó là một thế giới “siêu thần”, một cõi “tiềm thức”, những bờ bến xa lạ của “cảm giác”. Đồng thời, đó còn là “một cõi vô hình cao tột bậc được xây dựng bởi trăng sao”. Và để đến được với cõi thế giới bí ẩn và xa lạ ấy thì không chỉ được cảm nhận bởi giác quan thông thường mà phải thông qua các biểu tượng và sự tương ứng với các giác quan. Vì thế, khi tiếp cận với thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta bắt gặp những hình tượng nổi bật như Hồn – Trăng – Máu. Những biểu tượng này xuất hiện với một cường độ dày đặc và thường xuyên trong suốt hành trình sáng tác của thi sĩ họ Hàn. Trong số đó, Trăng là biểu tượng độc đáo và kỳ dị nhất. Nó được phóng chiếu từ nhiều góc độ và mang một “phong cách” trăng rất riêng, rất khác lạ. Vì thế có người đã từng viết: Trăng, Hồn, Máu không còn là những ý niệm trừu tượng, chúng là những hình hài đầy nhục cảm, những linh hồn đầy đau thương. Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa là một cách giãi bày “chân thành” như cách nghĩ thông thường về thơ trữ tình, những hình tượng này là sự “thoát xác”, vượt ra ngoài cái thân thể hạn hẹp, cố định để sống tột cùng trong những cuộc đời khác, những cảm giác khác. Bản thân hồn cũng là một sinh thể, tách biệt với thể xác, là một “kẻ lạ” với thể xác và trong hồn không ngừng chia tách những linh hồn mới. Nếu hồn ứng với tinh thần, thì máu ứng với thể xác con người, với sức nóng và sự sống vượt trội.

Chúng ta biết rằng, hình ảnh trăng là đối tượng được nhiều thi nhân ở mọi thế hệ, mọi thời đại lĩnh hứng, miêu tả dưới nhiều bình diện khác nhau. Ở mỗi nhà thơ trăng mang một vẻ đẹp, một nỗi niềm riêng. Trăng trong thơ Nguyễn Du gợi tình, gợi cảnh. Trăng trong thơ Xuân Diệu đem lại cảm giác bâng khuâng nhẹ nhàng cho người đọc. Còn với trăng trong thơ Hàn Mặc Tử là cả một thế giới đầy bí ẩn, dị thường. Trăng có lúc được ẩn dụ, lúc được nhân hóa làm cho nó mang một phong cách độc đáo và khác lạ, kiểu như:

Trăng nằm sòng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi

Bản thân hình ảnh trăng cũng là một biểu tượng đa nghĩa. Xuất phát từ những đặc tính tự nhiên, là thiên thể ban đêm, trăng thường gợi nên hình ảnh của cái đẹp, của ánh sáng trong khoảng không mênh mông tăm tối. Và nó cũng chính là biểu tượng của cái gì đó siêu thoát bên ngoài mà con người không thể vươn tới.

Bên cạnh đó, Hồn cũng là một hình ảnh đầy ấn tượng và kỳ lạ. Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện với một tần số khá cao (62 lần) và có sức ám ảnh mạnh mẽ. Trong suốt hành trình thơ Hàn Mặc Tử chúng ta thấy biều tượng Hồn xuất hiện như một nỗi ám ảnh đến rợn người, khó nắm bắt. Chính nó cũng đã làm cho thi nhân phải thốt lên:

Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng

Hồn là ai? Là ai? Tôi không hay

Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay

Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc”

Theo quan điểm của tôn giáo, hồn là một thực thể tinh thần thiêng liêng và là phần quý giá nhất của con người. Khi con người chết đi thì linh hồn sẽ kìa khỏi thân xác và không bao giờ bị phân hủy như thể xác. Điều này được thể hiện rất rõ trong bài Hồn lìa khỏi xác:

…Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã

Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa

Hồn mất xác hồn sẽ cười nghiêng ngã

Và kêu rên thảm thiết khắp bao la

Ôi! Hồn thiêng không hề chết đặng

Làm sao hồn chẳng hiểu nghĩa vô biên

Ngày tận thế là ngày thôi tán loạn

Xác của hồn, hồn của xác y nguyên

Hồn là biểu tượng của sự sống, nó hội tụ đầy đủ đặc điểm của một con người và là phần không thể thiếu để làm nên con người. Vì thế, nó có mối liên hệ ràng buộc với sinh mệnh. Trong nỗi đau đớn đến tột cùng khi nhà thơ đang cận kề với cái chết, đang phải đối diện với giờ hấp hối sắp chia phôi thi sĩ Hàn đang đón đợi, cầu xin một sự tưởng nhớ rất chân thành:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây

Còn em sao chẳng hay gì cả?

Xin để tang anh đến vạn ngày

Xa lìa thể xác, hồn vượt ra ngoài vũ trụ để đi tìm Hương cho thơm ứ đầy hơi khoái lạc, để được Tắm gội ở trong nguồn ánh sáng và ca những điệu ngọc vàng sang sảng:

Hồn hỡi hồn, lên nữa quá thinh gian

Tìm tới chốn chiêm bao ngoài sự thực

Hồn hỡi hồn, bay ra ngoài kia mức

Nơi thiên sầu địa thảm giới Lâm Bô

Say máu ngà, say nữa tới chừng mô

Cả vũ trụ tan theo ngày phán xét

Là khủng khiếp cả đất trời tiêu diệt…

Nỗi đau khổ vì bệnh tậ dày vò đã hành hạ thân xác thi sĩ nhưng chính nó

lại cung cấp cho nhà thơ một năng lực sáng tạo vô biên.

Với Hàn Mặc Tử, Tôi làm thơ?

Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật …

Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú. Có ai ngăn cản được lòng tôi?

Chính quan niệm đó đã khơi nguồn cho một biểu tượng khác vốn được xem là khá thành công và độc đáo trong thơ ông – đó chính là biểu tượng máu, động lực thúc đẩy sự sáng tạo.

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta

Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt

Như mê man chết điếng cả làn da

Máu – biểu tượng của sự ám ảnh triền miên, dâng trào tràn ngập cả hồn thơ. Nó cuộn chảy tuôn trào trong thân xác nhà thơ, trong sự đau đớn đến tột cùng đã ngưng tụ lại, đọng thành vũng rồi tan chảy trong sự sáng tạo:

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh

Đừng nắm lại nguồn thơ ta đương siết

Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh

Lời thơ ngậm cứng không rền rỉ

Mà máu tim anh vọt lai láng

Chính sự đau đớn, hoảng loạn, tuyệt vọng này đã khiến cho nhà thơ phải thốt lên:

Trời hỡi bao giờ tôi chết đi

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Máu cũng chính là thứ tinh lực được vắt kiệt để dâng tặng cho thơ, cho đời.

Xinh dâng này máu đang tươi

Này đây nước mắt giọng cười theo nhau

Thơ Hàn Mặc Tử chính là những bông hoa nở trong màu huyết:

Lá trên cành héo hắt, gió ngừng ru Một khối tình nức nở giữa âm u Một hồn đau rã lần theo hương khói Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi Một lời run hoi hóp giữa không trung Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn (Trường Tương Tư)

Những biểu tượng Trăng, Hồn, Máu là sự tượng hình hoá tình trạng “cả thể xác lẫn linh hồn tan rã” của Hàn Mặc Tử . Hay nói cách khác, đó chính là sự phân rã của bản thể người trong một cảnh ngộ bi đát. Bị “cầm tù” trong những dày vò cùng cực cả về thể xác lẫn tinh thần, sự phân rã này là một tất yếu mang tính bi kịch, nó tô đậm hơn nỗi đau thương của thi sĩ Hàn Mặc Tử, nhưng đồng thời, đó cũng chính là một hành động giải phóng và tự giải phóng. Từ đây, Hàn Mặc Tử có thêm bạn đồng hành, cũng là những phương tiện để soi ngắm thế giới trong một cảm quan và một chiều kích mới.

1.4 Biểu tượng “Trăng” trong thơ Hàn mặc Tử

1.4.1 Trăng – biểu thị nỗi khổ đau cùng tận

Có thể nói Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử như một “linh vật” rất huyền nhiệm, kỳ lạ. Dưới mắt ông, Trăng là một thực thể có linh hồn. Chừng như ông nghe được hơi thở, bước đi, sự chuyển dịch của bóng trăng. Đồng thời, Trăng như là “người” thấu hiểu tất cả nỗi đau đớn trong lòng thi nhân và cả những tâm tư tình cảm. Trăng như là hình tượng không thể thiếu trong văn học từ xưa tới nay: Trăng như là nhân vật chứng kiến mọi biến động của xã hội, đồng thời còn là nơi để cho con người thổ lộ mọi tâm trạng, mọi nỗi niềm.

Vầng Trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song

Rồi trăng trong thơ Trung đại:

Nữa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

(Truyện kiều – Nguyễn Du)

Đến thời hiện đại, trăng cũng là một nhân vật không thể thiếu của các nhà văn, nhà thơ. Trăng như là trung tâm điểm để cho các thi sĩ khai thác, đào bới dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Với Xuân Diệu, trăng như một vật chứng chứng kiến tình yêu của hai người:

“Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

Ánh sáng tuôn đầy các lối đi

Tôi đi với người yêu qua nhè nhẹ…

Im lìm, không dám nói năng chi”

Còn với Đoàn Thị Lam Luyến, Trăng được hình tượng hóa như là người tình luôn đồng hành cùng thi nhân.

Đầy vơi con nước vì Trăng đấy

Biển đã duềnh lên, biển bạc đầu

Ai biết mối tình thiên niên kỷ

Ta là Trăng – Biển tự trong nhau

Nhưng với Hàn Mặc Tử thì khác, Trăng trong thơ ông chính là Hồn và Máu của ông. Hàn Mặc Tử đã phải sống trong những cơn đau triền miên khủng khiếp, một nỗi đau rùng rợn đến vô biên. Vì thế nhà thơ muốn:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm

Cho trăng ngập dần lên tới ngực

Thơ ông là những dòng đầy máu lệ, đầy tiếng gào thét. Chính “Trăng, ánh trăng đã để lại những cảm giác vật chất lên thân xác Hàn Mặc Tử” [1; Tr 229]. Điều đó cho chúng ta thây, trăng trong thơ ông có tính chất hai mặt: vừa vật chất vừa tinh thần, vừa trần tục lại vừa thiêng liêng. “Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người…” [1; Tr 206]. Nhà thơ đã không thể thoát ra khỏi sự ám ảnh ghê gớm của nó, lúc nó tối tăm, lúc nó chói lòa như hai mặt đối lập của Thiêng đàng và Địa ngục. Trong một Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng. Rồi Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ/ Đầy mình lốm đốm những hào quang.

Chính cái sự đau đớn về thể xác, bệnh tật đã khiến cơ thể ông hao gầy, suy nhược nhưng đó lại là dòng suối khơi nguồn cho mọi cảm hứng sáng tạo vô biên. Ở Hàn Mặc Tử, đau thương đồng nghĩa với sáng tạo, nó như là phương tiện để đưa nhà thơ lên đến cung bậc cao nhất của nghệ thuật.

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu

Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt

Trăng như một cái gì đó hữu hình song hành cùng nhà thơ để cho nhà thơ được nuốt, được uống, được ngậm rồi giao hoan cùng nó, hóa thân vào nó:

Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mữa máu ra

Sự đau đớn, dày vò về thể xác bởi căn bệnh quái ác đã có lúc khiến cho nhà thơ không còn nhận thức được sự sáng tạo nghệ thuật của chính mình: Tôi điên tôi viết như người dại/ Vang lạnh không gian xóa những ngày. Ông quan niệm nhà thơ như một vị “trích tiên” bị đày đọa xuống cõi bơ vơ lạc lõng và phải chịu một thứ “Định mệnh tàn khốc theo riết bên mình”. Và thơ “là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ”. Đã có lúc nhà thơ như một người hoảng loạn, vô ý thức:

Ta hoảng hồn, hoảng vía, ta hoảng thiên

Nhảy ùm xuống giếng vớt trăng lên

Chắp tay tôi lạy cả miền không gian

Tuy nhiên chúng ta cần phải biết rằng “điên” ở đây không phải là một trạng thái bệnh lý mà là sự thăng hoa cao độ của sự sáng tạo nghệ thuật. Ở trạng thái đó, con người rơi vào trạng thái xuất thần, vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý trí. Đã có lúc nhà thơ lại đoạn tuyệt với trăng, lạnh lùng rao bán như một vật phẩm có trong tay:

Trăng! Trăng! Trăng! Là trăng, Trăng, Trăng!

Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Hình ảnh trăng đã được nhà thơ làm mới đi, mang một phong cách độc đáo và lạ lùng, trăng như một thứ định mệnh gắn kết với nhà thơ. Trăng nhiều lúc lẫn trong máu huyết, lai láng gợi cảm giác ớn lạnh. Trăng thực sự trở thành biểu tượng của một sự thác loạn tâm hồn. Nó chính là biểu tượng của sự đau khổ khi con người uất ức đến tuyệt đỉnh, nó như là vực thẳm đày đọa tâm hồn thi sĩ. Và Máu – Hồn – Trăng chính là hiện thể của đau thương, của nỗi đau khổ trần gian và kiếp người mà thi sĩ phải chịu nhận.

1.4.2 Trăng – biểu thị nỗi cô đơn tuyệt đối

Hẳn ai cũng biết rằng, thi sĩ trẻ Hàn Mặc Tử đã phải sống một cuộc sống cuối đời đầy đau khổ, cô đơn. Với cái tuổi ngoài đôi mươi mà thi sĩ phải sống cách ly với gia đình, xã hội và ngậm đắng đón chịu những trận dày vò về thể xác của bệnh tật. Đặc biệt là sự tha thiết yêu đương mà phải cách ly với cả người yêu nhưng vẫn một lòng yêu người chung thủy. Đau khổ hơn nữa là đang ở độ tuổi xuân xanh, tràn đầy sức sống mà phải mà phải chịu cảnh không biết sống chết ngày nào, thậm chí giờ phút nào, trong thân hình “tan rữa” vì bệnh tật . Hàn Mặc Tử cảm thấy ghê sợ nỗi cô đơn của một con người bị tách khỏi đồng loại: Chao ơi! Ghê quá trong tư tưởng Một vũng cô liêu cũ vạn đời! Trong cảnh cô đơn tuyệt vọng ấy, nhà thơ khao khát đón nhận những tín hiệu yêu thương cứu giúp của mọi người:Sao trìu mến thân yêu đâu vắng cả Hay: Với sao sương, anh nằm chết như trăng Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc Đến hôn anh và rửa vết thương lòng.Một mai kia ở bên khe nước ngọc (Duyên kỳ ngộ)

Cái xa cách, nỗi cô đơn, tuyệt vọng đó đã khiến cho nhà thơ phải thốt lên:

Và cũng chính hính sự khao khát đó lại càng tạo nên cảm giác bơ vơ, vắng bặt, càng làm cho nhà thơ có cảm giác như đang sống trên một ốc đảo giữa biển vắng đại dương mênh mông:

Rồi chính trong nỗi lòng tê lạnh thiếu vắng tình đời đó nhà thơ phải tự đối thoại với chính tâm hồn mình, xem đó như là một lẻ sống ở đời của bản thân:

Sự cô đơn mà thi sĩ Hàn phải gánh chịu chính là những chuỗi ngày dài đau khổ và thương khó. Trăng không còn nguyên vẹn tròn trịa, không còn thơ mộng như trong thơ lãng mạn mà trăng đã bị khuyết, bị cắn vỡ:

Thi sĩ Hàn đã cố gắng đến cùng để diễn tả chân thực những biểu hiện tinh vi trong thế giới tâm linh của mình nhưng càng đi sâu vào vực thẳm không cùng đó, thi sĩ càng đi xa và tạo nên một sự khác biệt đối với mọi người. Và chính cái sự khác biệt này lại làm nên một phong cách thơ độc đáo, một “hồn thơ dị biệt” Hàn Mặc Tử. Vì thế mà Chế lan Viên đã từng nói: “Tôi có thể cam đoan với các người rằng, tất cả những cái gì tầm thường hiện thời rồi sẽ tan biến hết, và sau này trong tương lai còn lại một cái gì của thế hệ chúng ta đang sống, đó là thơ Hàn Mạc Tử”

1.4.3 Trăng – người bạn tâm giao và nguồn sáng tạo vô biên

Có thể nói Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử như một người bạn đồng hành với mọi biến cố trong cuộc đời ông. Và chưa bao giờ người ta thấy trong một tập thơ tràn ngập cả ánh trăng như trong thơ Hàn Mặc Tử: Trăng đẹp, Trăng lung linh huyền ảo đi cùng với “Trăng điên”, “Trăng hủi”. Với Hàn Mặc Tử Trăng tồn tại và xuất hiện ở khắp mọi nơi.

“Không gian tràn ngập toàn trăng cả

Tôi cũng Trăng mà nàng cũng Trăng”

Hàn Mặc Tử có 5 tập thơ chính thì đã có đến 3 tập nói về Trăng, viết về Trăng. Riêng tập “Thơ điên” có đến 16 bài viết về Trăng, ngạc nhiên hơn nữa là chỉ có một bài thơ Trăng vàng Trăng ngọc có tất cả 15 câu mà có đến 28 lần nhắc đến Trăng. Hay như bài Rượt Trăng có đến 17 từ Trăng thay phiên nhau tỏa rọi trong thơ.

“Trăng bay lả tả ngã lên cành vàng

Tới đây là nơi tôi được gặp nàng

Rủ rê, rủ rê hai đứa tôi vào rừng hoang

Tôi lượm lá trăng lâm chiếu trải”

Trăng như một người bạn tri kỷ theo suốt thi sĩ trong mọi quá trình, mọi biến cố. Đặc biệt Trăng như một người bạn tâm giao, người bạn tình về đêm của nhà thơ. Trăng là một thứ ánh sáng vừa của nội tâm, vừa của ngoại giới. Trăng chính là nơi để nhà thơ trút bầu tâm sự, để được “điên” cùng Trăng, để được “hạnh phúc” cùng trăng

“Lạnh quá ánh trăng không sáng mấy

Cho nên muôn dặm ở ngoài kia

Em đang mong mỏi, em đang nhớ

Bứt rứt lòng em muốn trở về”

Bên cạnh Trăng là người bạn tâm giao với những vẽ đẹp lung linh thì Trăng còn có những “hành động” lạ:

“Ánh trăng mỏng quá không che nỗi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ”

Trăng đang nằm trên sóng cỏ

Trăng lại đẫm mình xuống nước

Trăng nước đều lặng nhìn nhau

Bên cạnh đó, Trăng còn được miêu tả như là người bạn tri kỷ, tâm giao, có cảm xúc, biết tâm tình, chia sẻ, biết “lã lơi”, biết gào thét:

“Ta gặp nàng Trăng ở suối Trăng

Nỗi lòng ta mở lẹ như Trăng

Sáng trưng sáng cả vùng tiên động

Ta ngắm hồn ta sang trẻ măng”

Trăng còn có sự “Lã lơi”, một hành động gợi tình “rất người”

“Trăng nằm sòng soãi trên cành liễu

Đội gió đông về để lã lơi”

Rồi Trăng uốn mình như thiếu nữ, quỳ sấp mặt theo dáng liễu như đang gợi tình:

“Bỗng đêm nay trước cửa bóng Trăng quỳ

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu”

Bên cạnh đó, trăng còn là nguồn cảm hứng sáng tạo vô biên, là nguồn cội của tuổi thơ. Đối với Hàn Mặc Tử, ngay từ thủa nhỏ, trăng đã thoát khỏi tất cả những ý nghĩa thông thường mà chúng ta thường gán cho vầng trăng, ánh nguyệt. Trăng trở thành thơ, trăng trở thành nhạc. Trăng là thơ và là nhạc ở thi sĩ Hàn đã có ngay từ những suy nghĩ đầu tiên của tuổi thơ. Và khi lớn lên, trăng sẽ là chia ly, đau khổ, là cõi siêu hình, là sự rung động tận cùng trong mọi tạo tác.

Trong bài thơ văn xuôi Chơi giữa mùa trăng có thể coi là bản tuyên ngôn thơ của Hàn Mạc Tử, thi sĩ coi trăng như một thực thể sáng tạo thơm thơm và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều tiếng nhạc say say gió xé rách lả tả… Và rơi đến đâu, chạm vào thứ gì là chỗ ấy, thứ ấy vang lên tuy chẳng một ai thấy rõ sức rung động. Nghiã là trăng rằm trung thu : :”Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, một đêm siêu hình vô lượng, tượng trưng của một mùa ao ước xây bằng châu lệ, làm bằng chia ly, và hơn nữa, hiện hình của một nguồn khoái lạc chán chê”

Như vậy chúng ta thấy, Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử như một nhân vật không thể thiếu để tạo ra câu chuyện, để thổ lộ tâm tình. Trăng hóa người rồi đến người hóa Trăng, tất cả không ngoài mục đích tạo nền tảng cho thi sĩ trút bỏ nỗi lòng mình. Trăng có đủ ngoại hình, có đủ đặc điểm, tính cách như một nhân vật. Đồng thời “Trăng cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và náo nức dục tình” (1; tr 206). Và trăng còn là người bạn khơi nguồn sáng tạo những vần thơ vô biên cho chính nhà thơ.

Với một thời gian ngắn hoạt động trên văn đàn, Hàn Mặc Tử đã chuyển từ cổ điển, lãng mạn sang tượng trưng, siêu thực, góp một phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa thi ca nước nhà. Thơ Hàn Mặc Tử chịu ảnh hưởng đậm nét của ông tổ trường phái tượng trưng Bauderlaire. Vì thế khi đọc thơ ông người đọc như bị hòa lẫn vào những trạng thái cảm xúc tột cùng, như bị lạc vào một thế giới mơ hồ, huyền ảo, nửa hư nửa thực không phân định cùng với một lối thơ Không rên siết là thơ vô nghĩa lý. Trong thế giới thơ ấy cái tôi thi nhân rã rời thành muôn mảnh Trăng – Hồn – Máu và chính nó đã trở thành biểu tượng nghệ thuật thường trực, bất biến trong thơ thi sĩ Hàn.

1.Hoài Thanh, Hoài Chân (2008), Thi nhân Việt Nam,Nhà Xuất bản Văn hóa.

2.Phan Ngọc (2003), Hồn thơ thế kỷ, Nhà Xuất bản Văn hóa.

3.Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam, Nhà Xuất bản Giáo dục.

4. Hàn Mặc Tử tác phẩm và lời bình (2007), Nhà Xuất bản Văn học

5. Tuyển tập mười năm tạp chí và tuổi trẻ (2004), Nhà Xuất bản Giáo dục.

Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Chín Của Hàn Mặc Tử

Phân tích bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử – Bài làm 1

Hàn Mạc Tử là nhà thơ đã có nhiều sáng tác hay viết vào mùa thu, một trong những tác phẩm nổi bật của ông đó là bài thơ Mùa Xuân Chín, tác phẩm này để lại cho tác giả nhiều cảm xúc.

Mùa xuân chín là một tác phẩm viết về mùa thu với những độ chín của mùa màng, hình ảnh đó thể hiện một tình cảm đặc biệt mà người đọc đã hướng tới, đầu tiên tác giả đã sử dụng những hình ảnh để báo hiệu rằng mùa thu đã tới, hình ảnh những cơn sướng mùa, những tiếng gió sột soạt trên mái nhà, và những giàn thiên lý đang báo hiệu mùa thu đã sang, những hình ảnh đó đã mang lại cho người đọc một cái nhìn sâu sắc và có nhiều ấn tượng nhất cho người đọc:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm thấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lý- đón xuân sang

Những làn nắng đang dần nhẹ đi bởi thu đang tới hình ảnh của nắng không còn nắng gắt như mới mùa hè, trên những mái nhà đã đang lấm thấm vàng, ở đây hình ảnh vàng có thể được xem như là hình ảnh của những chiếc lá vàng rơi, và những làn gió sột soạt trên mái nhà, đó là những hình ảnh đầy tính sáng tạo nó gợi mở cho người đọc một cái nhìn sâu sắc, rằng mùa thu đang tới:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Ba cô thôn nữ hát trên đồi

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Những hình ảnh bầu trời xanh đang dần gợi lại những hình ảnh tươi đẹp, nó đang dần lan tỏa và bom trùm lên toàn bộ không gian ở nơi đây, nó thể hiện một tình cảm đặc biệt nhất, với những hình ảnh của cánh đồng đang hát vang và vang và đám xuân xanh, ở đây ẩn dụ để nói những người con gái đang đến tuổi xuân thì, sắp bỏ những người yêu thương để đi lấy chồng, hình ảnh của bầu trời xanh, với các cô gái đang hát trong cánh đồi, và hình tượng đó biểu hiện cho ngay nhan đề, mùa xuân chín, hình ảnh đó đã thể hiện những độ nở rộ, nó đang tràn trề bao nhiêu nhựa sống, tất cả mọi vật đang dần sinh sôi và nảy nở:

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi

Hổn hển như lời của nước mây

Thầm thì với ai ngồi dưới gốc trúc

Nghe ra ý vị và thơ ngây.

Trên lưng chừng núi, những tiếng ca của những cô thôn nữ, đang ca hát, tiếng ca trong trẻo, và nó đang vắt vẻo trong khoảng không gian của núi rừng, hình ảnh của những tiếng ca, như đang hòa nhập vào cùng với không gian của thiên nhiên, đó là hình ảnh của núi mây, với rất nhiều những hình ảnh đẹp và mang nhiều màu sắc đặc biệt nhất cho con người, giá trị đó để lại cho mỗi chúng ta cái nhìn mới mẻ và sâu sắc nhất. Hình ảnh của những người đang trên lưng chừng núi, với những làn điệu của những âm vang, thì thầm bên khóm trúc, nó gợi ra một cảm giác thi vị và hòa nhập với thiên nhiên, tình cảm đó đang thể hiện một cái nhìn mới mẻ, và đầy ý nghĩa cho người đọc, tình cảm đó da diết và thể hiện một nỗi nhớ căng tràn, nó mang lại cho người đọc một cảm xúc lưu luyến và đầy ý vị nhất.

Hình ảnh của những cô thôn nữ, hòa cùng với làn điệu trong những âm vang của cuộc sống, điều đó để lại cho người đọc một cái nhìn mới mẻ, về mùa thu, với sự tươi tắn và căng tràn trong khung cảnh thiên nhiên, tình cảm đó đặc biệt sâu sắc, với những ý thơ đầy tế nhẹ và uyển chuyển biết bao:

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín

Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông nắng trắng chang chang.

Và hình ảnh của người khách đang lưu luyến trước cảnh sắc của mùa xuân, họ đang lưu luyến trước những cảnh sắc tươi đẹp hình ảnh đó làm cho tâm hồn của họ bâng khuâng một nỗi nhớ da diết, tình cảm đặc biệt và vô cùng sâu sắc đang dần thể hiện trong tác phẩm, những hình ảnh đó đã mang lại cho người khách một cảm giác quen thuộc, hình ảnh của chị ấy năm nay gánh thóc, và bên bờ sông nắng vẫn đang chang chang soi rọi vào tâm trí của con người, hình ảnh đó đã để lại cho con người biết bao nhiêu cảm xúc lưu luyến trước hình ảnh của cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng và đẹp tuyệt mỹ.

Bài thơ đã để lại cho người đọc nhiều cảm xúc sâu sắc nhất, đó là hình ảnh của một mùa xuân đang độ nở rộ thể hiện một tình cảm sâu sắc, mà tác giả đang muốn hướng tới, hình ảnh đó đang dần khắc sâu vào tâm trí của người đọc, giá trị đó đã thể hiện được một cái nhìn mới mẻ, và đầy giá trị nhất. Hình ảnh mùa xuân hòa nhập vào dòng tâm trạng của người đọc và những người khách đang tới, nó tạo nên một cảm xúc mãnh liệt và đang đẩy họ đến những cảm giác lưu luyến trước cảnh sắc của thiên nhiên đất trời.

Phân tích bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử – Bài làm 2

Hàn Mặc Tử, với cuộc đời ngắn ngủi, tâm hổn đa cảm, mong manh đã để lại cho đời những bài thơ rất đặc sắc. “Mùa xuân chín” là một trong số đó. Trong không gian của buổi giao mùạ, một góc tâm tình của tác giả: Nhớ làng, nhớ quê… và một cái gì đó rất mơ hồ, gợi trong lòng ta biết bao suy nghĩ. “Mùa xuân chín” một khoảng trời riêng của cảm xúc đang “chín” trong lòng nhà thơ, trong lòng người đọc.

Đọc tựa bài, ta hầu như đã cảm nhận được cái “ngon lành”, cái đỉnh cao tận cùng của “Mùa xuân chín”. Nếu có “xuân chín” thì hẳn cũng có “xuân xanh” ; “xuân già”. Nằm giữa ranh giới của cái “non trẻ”, cái “già nua”, “Mùa xuân chín” trở nên giá trị nhưng cũng ngắn ngủi, mong manh vô cùng. Để lòng say đắm trong giây phút hoàn hảo nhất của vũ trụ ấy thì còn gì bằng!

“Trong Tan nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lẫm tấm vàng.

“Nắng ửng”. Từ “ửng” mang một ý nghĩa đặc biệt. Ta có thể liên tưởng đến ngay cái “chín ửng” của quả đào, quả hồng, cái “ưng ửng” hây hây của đôi má các cô gái trong tiết lạnh đầu xuân. Cũng như vậy, xuân đang “chín” lên trong cái “ửng” của nắng. Dấu hai chấm sau đó nhắc nhở ta cái gì sẽ hiện nhiên xẩy ra như quả chín thì chuyển từ xanh sang hồng. Những làn khói sương tan trong nắng, lượn lờ, bồng bềnh nâng tâm hồn thi sĩ lên khỏi mặt đất, khỏi thực tại, bước vào cõi “mơ”. “Đôi mùi nhả tranh lẫm tấm vàng”. Những “lấm tấm vàng” đó là hạt nắng hay chính là những ảo ảnh trong đôi mắt của người đang say Không phải cái say “quên trời, quên đất”, cái say của nhà thơ là những phút giây đắm chìm, mê mải, chăm chú, cả âm thanh, cả hình ảnh, màu sắc cũng hòa làm một: khói tan, mái nhà lấm tấm vàng, gió sột soạt tà áo, giàn thiên lí. Đó là “bóng xuân”. Chỉ là “bóng”, rất mơ hồ, huyền ảo, mùa xuân cô gái đẹp, đẹp như trong mơ, đẹp như quả chín, đẹp hoàn hảo lướt qua trong tâm hồn nhà thơ.

“Bao cô thôn nữ hát trên đồi”. Tiếng hát của những cô gái đánh thức Hàn Mặc Tử, đưa nhà thơ trở lại với thực tại. Toàn khổ thơ là tâm trạng tiếc nuối, ngậm ngùi :

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy Có kẻ theo chồng bò cuộc chơi…

Nhà thơ nghĩ đến ngày mai đây, cảnh vật, con người sẽ đỗi khác, những cô gái sẽ không còn những giây phút hồn nhiên, vô tư ca hát với mùa xuân, cũng như xuân rồi cũng sẻ qua, “xuân chín” rồi thì xuân sẽ tàn. Tâm hồn đa cảm ấy, không thể không rung lên xúc động. “Đám xuân xanh ấy” Mùa xuân tươi đẹp của đời người, cũng là mùa xuân tươi đẹp của thiên nhiên mà thi sĩ vẽ ra trước mắt người đọc làm ta không khỏi suy tư. Thế thì ta hãy tận hưởng cho hết những giờ khắc tuyệt vời ấy.

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi ,

Hổn hển như lời của nước máy… Thầm thi với ai ngồi dưới trúc

Nghe ra ý vị và thơ ngây…

Trí tưởng tượng của tác giả đã lên đến tột độ, tiếng hát thánh thót như đang “vắt vẻo lưng chừng núi”, đang “hổn hển như lời của nước máy”. Những âm thanh không bay cao, bay xa mà vẫn “thầm thì với ai ngồi dưới trúc”. Từ “ai” rối rắm nghịch lý ấy cho ta thấy những cảm xúc vô cùng tinh tế trong tâm hồn thi sĩ. Tiếng hát bay khắp không gian, thi sĩ “thu”lại chỉ riêng cho “ai”. Chính là mình rồi tự thốt lên:

Nghe ra ý vị và thơ ngây

Có mấy ai cảm nhận hết cả đất trời như vậy! Nghĩ đến đất trời, về những cuộc đổi thay, về mùa xuân, tác giả lại nghĩ về mình Khác xa gặp lúc mùa xuân chín

Thì ra mình chỉ là một người tha phương, lẻ loi, cô độc gặp “Mùa xuân chín” mới có được giây phút ấm lòng. Hàn Mặc Tử nhớ về làng xưa trí bâng khuâng sực nhớ làng”.

Cái “sực nhớ” bất ngờ, dồn dập, tên tác giả, cái têu mà cha mẹ anh em vẫn gọi đối với Hàn Mặc Tử thân thương biết mấy, gần gũi biết mấy. Ngẫu nhiên, đó cũng là một từ rất phú hợp với nỗi nhớ của tác giả. Nhớ về quê xưa, hình ảnh đầu tiên đến với cái “sực nhớ” của tác giả là hình ảnh của người con gái. “Chị ấy” là chị ruột, chị họ hàng hay chí là một người quen hay là… ? Ta không thể biết được. Nhưng ta hiểu được rằng tác giả đã dành sẵn một tình cảm rất trân trọng, rất tha thiết cho người con gái ấy. Tại sao hình ảnh đầu tiên mà tác giả nhớ không phải là cha mẹ, anh em, mái nhà xưa ‘! Bởi vì đây là cái “sực nhớ”, điều mà ý thức không kiêm soát được mà là của con tim đang dồn dập, nóng bỏng vì nỗi nhớ điều khiển. Những từ, tiếng vần liền “trắng, nắng”, “chang chang” tạo cho người đọc cảm giác rõ rệt về một bờ sông cát trắng, nắng chói rất thật rất rõ ràng tạo thành hình ảnh con người thật đẹp.

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

Mùa xuân luôn cảm hứng của bao nhiêu thi sĩ. Thế nhưng trong “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử vẫn rất đặc sắc vẫn rất sâu đậm, không những chỉ có “Mùa xuân chín” mà còn “chín” cả lòng người thi sỉ, “chín” cả nỗi nhớ làng, nhớ người xưa trong thơ Hàn Mặc Tử.

Bài thơ dạt dào cảm xúc khiến lòng người bâng khuâng. Với tâm hồn lãng mạn cùng những lời thơ trữ tình đặc sắc, Hàn Mặc Tử đã để lại cho đời một bức tranh xuân, một hình ảnh xuân một nét xuân đầm thắm dịu dàng. Người thì đã đi xa nhưng tình người còn vương vấn mãi. Bài thơ ấy cùng với cái tôn Hàn Mặc Tử vẫn tồn tại muôn đời.

Bài Thơ Duyên Kỳ Ngộ Của Tác Giả Hàn Mặc Tử

Tác giả: Hàn Mặc Tử

Tiếng suối reo Đâu gió lên tầng mây che mắt lạ Ta muôn năm len lỏi ở Đào Nguyên Nước trong sáng lòng ta thơm vô giá Sao không ai đi lạc tới non tiên? Để ta dâng, ta mời ai giải khát Nếm cho bưa mùi vị nước trường sinh Ồ tiếng tiêu đâu bay ra man mác Khiến nao nao nguồn thanh tịnh quanh mình.

Lời chim phụ họa Tiếng tiêu nao từ phương xa bay vẳng Tiếng thanh thanh mà rất mực tương tư Xuân đây rồi lan tràn như bóng nắng Ta nên bay cho khỏi vướng sầu u.

Tiếng tiêu Vàng bay theo vàng đuổi theo vàng bay Tiếng vàng này vừa mê vừa say Dồn qua phương đông mặt trời chưa nóng Dồn qua phương tây màu sắc hây hây Ta là khúc Phượng Cầu Hoàng năm trước Đem ân tình rải khắp cả trời duyên Cho Quân Thụy lấy nàng Thôi thuyền quyên Xuân vô cùng đến ngàn năm ơn phước. Song le Nàng vẫn luôn luôn cách biệt Bến Ô Giang lành lạnh khúc thầm thương Ta vẫn còn ngân bao lời tha thiết Trong nắng mai dìu dịu mối sầu vương.

Chàng Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướm Ai đưa ta lạc đến nước non này Mùi cỏ lạ thơm như mùi nhụy chớm Cùng tiếng tiêu đồng hợp chất nồng say Đến đây rồi ta mơ niềm hận cũ Đã bao năm nào thấy bóng giai nhân Hoa lá bỗng xôn xao tìm lấy thú Trong khi này lừng lẫy nhạc tường vân.

Lời Suối Reo Ồ sự lạ muôn đời thế kỷ Đất Linh Sơn in dấu vết phàm nhân Ta reo lên với đàn thông thủ thỉ Cho lay bay tình ý ở xa xăm Xin mời chàng tài hoa thi sĩ đó Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu Hai tay chàng thử vốc vào nước nọ Mát tê đi như da thịt nàng dâu.

Lời Chim Hót Ôi chàng kia, thực ra chiều phong vận Hãy nghe ta cao hót khúc bình an Này mặt nhựt tròn vo đương sáng láng Gió đương lên vươn quyện tấm lòng ngây Ta đã nghe danh chàng cao vời vợi Như thơ ra đồng vọng cả thinh gian

Chàng Nắng càng cao, lòng ta càng hừng hực Thơ lên rồi bay quá dải nhàn vân Mùi hương đâu trong lời ca sực nức E hư vô rung động cả phong trần Ôi chao, mê toàn thân như khoái cảm Như đêm xuân uống phải rượu quỳnh tương Không đâu mà, có điều chi vừa chạm Đến tâm linh – để báo hiệu phi thường. Ta hãy giấu tiếng tiêu trong cụm lá Đừng cho ra nghe lờ lặng trời mây Ta hãy ẩn mình ta trong kẹt lá Để chờ xem sự lạ đến gần đây

Nàng (ra) Mây bay theo với mây bay Mình sao ra nước non này mà chơi Sáo ơi, dìu dặt khơi vơi Buông mau âm điệu để mời nhân gian Nắng cao ý muốn lan tràn Ở đây vắng vẻ cây ngàn suối reo Chim ơi hót khúc tương giao Có người thục nữ lần vào Thiên Thai Không gặp ai, chửa gặp ai Duyên còn ngậm kín, tình hoài miên man Tiêu tao đến nỗi bẽ bàng Đi trong hiu quạnh gặp toàn bơ vơ

Lời Suối Reo Ở đây có suối đoàn viên Có cây Phối hợp, có duyên Ngọc vàng Nước ta trong trắng ơ Nàng Đọ xem trinh tuyết có phần thanh cao Cởi xiêm cởi áo ra nào Xuống đây nàng tắm cho rạt rào thơ …

Nàng Ôi chao thơ ngầm bay theo dải nắng Lộng vào trong xiêm áo mỏng mành sao! Tiếng ai cười vang trong im lặng Khiến lòng ta hồi hộp biết dường bao!

Chàng (ở lùm cây ra) Tiếng tiêu vương vấn vào nhau mãi Ta cho Nàng đây, gẫm lạ kỳ Không duyên hồ dễ mong theo nắng Xin dâng nàng nụ cười với đôi mi.

Nàng (kinh ngạc) Ở đâu chàng ở đâu ra Xem trong cốt cách mới ra tính tình E khi mình chửa iết mình Nói câu kỳ ngộ in hình hổ ngươi Chàng ôi, thốt chẳng nên lời Không quen sao lại lả lơi chuyện trò?

Chàng Phải quên Nàng ở Đào Nguyên Bởi chưng sắc đẹp lại thêm đa tình Xuống đây tìm nợ ba sinh Không hay trời khiến ta mình gặp nhau.

Nàng Em là Trần Thương Thương Ngụ ở bến Tầm Dương Đi tìm chàng thi sĩ Trong pho sách Kim Cương Đi tới Tương tư xứ Tìm không ra người thương

Chàng Em là Trần Thương Thương Anh là Hàn Mặc Tử Không phải cách âm dương Còn có khi hội ngộ Em là hoa mười phương Anh là mây tứ xứ Gặp nhau ở cạnh đường Nói sao cho bằng khóc.

Lời Chim Hót Hỡi ôi người tục khách tình Đến đây nhìn sững cho mình thêm ghen Má ơi, má núm đồng tiền Môi sao ướt đỏ ta thèm biết bao! Nắng ơi, nắng có lên cao Làm sao da thịt hồng hào thế kia?

Nàng Người mộng hỡi từ nay ta mới biết Sao thơ anh nhuộm toàn màu ly biệt? Kêu không thôi, và nức nở cả ban đêm Nhạc thanh bai hòa trong cung cầm nguyệt Với bao màu sang sáng ửng duyên thơm Em mê quá thi nhân Hàn Mặc Tử. Người trai tơ thùy mị như tình duyên.

Chàng Thương Thương em, trời cho ta kỳ ngộ Nói cho ta thần điệu của vàng bay Đôi nhụy thắm in trên màu rực rỡ Đây đôi chim gù gật với niềm say Anh van em cho anh quỳ san sát Cho mùa xuân ngầm ngấm tận hồn anh Thơ anh sẽ như trầm hương ngào ngạt Tỏa lên cao lồng lộng giữa trời xanh.

Nàng Tất cả em là trân châu vô giá Dành cho anh rîêng hưởng hạnh phúc này Em kết tinh ở bao thanh sắc lạ Tòa thiên nhiên đúc sẵn để mê say Sao trời hỡi không cho em nguyền ước Em theo anh mà hứng lấy sao rơi Vẻ đài các còn nguyên trong khăn, lược Để làm chi, tình hỡi, khi xa xôi.

Chàng Chỉ có em làm thơ anh mãnh liệt Tình anh vang như luồng gió van lơn Chỉ có em, lòng anh yêu tha thiết Yêu điên cuồng không một phút nào hơn Bây giờ đây khóc than niềm ly hận Hỡi Thương Thương người ngọc của lòng anh Ta nhìn em với bao lời ta thán Khiến hoa chim nghe được cũng không đành.

Nàng Tình quân hỡi, muôn năm em chỉ muốn Sống bên anh cho thắm được tình yêu Mùa xuân em sẽ rất nhiều hoa bướm Bởi thơ anh tô điểm đẹp trăm chiều.

Chàng Than ơi đời biệt ly chan chứa Anh sắp đi với hai dòng lệ ứa Cả đau thương dồn dập xót tâm bào Khi xa em đã bao lần vọng tưởng Mơ trong mơ làm hoảng hốt đêm trăng Khi gần em tâm thần anh sửng sốt Mùi yêu đương vương vít cả tâm hồn Em ở đó sao anh không thề thốt Bao dòng châu đem hiến tối tân hôn.

Nàng Nói làm chi những câu mê sướng quá Nói những câu khờ dại cả người em Phải chăng anh tài hoa cao trọng lắm Đã bao lần khét tiếng ở đền vua Bao người ngọc đắm say lời ngọc thắm Bao giai nhân hâm mộ tấm tình thơ!

Chàng Anh chỉ ngó say em trong chốc lát Để hồn thơ rời rạc với mây bay Gần em luôn để hưởng bao khoái lạc Thưa em không, anh đâu dám mê say! Một mai kia ở bên khe nước ngọc Với sao sương, anh nằm chết như trăng Không tìm thấy Nàng Tiên mô đến khóc Đến hôn anh và rửa vết thương tâm.

Nàng Em quyết níu với bao tơ nắng dịu Níu thơ anh và níu cả hồn anh Hoa cỏ sẽ làm ơn theo chứng kiến Biệt ly nào dứt được mối thâm tình?

Chàng Thôi chào em giờ không trở lại Anh đi rồi mà hương phấn vẫn theo luôn (chàng biến mất)

Tiếng Suối Reo Xin đừng vầy bàn chân trong suối ngọc Hỡi giai nhân người lụa bến Tầm Dương Xin Nàng đợi để đêm khuya sẽ vọc Bao nhiêu trăng sáng dịu giữa hơi sương.

Xem tiếp:

Có thể bạn sẽ thích

Bạn đang đọc nội dung bài viết Trăng Trong Thơ Hàn Mặc Tử trên website Chungemlachiensi.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!