Top 4 # Xem Nhiều Nhất Yếu Tố Gây Cười Trong Truyện Lợn Cưới Áo Mới Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Phân Tích Tình Huống Gây Cười Trong Truyện Lợn Cưới Áo Mới

Phân tích tình huống gây cười trong truyện Lợn cưới áo mới

Lợn cưới áo mới được xây dựng trên một tình huống gây cười đầy hài hước, qua đó truyền tải nhiều bài học ý nghĩa về cách ứng xử trong cuộc sống. Em hãy phân tích tình huống gây cười trong truyện Lợn cưới áo mới

I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích tình huống gây cười trong Lợn cưới áo mới

1. Mở bài

Giới thiệu truyện cười Lợn cưới áo mới và tình huống gây cười: Truyện cười “Lợn cưới áo mới” là một câu chuyện hay, người đọc không chỉ nhận thức được khoe khoang là một thói xấu không nên có, là một người hay khoe khoang sẽ tự đẩy mình vào cảnh lố bịch, bị người đời chê cười

2. Thân bài

-Khái quát nội dung truyện cười: Truyện mở đầu bằng tình huống anh chàng hay khoe của mới may được chiếc áo mới, anh ta liền đem mặc ngay và đứng hóng ở cửa chờ cho ai đi qua người ta khen

-Tình huống gây cười trong lời nói, cử chỉ của nhân vật: Đáng lẽ ra anh ta nên tập trung vào việc miêu tả con lợn để dễ tìm thấy lợn, nhưng anh ta vẫn cố ý nhắc đến “lợn cưới” để khoe rằng nhà mình có lợn cưới

-Tình huống gây cười trong cách khoe khoang: Đây là người mà anh ta đã chờ đợi từ lâu nên anh ta vừa nghe xong câu hỏi liền giơ ngay vạt áo của mình lên và trả lời rằng “Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này…”, có thể thấy, chi tiết “áo mới” ở đây là thông tin thừa

-Tình huống gây cười trong bản chất cái đem khoe: Thông thường người ta chỉ khoe khoang với nhau về địa vị, gia tài và trình độ hay bằng cấp, nhưng hai anh chàng trong truyện cười lại khoe những thứ tầm thường, chẳng đáng để khoe

3. Kết bài

Khẳng định giá trị của tình huống gây cười trong truyện: Qua truyện cười “Lợn cưới áo mới”, đặc biệt là qua những tình huống gây cười trong truyện, ta cảm nhận rõ sự phê phán, mỉa mai tính hay khoe khoang của một số người trong cuộc sống.

II. Bài tham khảo cho đề phân tích tình huống gây cười trong Lợn cưới áo mới

Truyện cười “Lợn cưới áo mới” là một câu chuyện hay, người đọc không chỉ nhận thức được khoe khoang là một thói xấu không nên có, là một người hay khoe khoang sẽ tự đẩy mình vào cảnh lố bịch, bị người đời chê cười. Bên cạnh đó người đọc còn đặc biệt ấn tượng với tình huống gây cười trong câu chuyện giàu ý nghĩa này.

Truyện mở đầu bằng tình huống anh chàng hay khoe của mới may được chiếc áo mới, anh ta liền đem mặc ngay và đứng hóng ở cửa chờ cho ai đi qua người ta khen. Nhưng trớ trêu thay, anh ta đứng mãi từ sáng tới chiều mà chẳng có ai hỏi thăm, đang lúc tức tối và thất vọng thì may sao có người chạy tới hỏi về con lợn. Đây là người mà anh ta đã chờ đợi từ lâu nên anh ta vừa nghe xong câu hỏi liền giơ ngay vạt áo của mình lên và trả lời rằng “Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này…”, có thể thấy, chi tiết “áo mới” ở đây là thông tin thừa, bởi người hỏi chỉ cần biết anh ta có nhìn thấy con lợn hay không chứ không quan tâm anh ta mặc áo gì và mặc từ bao giờ. Nhưng cũng hài hước thay, khi sự khoe khoang lại được bắt nguồn từ anh chàng đi tìm lợn, con lợn cưới của nhà anh ta bị xổng chuồng và phải đi tìm.

Đáng lẽ ra anh ta nên tập trung vào việc miêu tả con lợn để dễ tìm thấy lợn, nhưng anh ta vẫn cố ý nhắc đến “lợn cưới” để khoe rằng nhà mình có lợn cưới. Đó cũng là một thông tin thừa và vô duyên đối với người được hỏi. Có thể thấy, chi tiết buồn cười ở đây chính là anh chàng tìm lợn đã lợi dụng tình huống xổng mất lợn để nhằm mục đích khoe khoang nhà giàu, cỗ to. Ngược lại, anh chàng có áo mới cũng không phải dạng vừa, anh ta cũng tranh thủ có người hỏi để khoe ra chiếc áo mới may của mình. Có thể nói, nếu đặt trong hoàn cảnh thi đấu thì họ là kì phùng địch thủ của nhau. Chi tiết gây cười tiếp theo mà chúng ta có thể nhận ra rõ ràng, đó là cách khoe của và tính chất khoe khoang của hai anh chàng này. Thông thường người ta chỉ khoe khoang với nhau về địa vị, gia tài và trình độ hay bằng cấp, nhưng hai anh chàng trong truyện cười lại khoe những thứ tầm thường, chẳng đáng để khoe.

Chỉ là một manh áo mới, chỉ là một con lợn cho đám cưới, đó là những thứ quá bình thường, thế nhưng họ lại khoe khoang một cách lố bịch và vô duyên đến mức trơ trẽn. Có thể thấy, các tác giả dân gian đã cường điệu hóa tột đỉnh sự khoe khoang của các nhân vật, trên thực tế sẽ không có trường hợp khoa khoang tới mức như vậy nhưng chính yếu tố cường điệu đó đã góp phần làm rõ bản chất không tốt đẹp của thói khoe khoang.

Qua truyện cười “Lợn cưới áo mới”, đặc biệt là qua những tình huống gây cười trong truyện, ta cảm nhận rõ sự phê phán, mỉa mai tính hay khoe khoang của một số người trong cuộc sống. Đồng thời chúng ta nhận thức được tính khoe khoang sẽ biến con người ta trở thành những kẻ hợm hĩnh, lố bịch và trở thành trò cười cho thiên hạ.

Theo chúng tôi

Trình Bày Cảm Nghĩ Về Truyện Lợn Cưới Áo Mới

Trình bày cảm nghĩ về truyện Lợn cưới áo mới – Văn mẫu lớp 6 đặc sắc nhất

Đằng sau mỗi câu chuyện cười dân gian là những bài học sâu sắc mà tác giả dân gian muốn gửi gắm vào đó. Lợn cưới áo mới không phải là một ngoại lệ, câu chuyện lợn cưới áo mới – câu chuyện phê phán sự khoe khoang, khoác lác”. Em hãy nêu cảm nghĩ của em về truyện cười lợn cưới áo mới.

I. Dàn ý

Giới thiệu về thể loại truyện và câu chuyện: “Trong kho tàng văn học của đất nước ta, có rất nhiều thể loại văn học hay như tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn…Trong số đó, truyện cười là một thể loại truyện tiêu biểu của văn học dân gian, thông qua việc sáng tạo những câu chuyện cười, ông cha ta đã truyền lại những thông điệp, những bài học quý giá, sâu cay và đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội. Trong số những bài học hay, phải kể đến là câu chuyện lợn cưới áo mới – câu chuyện phê phán sự khoe khoang, khoác lác”.

-Giới thiệu về nội dung của tác phẩm và bài học của tác phẩm

-Giới thiệu từng nhân vật trong truyện và tính cách của các nhân vật đó.

+ Người khoe áo mới: Muốn người ta khen mình có áo đẹp

+ Người khoe lợn cưới: Mục đích chính muốn khoe nhà có cỗ

-Kết quả một chính một mười, gặp phải người hay khoe như bản thân mình.

-Bài học của câu chuyện muốn hướng tới: chế giễu những người thích khoe khoang một cách quá trớn, không điểm dừng.

Nêu bài học đã học được thông qua câu chuyện, và bài học bản thân rút ra được: “Qua câu truyện, chúng ta có thể thấy được một tính xấu trong xã hội, cần được chỉnh sửa và chấn chỉnh. Chúng ta cần có lối sống khiêm tốn hơn để không ngừng hoàn thiện bản thân mình”.

II. Bài tham khảo

Trong kho tàng văn học của đất nước ta, có rất nhiều thể loại văn học hay như tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn…Trong số đó, truyện cười là một thể loại truyện tiêu biểu của văn học dân gian, thông qua việc sáng tạo những câu chuyện cười, ông cha ta đã truyền lại những thông điệp, những bài học quý giá, sâu cay và đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội. Trong số những bài học hay, phải kể đến là câu truyện lợn cưới áo mới – câu chuyện phê phán sự khoe khoang, khoác lác.

Trong câu truyện, tác giả dân gian đã khéo léo đưa ra những tình tiết hay và trào phúng để tạo ra những tiếng cười cho người đọc. Tuy nhiên, sau đó chính là thông điệp được gửi đến nhằm khuyên răn con người hướng đến cái chân – thiện – mĩ. Truyện kể về một người khoe con lọn mới cưới xổng chuồng và một người khoe cái áo mới may. Tuy nhiên cuộc tranh cãi không đi đến hồi kết vì không ai chịu thiệt thòi hơn ai.

Mở đầu câu chuyện nói về một chàng trai có cái mới. Tác giả đã khéo léo lồng chi tiết đáng cười vào chính là dù đã lớn tuổi, nhưng tính cách vẫn như một đứa trẻ con, muốn khoe cho mọi người biết rằng mình có một cái áo mới mới nhưng thú đến như anh chàng trong truyện thật là điển hình cho sự lố bịch đáng cười và phê phán. Chi tiết “đứng hóng cửa” thật buồn cười nhưng đối với anh chàng trong chuyện đó lại là điều bình thường, thói quen. Anh đã dùng thời gian vào việc làm vô ích. Nó hoàn toàn trái với tự nhiên, thật lố bịch và ngớ ngẩn đến khó tin. Nhưng trớ trêu thay, anh đợi hoài không thấy ai đi qua mà gặp ngay một ‘đối thủ” khoe khoang cũng ngang cơ mình.

Có một anh chàng sắp làm đám cưới thì có con lợn bị xổng chuồng. Lợi dụng việc mất lợn, anh này đã khoe khoang việc có con lợn “cưới”. Đọc lên, chúng ta thấy được những yếu tố gây cười ở đây. Con lợn thì ai cũng biết, nhưng lợn cưới thì thật là kì quặc, nó đậm mùi khoe khoang, chẳng là nhà người đàn ông này đang có công việc, vì vậy mà việc hỏi con lợn cưới chỉ là hình thức bên ngoài. Còn mục đích chính là khoe hôm nay nhà tôi có việc, tổ chức ăn uống rất linh đình.

Tuy nhiên, trong trường hợp này ta có thể thấy “một chín một mười”. Người đàn ông chạy đi tìm lợn với giọng điệu vô cùng hồ hởi. Anh ta muốn nghe nhất lúc này chính là hỏi thăm về lợn cưới. Nhưng người anh ta hỏi lại là người cũng có tính hay khoe khoang, câu trả lời của anh ta “từ lúc tôi mặc áo mới này chẳng thấy con lợn nào chạy qua cả” đã đáp ứng được câu hỏi nhưng có thêm một mục đích là khoe chiếc áo của mình.

Theo chúng tôi

Qua câu truyện, chúng ta có thể thấy được một tính xấu trong xã hội, cần được chỉnh sửa và chấn chỉnh. Chúng ta cần có lối sống khiêm tốn hơn để không ngừng hoàn thiện bản thân mình.

Yếu Tố Thần Kì Trong Truyện Cổ Tích Nhật Bản

1. Mở đầu           Khảo sát 63 truyện cổ tích Nhật Bản 2. Nhân vật thần kì          Nhân vật thần kì trong truyện cổ tích Nhật Bản, nhìn một cách khái quát cũng mang những đặc điểm “đồng dạng” với nhân vật thần kì trong truyện cổ tích của nhiều quốc gia trong khu vực Đông Á và trên thế giới. Có thể thấy, với tư duy thần thoại và trí tưởng tượng bay bổng, tác giả dân gian đã xây dựng nên hệ thống nhân vật siêu nhiên đầy “huyễn hoặc”, kì ảo nhưng cũng rất đời thường. Đó là thần Myojin – vị thần hộ mệnh (Định mệnh của cuộc sống, Nàng công chúa và người bán than), là thần đền Jizo (Cuộc đời của một người hành khất), là thần cây long não (Truyện cổ về cây long não), là nữ thần nhân từ (Con suối Tazawa xinh đẹp)… Những vị thần này luôn xuất hiện trong cuộc sống thường nhật của người dân khi họ khẩn cầu và bằng cách này hay cách khác đã đem đến cho họ những cơ hội thay đổi bất ngờ trong cuộc sống. Cô gái trong truyện Con suối Tazawa xinh đẹp, một hôm nhìn người mẹ có tuổi của mình, giật mình lo sợ một ngày nào đó mình cũng trở nên già nua như mẹ, cô quyết định lên đường tìm gặp nữ  thần và cầu xin nữ thần cho mình giữ được sắc đẹp vĩnh cửu. Mặc cho nữ thần khuyên can và cảnh báo đó là “hi vọng hão huyền” nhưng cô gái một mực quả quyết: “Con sẽ làm bất cứ điều gì để có thể đạt được điều đó”. Nữ thần chỉ cho cô gái đường đi đến dòng suối vàng lấp lánh, uống nước ở dòng suối và ước mơ của cô sẽ thành hiện thực. Nhưng kết cục do “nước suối mùa xuân rất ngọt, vì vậy cô còn uống nhiều hơn cả cơn khát đòi hỏi”, cô đã biến thành con rồng. Khi người mẹ tìm thấy cô ở nơi này, cô đã nói: “Nữ thần của lòng nhân từ đã ban cho con vẻ đẹp và sự trẻ trung vĩnh viễn. Và bây giờ con như thế này đây, con không buồn đâu mẹ ạ”. Kết thúc này, có thể đem đến sự tiếc nuối cho người nghe về một cái kết có hậu trọn vẹn song nhìn nhận một cách khách quan, đây vẫn là sự “trọn vẹn” trong khát khao vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mĩ tuyệt đối của con người.         Trong truyện kể Chàng câu cá Ichiemon, nhân vật thần kì là con quỷ nước Kappa. Con quỷ hiện ra trước mắt chàng câu cá với hình hài “một người nào đó đang treo mình trước mũi thuyền của anh trên mặt nước” và khi được hỏi: “Mày là quỷ nước Kappa phải không? Mày từ đâu đến đây và mày muốn gì?” con quỷ đã ngay lập tức trả lời: “Đúng, tôi chính là Kappa. Inchiemon, anh hãy đưa cho tôi chỗ rượu Sakê của anh đi”. Và sau khi bị từ chối, con quỷ đã rình cho anh chàng đánh cá say rượu ngủ quên, uống sạch bình rượu của anh. Tỉnh giấc, thấy bình rượu đã hết, anh tức giận nhưng con quỷ đã đền bù cho anh bằng cách “giúp anh có thật nhiều cá như anh muốn. Cá mẹ cá con sẽ thi nhau nhảy vào thuyền của anh mà chẳng cần anh giật dây câu”. Trong trường hợp này, nhân vật thần kì vẫn phát huy được vai trò của nhân vật “tặng thưởng” – một kiểu  nhân vật đặc trưng của truyện cổ tích thần kì.         Ở một câu chuyện khác – Con ma của đền Kogienji, nhân vật thần kì là con ma xuất hiện với diện mạo của một người phụ nữ trẻ đẹp với “mái tóc lưa thưa”, “mặc một cái áo Kimônô rất trắng, đứng một mình trong bóng tối mờ mờ”. Vẻ đẹp liêu trai ấy khiến cho người chủ quán khi nhìn thấy đã “rùng mình ớn lạnh”. Cô gái đến tìm chủ quán để mua kẹo trong 6 đêm liên tiếp, rồi “biến nhẹ nhàng vào đêm tối”. Vào đêm thứ 7, cô đến và cầu khẩn: “Đêm nay tôi không có tiền, nhưng bằng tấm lòng nhân từ của bụt chí tôn, xin ông hãy cho tôi mấy chiếc kẹo”. Hành tung bí ẩn của cô khiến cho người chủ quán thấy nghi ngờ và quyết tâm tìm cho ra sự thật. Sự thật được phát giác khi ông cùng nhóm thanh niên ưa mạo hiểm bám theo cô gái và nhìn thấy cô chui vào một nấm mồ. Khi tấm đá đậy trên mộ phần được đẩy ra họ nhìn thấy cô nằm trong quan tài với một đứa bé sơ sinh. Một câu chuyện tình yêu đau buồn sau đó được một vị sư trưởng hé lộ, đã khiến cho ai nấy đều cảm thương cho số phận bất hạnh của một cô gái.           Ở một số trường hợp cụ thể, nhân vật chính nhận “phương tiện thần kì” mà không cần phải trải qua sự thử thách của người tặng. Trong Truyện cổ về cây long não, chàng thợ săn vào rừng săn thú và trong lúc trú mưa dưới gốc cây long não, anh ta đã nghe được câu chuyện của hai vị thần. Câu chuyện đó, thật tình cờ lại nhắc đến cái chết của đứa con trai mới sinh của anh ta sau 7 năm nữa. Cũng vì biết trước số phận của con mình nên chàng thợ săn đã nghĩ ra cách đối phó với quỷ biển để cứu con mình thoát khỏi cái chết đã được tiên đoán. Ở đây người thợ săn nhận được “phương tiện thần kì” một cách hoàn toàn tình cờ, ngẫu nhiên.           Nhân vật thần kì còn gắn với chức năng gây ác, đem đến tai họa bất ngờ cho người dân lương thiện. Con quỷ trong truyện Tiếng cười của quỷ đã biến thành đám mây đen cuốn theo một cô dâu trong đám cưới. Bà mẹ đã lên đường đi tìm và may mắn nhờ một vị đạo cô (ngôi mộ đá) bày cách nên đã cứu được con gái trở về. Hoặc trong truyện Con quỷ và ba đứa trẻ, Ba lá bùa may mắn cũng xuất hiện con quỷ/mụ quỷ già độc ác, chuyên tìm mọi cách ăn thịt người… Kiểu nhân vật này khá giống với nhân vật yêu tinh trong truyện cổ tích của Việt Nam.           Cũng có khi nhân vật thần kì đứng ở vị trí trung gian, như trong truyện Hai ông già và cục bướu. Hai nhân vật với những đặc điểm ngoại hình giống nhau, nhưng tính cách hoàn toàn khác nhau – ông lão “vô tư” và ông lão “cục cằn”. Cả hai lần lượt vào rừng, gặp lũ quỷ nhưng cách hành xử của họ khác nhau. Ông lão “vô tư” với bản tính vui vẻ, hòa đồng thấy lũ quỷ nhảy múa nên hào hứng vừa nhảy vừa hát cùng với chúng, nên khi cần giữ lại một vật làm tin để mong ông quay lại, lũ quỷ đã nhấc cục bướu ra khỏi mặt của ông lão. Còn ông lão “cáu kỉnh”, đúng như tên gọi của mình thấy lũ quỷ xúm xít vây quanh vừa bực bội vừa sợ hãi đã làm lũ quỷ thất vọng và kết cục thật thảm hại khi lão phải hứng chịu hai cục bướu xấu xí trên mặt. Có thể thấy, hai nhân vật được đặt trước tình huống thử thách giống nhau nhưng cách xử lí tình huống khác nhau, nên kết cục số phận của họ hoàn toàn trái ngược. Nhân vật thần kì ở đây, chỉ đóng vai trò “đòn bẩy” cho hai nhân vật bộc lộ bản chất của mình. Tính chất nhân – quả  thể hiện rõ qua việc: số phận mỗi người như thế nào là do hành động, tính cách của anh ta quy định.           Rất dễ nhận thấy trong truyện cổ tích Nhật Bản, lực lượng thần kì thường phổ biến ở các dạng như “thần”, “ma”, “quỷ”, “tinh”. Chúng xuất hiện ở mỗi tình huống với những đặc điểm hành trạng khác nhau nhưng đều tham gia trực tiếp vào thế giới của con người. Sự có mặt của nhân vật thần kì, dù với bất kì vai trò nào cũng đều có ý nghĩa tạo nên tính chất khác thường, kì lạ của câu chuyện. 3. Con vật, đồ vật thần kì          Tính chất thần kì biểu hiện ở chỗ những con vật, đồ vật vật thể biết nói, biết nghe và hiểu được tiếng người. Các con vật như: loài chim (chim trĩ, chim sẻ, chim hạc…), loài cá, cua, loài thú hoang dã (cáo, chó sói…), vật nuôi (ngựa, chó, mèo, gà, vịt…)… Chúng tham gia vào cốt truyện với vai trò nhân vật phụ song lại có ý nghĩa rất lớn trong toàn bộ diễn biến câu chuyện.          Cũng giống như truyện cổ tích của nhiều quốc gia trên thế giới, sự có mặt của các con vật trong truyện cổ tích Nhật Bản được xem như “vật di sản màu nhiệm” đem lại may mắn, giàu có cho nhân vật chính. Tuy nhiên ở một vài truyện cụ thể, tính chất “mầu nhiệm” có phần khác biệt. Truyện Con cáo và ông lão kể về một ông lão lương thiện, sống đơn độc trong một ngôi làng nhỏ. Ông lão rất yêu thích công việc làm vườn, một hôm nhặt được một hạt đậu bé xíu liền mang về trồng trong mảnh vườn nhỏ của mình. Hạt đậu nảy mầm và lớn rất nhanh. Cây đậu ra quả sai trĩu nhưng có một con cáo đến ăn trộm những hạt đậu. Trước sự tức giận của ông lão, con cáo cầu xin tha tội và hứa: “Cháu sẽ làm cho ông trở thành người giàu có”. Giữ đúng lời hứa, con cáo biến thành con ngựa chiến, con bò sữa cho ông lão bán đi, kiếm rất nhiều tiền. Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đây. Lần thứ ba, con cáo biến thành cái ấm trà xinh xắn và ông lão lại mang cái ấm ra chợ bán. Một ông khách đã cho cái ấm lên bếp lửa đun để kiểm tra độ  bền của nó. Cuối cùng cái ấm phồng lên, nổ tung và kết cục là “con cáo tội nghiệp mình sũng nước nằm chết nhe răng. Còn ông lão thì bị bỏng nặng vì nước nóng ở cái ấm nổ bắn ra”. Kết thúc này không đi theo chiều hướng lí tưởng hóa – một biểu hiện cho thấy tinh thần thực tế rất đậm nét trong truyện cổ tích Nhật Bản. Ở một số truyện cổ khác, ta lại bắt gặp một lối tư duy rất gần với truyện cổ tích Việt Nam. Đó là sự “mầu nhiệm” mà con vật thần kì đem đến cho những con người bất hạnh, hiền lành tốt bụng. Nhân vật Mamichigane trong truyện Cậu bé đầu bếp, là con của một vị lãnh chúa trong vùng Omura. Cậu bé mồ côi mẹ từ lúc ba tuổi, sống cùng người mẹ kế ích kỉ, độc ác, phải chịu đựng nhiều nỗi oan ức, khổ cực. Một lần mụ vu oan cho cậu bé làm mụ bị thương, cha cậu đã đuổi cậu ra khỏi nhà cùng với một con ngựa. Trên đường đi, cậu gặp một con sông lớn, một dãy núi hiểm trở song nhờ con ngựa cậu vượt qua những chướng ngại này một cách dễ dàng. Sau này, nhờ con ngựa biết nhảy múa, cậu còn được kết hôn với cô gái xinh đẹp của phú ông; Sự đền đáp của con vật đối với ân nhân, có thể thấy qua truyện Con chim sẻ bị cắt lưỡi. Một ông lão cứu giúp con chim nhỏ gặp nạn nhưng không nhận được sự đồng tình từ bà vợ. Ông lão yêu quý con chim bao nhiêu thì bà vợ lại ghẻ lạnh, ghê tởm nó bấy nhiêu. Cuối cùng, ông lão nhân hậu được đền đáp một chiếc hòm nhỏ, trong chứa đầy vàng bạc châu báu, còn bà vợ tham lam đòi chiếc hòm lớn hơn, trong chứa đầy ma, quỷ và những sinh vật hung ác; Hay trong truyện Urashima Taro, chàng trai Urashima Taro vốn là người hiền lành, tốt bụng và dễ tính, cứu con rùa nhỏ khỏi sự hành hạ của bọn trẻ nên đã được rùa trả ơn bằng cách đưa xuống cung điện của Long Vương, chung sống với nàng công chúa Otto xinh đẹp… Những con vật thần kì trong những truyện kể trên gắn với vai trò “người tặng thưởng” và phần thưởng được trao tặng khi nhân vật chính trải qua một thử thách nào đó, và ở đây là thử thách về tình thương, lòng trắc ẩn.          Những đồ vật, vật thể như cái cối, cái thùng, cái bình, cái hũ gạo, cái áo, cái ấm… cũng được xem như những sinh thể sống động với đặc điểm, thuộc tính như con người. Chúng có thể “can dự” vào diễn biến cuộc đời của các nhân vật, chi phối tới kết cục số phận của họ. Trong truyện Vì sao nước biển lại mặn, người em nghèo khổ đến vay gạo của người anh nhưng bị từ chối. Trên đường lang thang vô định, anh đã gặp một ông lão và được bày cho cách đến tìm những người tí hon để “xin họ một vật bằng đá có thể chuyển động được”. Điều duy nhất mà anh phải làm là “quay cái tay nắm về phía bên phải và nói điều mong ước của mình” và “nếu muốn làm cho cái cối dừng lại phải quay nó về phía tay trái”. Cái cối thần kì đã làm người em toại nguyện với cuộc sống đủ đầy. Người anh trai tham lam, rắp tâm ăn trộm cái cối và kết cục là anh ta bị nhấn chìm xuống đáy biển. Đây là một trong số những truyện tương đồng với truyện của Việt Nam, với dạng kết cấu đồng quy rất đặc trưng. Cái cối thần kì trong câu chuyện này, đã phát huy tính màu nhiệm của nó và sự màu nhiệm này có ý nghĩa “trợ lực” cho nhân vật chính diện.          Là đồ vật, song chúng luôn bộc lộ các trạng thái cảm xúc giống như con người, biết phân biệt tốt – xấu, thiện – ác… Trong truyện cổ tích cổ tích Nhật Bản, ta còn bắt gặp những đồ vật thần kì như thùng rượu Sakê uống hết lại đầy, cái nồi chỉ cần cho một nhúm gạo có thể biến thành nồi cơm đầy ắp (Con yêu tinh mũi dài thích rượu), cái khăn quàng cổ mà nhờ nó có thể nghe tiếng nói của loài vật (Cái khăn thần kì), cái áo, khi mặc vào có thể bay lên trời (Nữ thần nhà trời)… Sự hư cấu này không chỉ có ý nghĩa tạo nên những cốt truyện li kì mà còn thỏa mãn ước mơ cháy bỏng của con người. 4. Sự biến hóa thần kì           Một biểu hiện của yếu tố thần kì khá đậm nét trong truyện cổ tích Nhật Bản, chính là sự biến hóa. Những dạng thức biến hóa thường thấy là từ vật thành người, từ người thành vật. Ở dạng biến hóa từ vật thành người, có truyện Phú ông Ốc Sên. Đây cũng là truyện có nhiều nét tương đồng với truyện cùng kiểu của Việt Nam như Sọ Dừa, Chàng cóc, Chàng rùa… Truyện kể về một đôi vợ chồng nghèo, đã nhiều tuổi mà không có con. Họ ao ước cháy bỏng về một đứa con. Mang niềm mong mỏi ấy, họ đến đền thờ thần nước và khẩn cầu: “Hỡi thần nước anh linh! Hãy cho con một đứa con, cho dù nó chỉ là một con ốc sên trên cánh đồng này”. Nghe thấu lời cầu nguyện, thần nước đã ban tặng cho họ một đứa con – một con ốc sên nhỏ xíu. Trong hình hài của con ốc sên, nhân vật mang lốt đã bộc lộ những đặc điểm phẩm chất vô cùng tốt đẹp: tài giỏi, hiếu thuận. Chàng ốc sên được phú ông hứa gả cho một cô con gái và cũng giống với truyện về nhân vật đội lốt xấu xí của Việt Nam, đến một thời điểm nhất định sau khi kết hôn, đã trút bỏ lốt vật để trở thành một chàng trai đẹp đẽ. Sự biến hóa từ vật thành người, không chỉ tạo ra tính chất li kì của câu chuyện mà hơn hết, nó chứa đựng khát vọng vươn tới một cái đẹp hoàn thiện, hoàn mĩ của con người ở bất kì nơi nào trên thế gian này. Đẹp về phẩm chất thôi chưa đủ, nhân vật truyện cổ tích còn phải đẹp cả về hình thức. Đó mới là tiêu chí đánh giá cái đẹp đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất theo quan niệm dân gian. Truyện Chú bé trái đào – Momotaro lại đề cập đến dạng biến hóa từ vật thành người. Một trái đào lớn trôi theo dòng nước đến tay của một bà lão. Bà mang trái đào về nhà định bổ thì bất chợt nghe thấy tiếng nói của một đứa trẻ từ quả đào và chỉ trong khoảnh khắc, trái đào tách làm đôi và một chú bé tí xíu nhảy ra; Hay như trong truyện Công chúa Kaguga, một cô bé tí hon được hóa thân từ một cây tre; Ba chàng trai biến thành “những con ngựa cày khỏe mạnh, đẹp đẽ” trong Ba chàng trai ngựa…           Sự thay đổi bất ngờ về diện mạo, hình hài cũng là một dạng biến hóa độc đáo làm nên màu sắc kì ảo trong truyện cổ tích Nhật Bản. Truyện Bà lão hài nhi là một ví dụ sinh động. Trong truyện, ông lão uống nước trong một con suối đã biến thành một chàng trai trẻ với “những nếp nhăn trên mặt đã biến mất, mái tóc bạc đã trở lại đen bóng”. Còn bà lão vợ ông, thấy chồng trở nên trẻ đẹp bất ngờ nên cũng quyết định tìm đường đến “dòng suối mùa xuân”, nhưng do uống quá nhiều nước suối nên đã biến thành một đứa trẻ. Ở đây, ta bắt gặp một mô típ rất đặc trưng của truyện cổ tích nói chung – mô típ “bắt chước thất bại”. Cùng thực hiện một việc làm nào đó, nhân vật A thực hiện thành công, còn nhân vật B thất  bại. Sự thất bại của nhân vật B thường là do làm trái thông lệ hoặc vi phạm điều cấm kị… Bà lão trong câu chuyện này vì cũng muốn trẻ trung như ông chồng nên đã uống quá nhiều thứ nước thần tiên và kết cục bị biến thành một hài nhi khờ khạo, yếu ớt. Câu chuyện kết thúc với tâm trạng ngổn ngang của ông lão: “Từ nay trở đi, ta phải chăm sóc bà vợ hài nhi của ta như thế nào đây?”. Việc “vô tình” vi phạm điều cấm kị của nhân vật bà lão trong câu chuyện, vừa có yếu tố bi kịch nhưng cũng không kém phần hài hước. Sự can thiệp của yếu tố thần kì trong trường hợp này không hướng đến một cái kết: người tốt được thưởng, kẻ xấu bị trừng phạt giống như công thức truyền thống trong truyện cổ tích Việt Nam, mà có lẽ mang một ý nghĩa biểu đạt khác. Đó là những quy tắc mà con người cần tuân thủ trong cuộc sống. Vi phạm quy tắc, tất yếu sẽ có hậu quả. Sự rạch ròi ấy phần nào đã nói lên tính cách của người Nhật. Trong truyện, tác giả dân gian còn đề cập đến một thứ nước trường sinh. Ẩn chứa sau câu chuyện là ước mơ trường sinh bất tử, khát vọng kéo dài tuổi thọ của con người.           Cũng nói về một thứ nước thần tiên, truyện Nàng công chúa và người bán than kể về một nàng công chúa bất hạnh, sau một trận ốm thập tử nhất sinh, bị các vết chàm phủ kín cơ thể. Một lần tình cờ bắt gặp một cái vũng nhỏ sủi bọt, nước nóng ấm, nàng nhúng tay vào đó, lập tức thấy “người nhẹ bẫng, dễ chịu, những vết chàm xấu xí trên tay nàng bỗng nhiên biến mất hết. Nàng sung sướng lội xuống nước tắm, thế là tất cả những vết đen trên mình nàng cũng được nước nóng rửa sạch”. Sự thay hình đổi dạng của nhân vật, tạo nên cái kết vô cùng mĩ mãn, làm thỏa mãn trí tưởng tượng bay bổng của tác giả dân gian. Ở đây, yếu tố thần kì được sử dụng như một phương tiện nghệ thuật, tạo tiền đề cho cái kết thúc có hậu của câu chuyện. 5. Kết luận           Khảo sát yếu tố thần kì trong truyện cổ tích Nhật Bản, có thể thấy những biểu hiện độc đáo của nó qua hệ thống nhân vật thần kì, các con vật đồ vật thần kì, sự biến hóa thần kì. Thực chất những dấu hiệu này không chỉ hiện diện trong truyện cổ tích Nhật Bản mà còn phổ biến trong truyện cổ tích của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên ở truyện cổ tích Nhật Bản ta vẫn có thể nhận ra những nét đặc trưng riêng biệt về hình thức và nội dung biểu đạt của yếu tố thần kì. Trong mỗi cốt truyện cụ thể, yếu tố thần kì được sử dụng với mục đích sáng tác khác nhau và vì thế, vai trò của nó cũng được nhìn nhận ở những mức độ đậm nhạt khác nhau. Song dù được biểu hiện dưới dạng thức nào, yếu tố thần kì trong truyện cổ tích Nhật Bản cũng đã làm tốt “nhiệm vụ” của nó trong việc tạo ra một “thế giới cổ tích” đầy rẫy sự hoang đường, kì ảo mà không hề viển vông, xa rời thực tế.   TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Bích Hà (2005), Truyện cổ tích Nhật Bản, Nxb. Thanh niên 2. Tăng Kim Ngân (1996), Cổ tích thần kì người Việt đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb. Giáo dục 3. Nôvicôva, A.M (1983), Sáng tác thơ ca dân gian Nga, tập 1, (Người dịch: Đỗ Hồng Chung – Chu Xuân Diên), Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp 4. Propp, chúng tôi (2003), Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 1, Nxb Văn hóa dân tộc.   5. Đỗ Bình Trị (2002), Những đặc điểm thi pháp các thể loại văn học dân gian, Nxb. Giáo dục  

Hàm Ý Hội Thoại Trong Các Truyện Cười Dân Gian: Khoe Của Và Hai Kiểu Áo

Từ góc nhìn dụng học, sự khai thác hàm ý trong các truyện này nhằm mục đích làm rõ thêm đặc tính của truyện cười.

Trong truyện cười dân gian Việt Nam có tới 98% truyện có hội thoại (theo thống kê của chúng tôi qua Tiếng cười dân gian Việt của Trương Chính – Phong Châu). Trên thực tế, không một cuộc hội thoại nào nằm ngoài ngữ cảnh. Ngữ cảnh bao gồm toàn bộ hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lịch sử và thế giới tâm lí mà trong đó ở trong một thời điểm nhất định, người ta sử dụng ngôn ngữ. Theo đó hàm ý hội thoại là ý nghĩa ngầm ẩn thể hiện trong phát ngôn gắn với ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, được người nghe tiếp nhận thông qua suy luận theo chủ đích của người nói.

Theo quan điểm này, hàm ý được xác định bởi các tiêu chí sau:

– Là nội dung ngầm ẩn của phát ngôn được suy ra từ câu nói trong một ngữ cảnh giao tiếp.

– Nội dung ngầm ẩn này phải được người nghe giải đoán đúng như ý định của người nói thông qua suy ý.

– Là chủ định của người nói mặc dù người nói có thể “rút lui ý kiến” hoặc phủ nhận trách nhiệm của mình về nội dung ngầm ẩn đó.

Hội thoại có nhiều quy tắc, các quy tắc này cần thiết cho diễn biến bình thường của một cuộc hội thoại. Tuy nhiên trong giao tiếp nhiều khi người nói cố ý không gắn kết với một quy tắc đã biết nhằm một ý định giao tiếp xác định, hoặc dùng cấu trúc này để nói lên chức năng kia. Những phát ngôn được tạo ra bởi sự cố ý như vậy đều là những phát ngôn có hàm ý ngữ dụng.

2. Phân tích 2.1. Phân tích hàm ý của truyện Khoe của

Câu chuyện nói về một thói thường của người đời: tính khoe khoang. Nội dung truyện ngắn gọn, tình tiết đơn giản với hai tham thoại của hai nhân vật. Cả tham thoại hỏi và tham thoại hồi đáp đều chứa hàm ý.

Hỏi: Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?

Đáp: Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chưa thấy con lợn nào chạy qua đây cả.

Nội dung hàm ý của người kể là: Cả người hỏi và người trả lời đều thích khoe khoang.

Với mục đích khoe khoang, quan trọng hơn là thích khoe, người nói luôn muốn được người khác biết cái mình có thể nhận những lời khen, ca ngợi, khâm phục về tài năng, danh vọng, của cải, quyền lực… Người thích khoe chỉ muốn trưng bày tất cả cho thiên hạ biết.

Ở chuyện này, anh “mất lợn” cũng giống như anh “có áo mới” đều là những người rất thích khoe khoang. Trong tâm trạng tiếc của, hốt hoảng chạy ngược chạy xuôi tìm lợn, lời hỏi thăm lẽ thường chỉ cần: Bác có thấy con lợn của tôi chạy qua đây không? Thế nhưng tất cả mọi sự vất vả và trạng thái trên chưa đủ để lấn át được cái sở thích khoe khoang, nhất là lúc này đây cần phải khoe về đám cưới của mình. Thế từ cưới biết là thừa nhưng vẫn phải nói. Đối với anh ta, đây là hoàn cảnh thích hợp nhất, đây là việc đáng nói hơn bao giờ hết, vì nói cốt để gắn hàm ý. Anh “có áo mới” cũng vậy. Đáng lẽ anh ta cần phải trả lời ngay vào câu hỏi của anh “mất lợn”: Tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả (hoặc có thể trả lời đơn giản là không). Nhưng vì sốt ruột muốn khoe áo nên cơ hội này cũng không thể bỏ quan để trình bày ngụ ý của mình Từ lúc tôi mặc cái áo mới này… Nếu như câu hỏi của anh “mất lợn” chỉ thừa có một từ thì câu trả lời của anh “có áo mới” còn thừa nhiều hơn – thừa cả một vế câu.

Trong cuộc hội thoại này, cả người hỏi và người trả lời đều chủ động dùng hàm ý. Lí do dùng hàm ý, cách thức tạo ra hàm ý và nội dung của hàm ý là giống nhau. Hàm ý có lực ngôn trung thông báo. Về mặt hành động nói hàm ý thuộc hành động biểu hiện. Các nhân vật tham gia giao tiếp có cộng tác và nắm được năng lực giải đoán hàm ý của nhau. Hàm ý được sử dụng thành công đến mức cả hai nhân vật không hề nghĩ rằng có gì khác thường trong câu nói của mình.

Chuyện này tiếng cười bật ra từ tình huống buồn cười. Hai anh hay khoe gặp nhau và cùng khoe. Anh nào cũng vừa hả hê vừa bực dọc! Hả hê vì có người để được dịp mà khoe! Bực dọc vì đợi suốt một ngày mới có dịp để khoe cái áo mới. Bực dọc vì con lợn cưới chạy đi đằng nào chưa tìm ra…

2.2. Phân tích hàm ý của truyện Hai kiểu áo

Câu chuyện xoay quanh cuộc đối thoại giữa một ông quan lớn với người thợ may. Khi người thợ may hỏi quan may chiếc áo này để tiếp ai là đã có ý kháy quan, nhưng hàm ý thực có giá trị nằm ở câu: Nếu ngài mặc hầu quan trên thì vạt đằng trước phải may ngắn đi dăm tấc, còn nếu ngài mặc để tiếp dân đen, thì vạt đằng sau phải may ngắn lại.

Thông thường kiểu áo lương ngày xưa hai vạt trước và sau đều bằng nhau. Nhưng khi may áo cho quan người thợ may nói ra điều trên với nội dung ngầm ẩn: để ngài cúi gập trước quan trên và vênh mặt lên khi đứng trước thường dân. Nói cụ thể hơn thì quan là kẻ xu nịnh, cúi người (thậm chí quỳ dưới chân) trước quan trên và hống hách (thường ưỡn ngực ta đây) trước đám dân đen con đỏ. Khi ưỡn ngực thì vạt trước phải hếch lên, vạt sau chùng xuống nên phải cắt ngắn đi, còn khi phải cúi xuống thì vạt trước chùng nên phải may ngắn đi dăm tấc.

Quan hiểu được hàm ý của người thợ may, nên đã cho là chí lí và truyền lệnh may cho ta cả hai kiểu. Trong cuộc thoại này, người nói chủ định dùng hàm ý, người nghe chủ động nhận biết (lần hỏi lại thứ hai). Hàm ý trong câu nói của người thợ may thích hợp với năng lực nhận biết của quan lớn. Sự cộng tác giữa các nhân vật trong giao tiếp khá chặt chẽ, nhịp nhàng. Người nói quen nghĩ như vậy, người nghe quen làm như thế.

Điều rút ra trong nhận thức của người thợ may (tức hàm ý) dựa trên lẽ thường có tính chất văn hoá: Khi nịnh phải cúi người, vạt đằng trước chùng, vạt đằng sau ngắn; khi hống hách vệnh mặt lên, ưỡn ngực ra thì vạt đằng trước ngắn đằng sau chùng. Như vậy, người thợ may đã dùng kiểu câu tường thuật với lực ngôn trung trực tiếp là miêu tả để diễn đạt nội dung của hàm ý. Tuy nhiên đó chỉ là cái cớ nhằm đến một sự mỉa mai, giễu cợt. Về mặt nói năng, hàm ý này thuộc hành động biểu hiện.

Người nói phải dùng hàm ý vì sợ mếch lòng quan lớn. Về sau người thợ may nói ra điều đó vì quan hỏi anh ta, tức là buộc anh ta phải nói. Thực ra câu nói đầu của anh thợ may cũng đã có hàm ý, và hàm ý này quá “kín” khiến quan không giải đoán được nên phải hỏi lại. Đây là một thủ thuật nhạo báng quan của người viết truyện: quan kém thua cả người thợ may về mặt trí tuệ(!).

Hoàn cảnh giao tiếp bắt buộc người nói phải dùng hàm ý. Sau khi nắm được năng lực giải đoánhàm ý của người đối thoại, người thợ may đã dùng hàm ý thích hợp. Quan lớn hiểu được và cộng tác hội thoại, và thế là hàm ý được sử dụng thành công.

3. Kết luận

Hàm ý hội thoại trong các truyện trên là có thực, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra tiếng cười – mục đích của truyện cười. Những thói hư tật xấu của các đối tượng trong xã hội thể hiện ở nội dung hàm ý có những mức độ khác nhau với bài học luân lí khác nhau.

Truyện Khoe của đem đến cho người đọc tiếng cười to sảng khoái nhưng ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng (chớ khoe khoang mà thành trò cười). Truyện Hai kiểu áo cũng đáng cười, nhưng tiếng cười mang một ý nghĩa phê phán sâu sắc. Hai truyện cùng hướng tới sự phê phán tính cách, nhưng ở hai mức độ rất khác nhau. Một kiểu tính cách có thể sửa được còn kiểu kia đã trở thành cố hữu và không thể thay đổi.

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Hữu Châu, (2001) – Đại cương ngôn ngữ học – tập hai – Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

2. Trương Chính – Phong Châu, (2004) – Tiếng cười dân gian Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Đặng Thị Hảo Tâm, (2003) – Cơ sở lí giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại, Luận án tiến sĩ, Hà Nội.

4. Yule.G. Dụng học (nhóm biên dịch: Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên. Hiệu đính: Diệp Quang Ban, 2003), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 3 (125), 2006, tr 5-7