Top 2 # Xem Nhiều Nhất Yếu Tố Cổ Điển Trong Bài Thơ Chiều Tối Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Màu Sắc Cổ Điển Và Hiện Đại Trong Bài Thơ “Chiều Tối” Của Hồ Chí Minh

Màu sắc cổ điển và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh

Đề bài : Màu sắc cổ điển và hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh. Bài làm:

Bác ơi tim Bác mênh mông thếÔm cả non sông mọi kiếp người”(Tố Hữu)

Vâng! Đó là tiếng nói cất lên từ nơi sâu thẳm đáy lòng của nhà thơ Tố Hữu về Người- vị cha già kính yêu của dân tộc và có lẽ đó cũng chính là âm hưởng chung mà mỗi người con Việt Nam muốn góp cùng với nhà thơ. Đó là tình yêu thiết tha dành cho Hồ Chí Minh.

Bác không chỉ là “Người đi tìm hình của nước”, người chiến sĩ cách mạng mà còn là một thi nhân giàu xúc cảm. Trong sự nghiệp sáng tác của Người, “Nhật kí trong tù” là tập thơ nổi tiếng viết về những năm tháng trong nhà lao Tưởng Giới Thạch. Tập thơ với nhiều trang viết hay cùng nhiều thể loại nhưng ấn tượng nhất phải kể đến đó là sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và hiện đại. Một trong số tác phẩm tiêu biểu đó là “Chiều tối”.

Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt,lời thơ giản dị, chân thành, “Chiều tối” đã thể hiện tình yêu thiên nhiên và khát vọng tự do, nhớ quê hương của Bác:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng khôngCô em xóm núi say ngô tốiSay hết lò than đã rực hồng”

Điều đáng chú ý là thi nhân đã làm nên sự hòa hợp giữa chất cổ điển và chất hiện đại hấp dẫn độc giả. Ngay từ nhan đề “Chiều tối” ta có thể cảm nhân được sắc thái của thơ xưa. Mọi thi nhân đều lấy thi đề là khoảng thời gian của chiều tà, khi bóng lam chiều sa xuống để dệt nên những vần thơ của mình và Bác Hồ của chúng ta cũng được khơi nguồn từ khoảnh khắc ấy:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủChòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”(Quyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên không)

Một lần nữa ta bắt gặp hình ảnh cánh chim chiều đang bay về và sa xuống.

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du từng viết:

“Chim hôm thoi thóp về rừngĐóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành”

Hay trong “Chiều hôm nhớ nhà”:

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước dồn”(Bà huyện thanh quan)

Cũng viết về thi liệu xưa nhưng dường như cánh chim trong thơ Bác lại mang màu sắc mới. Không chỉ đơn thuần miêu tả sự vận động bên ngoài mà quan trọng hơn là nhà thơ đã nắm bắt được trạng thái bên trong, nắm được linh hồn của cảnh vật (cánh chim mỏi mệt) nhưng vẫn cố tìm về tổ ấm của mình. Ở đây đã có sự tương đồng về tâm cảnh. Cánh chim mỏi mệt sau một ngày kiếm ăn cũng như người tù đã kiệt sức sau một ngày chuyển lao vất vả. Sự đồng điệu ấy đã làm nên chất hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh.

Bên cạnh hình ảnh cánh chim, nhà thơ còn miêu tả chòm mây trôi lững lờ trên bầu trời. Đây cũng là một hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ điển: “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (Thôi Hiệu). Nhưng, một lần nữa Bác không đơn thuần chỉ miêu tả những đám mây mơ hồ rồi tan vào huư ô mà còn cảm nhận được trạng thái của nó.

Từ “cô” trong bản nguyên tác có ý chỉ sự cô đơn, lẻ loi mà ý thơ trong bản dịch đã đánh mất. “Mạn mạn”là từ từ, lững lờ thể hiện sự chậm rãi. Đám mây lẻ loi đối lập với bầu trời , vụ trụ bao la càng khiến Bác thêm trạnh lòng, khao khát mái ấm hồi hương.

Không chỉ có vậy, hình ảnh trời chiều buông xuống mà đám mây vẫn còn trôi lững lờ chậm rãi, phải chăng cũng là sự đồng cảnh với người tù lê bước đường dài không biết đi đâu, về đâu? Hay sự lững lờ ấy lại là biểu hiện của phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cộng sản.

Hình ảnh như tương đồng trong bài thơ “Giải đi sớm” của Hồ Chí Minh:

“Người đi cất bước trên đường thẳmGiáp mặt đêm thâu trận gió hàn”

Bằng nghệ thuật đối lập giữa cái cô đơn lẻ loi với sự bao la của thiên nhiên vũ trụ, Bác đã đem đến cho bạn đọc những cảm xúc vừa liên tưởng về thơ ca cổ, vừa hòa chung với cung bậc tình cảm mang màu sắc hiện đại.

Hai câu thơ cuối bài là sự xuất hiện của con người. chất hiện đại ở đây là giữa thiên nhiên núi rừng rộng lớn, người phụ nữ hiện lên đầy khỏe khoắn mà không hề yếu ớt trong công việc xay ngô:

“Cô em xóm núi xay ngô tốiXay hết lò than đã rực hồng”(Sơn thôn thiếu nữ ma bao túcBao túc ma hoàn lô dĩ hồng)

Ý thơ của Bác không hề nói đến chữ “tối” mà bằng lối văn uyên bác của mình với điệp ngữ liên hoàn “ma bao túc” gợi những vòng quay luân chuyển, thời gian vận động từ tối đến ánh sáng (ánh lửa hồng), người đọc có thể cảm nhân được bóng tối sa xuống. nhưng bản dịch lại dịch thừa mất chữ “tối”.

Như vậy, bằng lối viết với nghệ thuật “vẽ mây nảy trăng”, “ý tại ngôn ngoại” màu sắc cổ điển thấm vào từng trang thơ mà không làm nhòa đi ý thơ hiện đại của Bác.

Có thể nói bài thơ ít chữ, câu thơ ít lời và sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với hiện đại, “Chiều tối” đã thể hiện được những tâm tư tình cảm của Bác với thiên nhiên, đất nước, con người.

Từ nahn đề, thể loại, nghệ thuật đến thi đề, thi liệu đều cổ điển nhưng đến với thơ Hồ Chí Minh màu sắc hiện đại vẫn giấy lên trên từng trang viết, vẫn là linh hồn của cảnh vật được Bác gửi vào trong thơ nhờ tâm hồn cao cả của người chiến sĩ cộng sản luôn có sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ buồn đến vui.

Màu Sắc Cổ Điển Và Tinh Thần Hiện Đại Trong Bài Thơ “Chiều Tối” Hồ Chí Minh

Đề bài : Màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ “Chiều tối” (“Mộ” – Nhật ký trong tù-) của Hồ Chí Minh? Định hướng cách làm Trên cơ sở hiểu biết về phong cách thơ Hồ Chí Minh và bài thơ “Chiều tối” (Mộ), thí sinh cảm nhận được đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đó là sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại. Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách, cần đảm bảo những ý sau: a) Giới thiệu tác giả, tác phẩm (0,5 điểm) – Tác giả Hồ Chí Minh: + Bậc anh hùng cứu quốc của dân tộc Việt Nam. + Là nhà văn hoá lớn, nhà thơ lớn. Người đã để lại một di sản văn học phong phú, đa dạng, trong đó có tập thơ Nhật kí trong tù với nhiều bài thơ rất đặc sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật. – Tác phẩm: Bài thơ là một trong số 134 bài thơ trong tập Nhật kí trong tù, thể hiện sâu sắc phong cách thơ của Hồ Chí Minh: Đó là sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại. b) Cảm nhận về màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ (4 điểm) – Màu sắc cổ điển: + Đề tài: Bài thơ là bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống của con người lúc chiều tối. Đây là đề tài quen thuộc của thơ ca cổ. + Hình ảnh thơ: tác phẩm sử dụng những thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ với ý nghĩa tượng trưng tạo nên tính chất hàm súc cho bài thơ.

Hình ảnh cánh chim: biểu tượng cho không gian lẫn thời gian, là tín hiệu cho buổi hoàng hôn.

Hình ảnh chòm mây: biểu tượng cho không gian cao rộng của bầu trời.

* Hình ảnh đơn giản mà vẽ nên được không gian rừng núi lúc chiều tối âm u, vắng lặng, chứa đựng trong đó bao nỗi niềm của người tù trên đất khách quê người: nỗi cô đơn, niềm khao khát một mái nhà, một tổ ấm. Đó là nghệ thuật lấy cảnh để nói tình. + Thể thơ tứ tuyệt, lời ít ý nhiều, để lại nhiều dư ba. + Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: chỉ bằng vài nét chấm phá mà ghi lại linh hồn của tạo vật và gợi được nỗi niềm của nhà thơ. – Tinh thần hiện đại: + Hình ảnh thơ: cánh chim, chòm mây, người con gái xay ngô là những hình ảnh của hiện thực. . Cánh chim mỏi: chữ “mỏi” thể hiện sự cảm nhận rất sâu cái bên trong của sự vật. Đó là cánh chim bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống: sáng: bay đi kiếm ăn, tối: bay về tìm chốn ngủ. Đó là cánh chim của tự do, của ước mơ sum họp. Đấy cũng là niềm khao khát của người tù. . Chòm mây cô đơn trôi chậm chạp giữa bầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi trên đường xa vạn dặm chưa biết đâu là điểm dừng. Thế nhưng phong thái của người tù vẫn rất ung dung, tự tại, phong thái của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, luôn làm chủ hoàn cảnh. . Hình ảnh người con gái xóm núi xay ngô tối là hình ảnh của con người lao động, hiện lên sinh động, khỏe khoắn, tích cực, là trung tâm của bức tranh “Chiều tối”. Cùng với nhịp quay của cối xay ngô và sự rực hồng của bếp lửa, hình ảnh này đã xua tan đi bóng tối, giá rét, mang đến cho người tù niềm vui của sự sống, của hơi ấm. * Hình ảnh thơ giản dị mà chứa đựng được những tình cảm rất đỗi đời thường và một nghị lực phi thường của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh. + Sự vận động của tứ thơ: đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui. Từ đó thể hiện được tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của Bác. + Tâm hồn tư duy:

Yêu cảnh vật, yêu cuộc sống “nâng niu tất cả, chỉ quên mình”. (Tố Hữu).

Đồng cảm, chia sẻ với muôn loài, đặc biệt là nỗi vất vả của những con người lao động. Đó cũng là tình cảm quốc tế vô sản trong sáng mà Bác đã giành cho nhân dân Trung Hoa.

Giọng thơ khoẻ khoắn biểu hiện một tâm hồn lạc quan, giàu nghị lực.

* Đó là một tâm hồn nghệ sĩ mà rất chiến sĩ. c. Đánh giá chung: (0,5 điểm): + Bài thơ thông qua bức tranh tả cảnh đã làm toát lên hình tượng nhân vật trữ tình: hình ảnh người tù Hồ Chí Minh với lòng yêu thương rộng lớn, luôn nâng niu, trân trọng mọi sự sống trên đời; ý chí bất khuất, kiên cường, tâm hồn lạc quan luôn hướng về tương lai, ánh sáng. + Nội dung ấy được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật vừa đậm đà màu sắc cổ điển, vừa phơi phới tinh thần hiện đại, tạo nên vẻ đẹp đặc sắc cho bài thơ. + Bài học cho bản thân (Tài liệu sưu tầm )

Phân Tích Chất Thép Trong Bài Thơ Chiều Tối Của Bác

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp

Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh

Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

“NTNK’ đã làm toát lên bức chân dung của 1 người tù tự do, 1 người tù mà không 1 nhà tù nào, 1 gông xiềng nào giam hãm được. Vì vậy, đọc thơ Bác, người yêu thơ vẫn nhận thấy bất cứ bài thơ nào, câu thơ nào cũng thấm đậm chất thép. Thép trong thơ Bác uyển chuyển, tinh vi, linh hoạt. 1 trong những bài thơ thể hiện rõ nhất chất thép trong thơ Người đó là bài “Mộ”:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Đây là bài thơ thứ 31 nếu đặt trong logic của toàn bộ tập thơ gồm 135 bài kể cả 2 bản bổ sung. Bài thơ được Bác viết trong 1 cuộc chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ đã làm toát lên chất thép cao cường của người chiến sĩ CM. Để thấy được chất thép trong t/p này, đầu tiên ta cần phải hiểu nội hàm của chất thép. Trong bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên Gia Thi”, Người có viết:

‘Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Cần phải khẳng định chất thép trong thơ là 1 h/a mang ý nghĩa ẩn dụ. Nó là tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ Cộng sản; là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của 1 con người; thậm chí nó còn là thái độ und gung tự tại của 1 tù nhân ở ngay trong tù ngục. Vì vậy, khi bộc lộ trong thơ, nó không thể là tiếng nói trần trụi của 1 ý chí. Nó phải chuyển hóa linh hoạt thành hình tượng thơ, thành tình cảm thơ vì thơ là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm, hình ảnh và lý trí. Nếu tình cảm là gốc rễ, lý trí là thân cành thì hình ảnh sẽ là hoa trái. Như vậy, đi tìm thép trong tập NTNK, nhất là trong bài thơ “Mộ” nói riêng, ta không thể đi tìm thứ thép lộ thiên mà phải tìm nó trong hình tượng thơ, trong tình cảm thơ. Chất thép càng chuyển hoá thành hình tượng, thành tình cảm sâu sắc bao nhiêu thì nó càng cao siêu, cao cường bấy nhiêu. Cao siêu nhất, cao cường nhất chính là ở điểm như Hoài Thanh đã nói: “Không phải có nói chuyện thép, lên giọng thép mới là có tinh thần thép.”

Chất thép trong bài thơ Mộ được thể hiện đầu tiên là ở lòng nhân đạo của người chiến sĩ Cộng sản. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt với 2 câu thơ đầu hiện lên là bức tranh thiên nhiên được Bác vẽ bằng tâm hồn của 1 thi sĩ lãng mạn thông qua những thi liệu, rất cổ điển. Đó là h/a cánh chim và chòm mây trở đi trở lại nhiều trong thơ cổ trung đại. Nhưng cái hay ở đây là cánh chim trong thơ Người không chỉ đơn thuần là nhằm để điểm xuyết TG như trong thơ cổ điển, ví như bà huyện thanh quan trong “chiều hôm nhớ nhà” đã viết:

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Rặng liễu sương sa khách bước dồn”

Hay như trong ca dao có câu:

“Chim bay về núi tối rồi”

Ở đây, HCM đã nhìn thấu và bên trong sư vật hiện tượng để cảm nhận được cái sự mệt mỏi của cánh chim sau 1 ngày lam lũ kiếm sống. Điều này được thể hiện rõ khi Người đặt chữ “quyện” nghĩa là mệt mỏi lên đầu câu. Như vậy, Bác đã bước xa hơn Ng Du trong kiệt tác truyện Kiều với h/a:

“Chim hôm thoi thót về rừng

Đóa trà my đã ngậm trăng nửa vành”

Như vậy Bác đã nhìn thấu vao sự vật hiện tượng để thấy được những sự mệt mỏi của những vật tưởng như vô tri vô giác. Điều ấy có nghĩa là Mộ nói chung, cũng như câu khai đề nói riêng đã được viết lên bằng 1 trái tim vô cùng nhân đạo. Trong trái tim của Bác chất chứa biết bao nhiêu chỗ đứng, thân phận, cảnh ngộ và cả những vật vô tri vô giác như nhánh lúa nhành hoa mà như Tố Hữu đã nói là:

“Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa”

Mà ở chỗ nào tình cảm sâu sắc nhất, nơi ấy chất thép được bộc lộ cao nhất. Đúng như Hoàng trung Thông đã nói:

“Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

Mặt khác, thép ở đây còn là tinh thần chiến đấu, là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của 1 con người. Ý tưởng đó cũng được thể hiện ngay ở câu thơ khai đề. Cánh chim trong câu thơ của Người đang quy lâm để tìm nơi trú ngụ. Rõ ràng ở đây nó không còn như trong thơ của Lí Bạch:

“Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn”

Cánh chi trong thơ của Lí Bạch bay về nơi vô tận thì cánh chim trong thơ Người lại đang quy lâm để tầm túc thụ. Ta không loại trừ h/a cánh chim ấy là biểu hiện cho khát vọng tự do, khát vọng đoàn tụ trong tâm hồn HCM bởi Maxim Gorky đã nói: “Văn học là nhân học.” Văn học từ muôn đời xưa cho đến mãi về sau bao giờ cũng viết về con người. Đang nơi đất khách quê người, Bác biết đi đâu về đâu khi phía trước chỉ là 1 nhà lao và điểm xuất phát cũng chỉ là một nhà tù mà thôi. Nỗi nhớ nước đã từng làm Bác bị ốm nặng:

“Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh

Nội thương nước Việt cảnh lầm than”

Thậm chí nỗi nhớ nước thương dân còn làm cho Người không ngủ được:

“Canh bốn canh 5 vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”

Như vậy rõ ràng cánh chim ấy là khát vọng đoàn tụ, là tình yêu quê hương đất nước mà lòng yêu quê hương đất nước già dặn sôi nổi ấy chính là biểu hiện chất thép trong bài thơ “Mộ” nói riêng, của cả tập thơ “NTNK” nói chung.

Không chỉ dừng lại ở đó, đến câu thơ thứ 2, Bác gợi lên không gian của cuộc giải tù:

“Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Đó là 1 bức họa mà mỗi 1 ý thơ, 1 lời thơ như 1 nét khắc nét chạm. Nền của bức pic ấy là bầu trời cao rộng. Điểm xuyết vào đó là chòm mây cô đơn, cô độc, cô lẻ đang trôi chậm chậm giữa miền sơn cước. Bức tranh này được vẽ bằng tâm hồn của 1 tù nhân cổ đeo gông, chân vướng xiềng. Vậy nhưng ở đây, tâm hồn Người vẫn bỏ ngỏ, thơ của Người vẫn ra đời như khi đang ở thể trạng tự do vậy. Điều đó có nghĩa ở Người có 1 tinh thần thép cao cường, 1 tinh thần vượt ngục mà không 1 nhà tù nào, 1 gông xiềng nào giam hãm được. Chính từ địa hạt của tự do ấy, Bác đã vẽ lên trong cuộc chuyển lao 1 bức tranh TN rất đẹp. Nhìn vào bức tranh ấy, không những ta thấy được tâm trạng buồn, nỗi nhớ nhà, nhớ nước, biểu hiện tình yêu nước của HCM mà còn thấy 1 sự bất bình tố cáo chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch vì ở câu thơ này, Bác đã làm toat lên thể trạng mệt mỏi của tù nhân. Nhà tù Tưởng Giới Thạch áp giải tù nhân mọi lúc mọi nơi, thậm chí cảnh giải lao còn làm Bác khó chịu, bất bình:

“Đã giải đi Nam Ninh

Lại giải về Vũ Minh

Giải đi quanh quẹo mãi

Kéo dài cả hành trình

Giải từ sáng sớm: “Gà gáy 1 lần đêm chửa tan”, lại phải đi bộ 53 cây số với chỉ lưng bát cháo tù cầm hơi:

“5 3 cây số 1 ngày

Áo mũ dầm mưa rách hết giày”

Giờ đây là thời điểm “Mộ”, nghĩa là chiều tối. Sức Người đã mệt. Sự mệt mỏi quyện vào từng h/a thơ, điệp vào 2 chữ “mạn mạn” trong tiếng Hán Việt nghĩa là “chậm chậm” với 2 dấu nặng đi liền kề để MT bước đi nặng nhọc của tù nhân sau 1 ngày bị áp giải. Như vậy ở đây, Bác tố cáo nhà tù bất nhân đã tước mọi quyền của con người và nó cũng đã bộc lộ rõ lòng yêu nước, cái thái độ bất bình. Tất cả đó chính là biểu hiện của chất thép trong bài thơ “Mộ”

Cứ như thế, Bác viết bài thơ “Mộ” nói riêng, cho tập “NTNK” nói chung bằng 1 trái tim mà Tố Hữu đã từng thốt lên rằng:

“Bác ơi tim bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mọi kiếp người”

Toàn bộ trái tim ấy được thể hiện rõ ở trong 2 câu thơ cuối. Khi ánh nắng tàn phai, chim trời tắt bóng cũng là lúc bầu trời buông xuống theo đúng TG. Cái nhìn bao quát không gian “Độ thiện không” giờ đây lại thu vào để đặc tả 1 xóm núi đó là sơn thôn. Nổi lên trên xóm núi ấy là h/a người thiếu nữ đang ở độ đầu xuân của tuổi trẻ lại đang phải lao động vất vả trong công việc của nhà nông:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Không chỉ đến đây ta mới thấy xuất hiện hình tượng người thiếu nữ trong thơ. Nếu trong thơ cổ trung đại, người thiếu nữ là trung tâm của cái đẹp; trong thơ lãng mạn, họ là đối tượng để chuyển tải cái tôi cô đơn mà hơn 1 lần XD viết:

“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”

Người thiếu nữ trong thơ Bác lại đang xay ngô: “ma bao túc”. Vì vậy, câu thơ ánh lên giá trị, vẻ đpẹ của con người trong lao động. Không chỉ dừng lại ở đó bởi thơ hay ý tại ngôn ngoại, lời ít ý nhiều. Chất thép trong câu thơ lại được biểu hiện 1 lần nữa thông qua tình thương của Bác đối với người thiếu nữ đang xay ngô trong thời điểm lẽ ra phải được nghỉ ngơi. Cần phải khẳng định cái lòng nhân đạo ấy chính là sức mạnh của HCM. Chẳng thế mà nhận định về HCM, mọi ý kiến trong và ngoài nước đều thống nhất với nhau ở 1 điểm: ngọn nguồn sức mạnh của HCM nằm ngay trong trái tim của Người. Ở đây, cái tình yêu thương ấy, cái lòng nhân đạo của Bác đã vượt qua lĩnh vực của 1 quốc gia, vượt qua cả h/a:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người tron 1 nước thì thương nhau cùng”

Bác thương cho tất cả những con người Bác gặp trong lao tù. Từ 1 cháu bé trong nhà lao Tân Dương, thử hỏi trong khám lạnh nhà tù, biết bao nhiêu tù nhân nghe thấy tiếng khóc của cháu bé vừa nửa tuổi mà rung lên thành hồn thơ như Ng Ái Quốc:

Cha trốn không đi lính nước nhà

Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi

Phải theo mẹ đến ở nhà pha”

Bác dành tình thương cho những con người Bác gặp trên con đường chuyển lao. Đó có thể là 1 phu làm đường:

“Dãi nắng dầm mưa chẳng nghi ngơi

Phu đường vất vả lắm ai ơi

Ngựa xe hành khách đường qua lại

Biết cảm ơn anh được mấy người

Đến đây, Người lại dành tình thương cho người thiếu nữ đang độ đầu xanh của tuổi trẻ lao động vất vả trong thời điểm nghỉ ngơi ấy là chiều tối. Đằng sau tình thương ấy, ta lại thấy 1 nỗi bất bình khi Người SD NT đảo ngữ. Ở cuối câu thơ thứ ba, ta bắt gặp “ma bao túc”. Ở đầu câu 4 Bác đảo lại thành “bao túc ma”. Chinh NT đảo ngữ ấy đã làm 2 câu thơ bắt vòng với nhau. Nó không chỉ đơn thuần là vòng của chiếc cối xay ngô. Nhìn sâu hơn, nó là vòng đời, vòng người của những kiếp đời luẩn quẩn sống dưới chế độ Tưởng Giới Thạch. Như vậy rõ ràng, viết bài thơ này, Người đã dứng trên quyền con người để tố cáo cái chế độ bất nhân của Tưởng Giới Thạch.

Bài thơ còn nổi bật ở 1 điểm đó là có lẽ cái sức mạnh của bài thơ lại được tập trung ở h/a “lô dĩ hồng”. 1 trong những đặc điểm của thơ Bác đó là thơ Người luôn luôn vận động, hướng vận động đi từ hiện tại tới tương lai, từ bóng tối để hướng đến AS. “Mộ” không nằm ngoại lệ. “Mộ” có nghĩa là chiều tối, ngỡ tưởng sẽ kết thúc bằng 1 màn đêm đen đặc. Nhưng không, với cái nhìn của người chiến sĩ, HCM đã kết thúc bài thơ của mình bằng màu hồng. Vì vậy, có lẽ chất thép của bài thơ dồn đổ mạnh nhất đo là ở chữ hồng ở bài thơ nà. Chữ “hồng” ở đây là h/a đa nghĩa. Ta không nên hiểu nó theo 1 nghĩa đơn nào mà nó là 1 hình ảnh đa nghĩa. Hiểu theo nghĩa tường minh, đây là màu hồng của lò than. Lò than ấy có lẽ đã hồng từ lúc buổi chiều. Điều này thể hiện rõ qua sắc thái của chữ “dĩ”. Trời cứ tối dần, ma lực của màu hồng càng phát sáng. Tuy nhiên ta phải hiểu chữ hồng trong câu thơ này không nên theo nghĩa tườn minh mà phải theo nghĩa hàm ẩn. Hồng ở đây chính là màu hồng trong tâm tưởng của Bác. Đó là màu hồng của cuộc CM đang đến gần. Dường như Người nhìn thấy cuộc CMT8 của đồng bào ta đang đến gần. Nhận định về vấn đề này, 1 nhà phê bình VH khẳng định: “Thơ Bác, thơ người chiến sĩ cộng sản tay nắm chắc chân lý, mắt nhìn thấu coi tương lai.” Chữ “hồng” ấy ta cũng không loại trừ đó là tình thương, là lòng nhân đạo của HCM. Đây chính là màu hồng của chất thép bởi màu hồng ấy chính là Bác đi trong đêm tối, đi trong XH hội tăm tối và nó càng phát sáng. Như vậy, trái tim nhân đạo của Ngườibộc lộ rõ nét hơn nhiều. Có thể nói, màu hồng ấy chính là bản lĩnh của HCM. Nhận định về vấn đề này, CLV viết:

“Người ghét sự chói chang, nhưng chính Người là nguồn ấm nóng

Của vầng hồng đánh dẹp bóng đêm lui”

Như vậy, 1 mình chữ “hồng” này đã đẩy lùi bóng đêm lui, đã cân bằng 27 âm tiết còn lại của 1 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Rõ ràng chữ hồng ở đây là nhãn tự của bài thơ. Một lần nữa, bài thơ lại toát lên chất thép ở hong thái ung dung tự tại của tù nhân.

Đọc bài thơ “Mộ”, ta không thấy những lời thơ than vãn, mặc dù Bác làm thơ trong hoàn cảnh hoàn toàn phản thơ. Vì sao lại có được điều ấy? Bởi Bác có 1 tinh thần thép, 1 tinh thần vượt ngục. Không 1 nhà tù nào giam được tinh thần của HCM. Bài thơ không hề có chữ thép, không hề lên giọng thép nhưng lại ngập tràn chất thép. Để kết thúc bài viết của mình nên chăng ta mượn lại lời của nhà phê bình Hoài Thanh: “Khi Bác nói trong thơ có thép, ta phải hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép.”

Phân Tích ”Chiều Tối”

Quách Như Thảo

Quách Như Thảo 

Tìm kiếm

Display results as : Số bài Chủ đề

Advanced Search

Quách Như Thảo :: Góc học tập :: Ngữ văn

 [Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí Minh

Tác giảThông điệpq_thao255

Tổng số bài gửi

:

52

Join date

:

06/05/2014

5206/05/2014

Tiêu đề: [Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí Minh   Mon May 02, 2016 8:32 am

Tiêu đề: [Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí MinhMon May 02, 2016 8:32 am

  Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc của văn chương, nó gợi tâm trạng, những cảm xúc miên man của con người. Nhưng Chiều tối này k giống như bất kì Chiều tối nào, HCM đã thể hiện lại một cách mới mẻ hơn cả. Như tên gọi, bài thơ cũng chỉ là một bức tranh vẽ cảnh hoàng hôn nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình. Đó là cảnh chiều tối qua đôi mắt ng tù HCM ”tay bị trói, cổ đeo xích” đang bị lính áp giải ngang qua 1 vùng sơn dã. Ngày đã hết mà ng tù vẫn phải cất bước. Nhà giam mới còn xa, nỗi vất vả còn nhiều. Bài thơ hình thành trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy.

   Bài thơ mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên vào lúc chiều muộn..:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.(Quyện điểu quy lầm tầm túc thụ,Cô vân mạn mạn độ thiên không.)

   Hai câu đầu đã tái hiện thời gian và không gian của buổi chiều tối ở chốn núi rừng nơi đất khách quê người. Thời gian hiện lên là một buổi chiều tối trong khung cảnh trời rộng lớn, bao la ở núi rừng buồn vắng giữa phút ngày tàn, mây lẻ loi trôi chầm chậm. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chim bay về tổ là biểu tượng quen thuộc đc dùng để diễn tả cảnh hoàng hôn thường thấy trong thơ cổ điển, nhưng cánh chim ở đây k chỉ là 1 nét vẽ bt. Cánh chim nhỏ nhoi, chòm mây cô độc, bầu trời bao la k giới hạn. Người xưa cho đó là cách lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh rất tinh vi. Cảnh núi rừng tĩnh lặng và cách chim nhỏ mệt mỏi đó đc khắc họa bằng những nét chấm phá cổ điển. Tuy chỉ hai câu thơ, k tả màu sắc, âm thanh, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh hiu…

   Ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh, đó là tâm trạng của người tù bị lưu đày. Dường như lúc chiều tối ng tù ngước mắt lên nhìn bầu trời, chợt thấy cánh chim mỏi mệt đang cố bay về tổ ấm và chòm mây chầm chậm trôi ngang lưng trời. Cái nhìn của nhà thơ k đơn thuần là cái nhìn thưởng thức mà còn gửi vào đó sự lưu luyến, trìu mến của 1 tấm lòng yêu thương vô hạn. Cánh chim nhỏ bé kia như có linh hồn, mang tâm trạng con người và có cả đời sống riêng. ”Chim mỏi” tuy gợi buồn thương nhưng về rừng tìm chốn ngủ liền sau đó lại có chút gì đó ấm áp. Cánh chim mỏi mệt, cả ngày kiếm ăn vất vả, chiều tối nó trở về rừng tìm nơi trú ngụ để sớm mai lại bay đi. Người tù cũng mỏi mệt sau 1 ngày vất vả lê bước đường trường mà vẫn không biết đâu là chặng nghỉ cuối cùng của một ngày. Như vậy có sự hòa hợp cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương mênh mông, sự nhạy cảm tinh tế của Bác dành cho mọi sự sống trên đời. Chim về rừng gắn bó với hiện thực và sự sống, 1 quan niệm mới mẻ đã đc thể hiện rằng: cái đẹp ở ngay phía sự sống, trong chính cuộc sống này. Bên cạnh hình ảnh cánh chim, hình ảnh chòm mây cũng là hình ảnh rất ấn tượng. ”Chòm mây lẻ loi lững lờ trên tầng không” đó là hình ảnh một chòm mây cô lẻ “cô vân” đang trôi lững lờ “mạn mạn” giữa tầng không. Câu thơ này ở phần dịch thơ chưa đc bộc lộ hết ý, nghĩa của phần phiên âm: chữ “cô” chưa được diễn tả và hai chữ “mạn mạn” lại được dịch thành trôi nhẹ, ít nhiều đã làm giảm đi sắc thái biểu cảm của hình ảnh. Cũng vậy ”chòm mây lẻ” tuy gợi cảm tưởng đơn độc, buồn bã nhưng liền sau đó là ”trôi nhẹ” lại cho thấy chút gì ung dung, thanh thản, gợi cảm tưởng phóng khoáng và làm chủ hoàn cảnh. Hơn thế, chòm mây cũng như đang mang tâm trạng của con người cô đơn, lẻ loi và ẩn chứa nỗi buồn. Phải có 1 tâm hồn ung dung, thư thái thì người tù ms có thể tạm quên sự đau đớn của thể xác để theo dõi 1 cánh chim, 1 chòm mây giữa bầu trời lúc hoàng hôn như vậy. Đó là cảnh chiều tối nơi sơn dã. Hai câu thơ thấm thía nỗi buồn vì cảnh buồn và người buồn, vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây đơn độc lơ lửng trên k trung gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người, vì kb bh ng tù ms đc tự do như cánh chim và chòm mây kia?! Tuy vậy, vẻ đẹp cổ điển của 2 câu thơ trên cũng thể hiện bản lĩnh kiên cường của ng tù, bởi vì nếu k có ý chí, nghị lực và phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần của ng chiến sĩ thì ls có thể viết đc những câu thơ về thiên nhiên sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thân phận tù đày.

   Nếu như ở 2 câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển bác đã dựng bức phông lớn làm nền cho bức tranh, thì trong 2 câu thơ sau, bác tập trung làm nổi bật hình tượng trung tâm của bức tranh:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”(Cô em xóm núi xay ngô tối,Xay hết, lò than đã rực hồng.)

  Đó là bức tranh sinh hoạt của người dân xóm núi, qua đó còn bộc lộ tâm trạng của người tù. Đến đây, bỗng có nét chấm phá bất ngờ: giữa rừng núi, âm u, 1 lò lửa bỗng rực hồng, soi sáng h/ả thiếu nữ đang chuẩn bị bữa ăn tối cho gia đình. Nếu trong 2 câu thơ đầu, cảnh vật hiện ra qua những nét vẽ phần nào mang tính chất ước lệ thì ở 2 câu này, h/ả ng phụ nữ LĐ lại đc t/g miêu tả chân thực và sinh động. Tứ thơ có sự vận động bất ngờ, từ bức tranh thiên nhiên hướng về bức tranh sự sống của con người. Từ bút pháp cổ điển đã chuyển sang hẳn bút pháp hiện đại. H/ả ng phụ nữ LĐ đc gợi tả 1 cách sinh động, cụ thể. Điều lạ là những câu thơ tả thực gần như văn xuôi ấy lại có một sức sống lạ thường. Sức sống ấy toát lên từ h/ả trẻ trung, khỏe khoắn của cô gái xay ngô. Nhà thơ đã đặt con ng vào vị trí chủ thể, đẩy lùi cảnh vật ra phía sau làm nền. Khi ấy cs LĐ trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Nó đem lại cho ng tù hơi ấm của sự sống cùng niềm vui và hp trc cs bình dị của những con ng tuy vất vả mà tự do, làm dịu đi nỗi cô đơn để chia sẻ vs niềm vui nho nhỏ đời thường của ng dân LĐ. Lẽ ra h/ả này gợi lên c/s vất vả, nghèo nàn nhưng câu thơ liền sau đó nổi bật lên 1 màu rực rỡ của lò than rực hồng lại gợi 1 cảm giác vui tươi, nồng ấm và bình yên. Và đó cx là h/ả trung tâm của bức tranh thơ ”Chiều tối”. 2 câu thơ sử dụng điệp ngữ bắc cầu, tạo sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng càng hiện lên 1 cô gái chăm chỉ, cần mẫn vs công việc. Tiếp theo là h/ả ”lò than rực hồng” là chấm lửa đỏ mà ng nghệ sĩ tài hoa chấm lên bức tranh, mang lại thần sắc cho toàn cảnh, tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho ng tù đang cất bước trên con đường dài. H/ả cô gái xay ngô tối và ”lò than rực hồng” gợi tả khoảnh khắc sum họp của GĐ. Thấp thoáng đâu đó là khát vọng thầm kín về cs tự do, về mái ấm gđ của con ng đang lưu lạc xa nhà, xa quê hương đất nc. Đó là tâm hồn của ng chiến sĩ CM đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm vs niềm vui đời thường. Bài thơ kết lại bằng chữ “hồng “chính là nhãn tự của bài thơ thu được cả linh hồn sức sống của toàn bài. Cả bức tranh bừng sáng bởi chữ”hồng”đó. Btho đã vận động từ ánh chiều âm u, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui. Là 1 tù nhân đang trên đường bị áp giải, đói, mệt, cô độc,… mà vẽ đc bức tranh thơ trên, đủ thấy Chủ tịch HCM đúng là 1 ng có nhân cách vĩ đại có cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời, có bản lĩnh phi thường vs 1 tấm lòng nhân ái bao la và ty thương nhân dân. Ng sẵn sàng quên đi hoàn cảnh đau buồn của riêng mình để hòa vui vs nd và đồng loại, dù chỉ là 1 niềm vui đơn sơ, nhỏ bé của những con ng chưa hề quen biết nơi đất lạ trời xa.

   NT tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển ở chỗ bài thơ lấy đề tài về thiên nhiên,ở bút pháp chấm phá, ước lệ vs những thi liệu xưa cũ, lại vừa có nét hiện đại ở bút pháp tả thực sinh động vs h/ả dân dã đời thường. Lại chủ yếu là gợi tả cho nên rất cô đọng và hàm súc. Ngôn ngữ trong thơ đc sd rất linh hoạt và sáng tạo. Cảnh chiều tối miêu tả trong bài thơ tuy có đôi nét thoáng buồn, nhưng nhìn chung toàn bài toát lên 1 kk ấm áp, sinh động. Phải là 1 ng đầy bản lĩnh, chí khí, có tâm hồn khoáng đạt và lòng thương ng, yêu cảnh vật 1 cách thiết tha ms có tâm trạng như thế.

  Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Qua bức tranh về phong cảnh thiên nhiên, bức tranh con người nơi xóm núi khi chiều muộn ta thấy đc tâm tư, tình cảm, nghị lực và nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của người chiến sĩ cách mạng. Người làm thơ trong tình cảnh khốn khó nhưng vẫn để tâm hồn mình hướng tới thiên nhiên cùng niềm hp đơn sơ. Ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp: lòng nhân ái đạt đến độ quên mình, một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất. Từ đó cta có thể rút ra đc bài học: Mỗi ng cần rèn luyện cho mình 1 kĩ năng sống, nghị lực sống. Sống có ý chí, có ý thức vươn lên trong học tập, vượt qua thử thách trên trường đời để đi đến thành công

Hồ Chí Minh được nhân loại biết đến không chỉ là một vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam mà còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ lớn của thế kỷ XX. Người đã để lại cho đời một sự nghiệp thơ ca đáng trân trọng. Trong đó nổi bật nhất là tập thơ Nhật ký trong tù được viết từ 2/8/1942 đến 10/9/1943 khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, đầy đoạ khắp các nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tập thơ này như một cuốn nhật ký bằng thơ ghi lại những chặng đường giải lao đầy gian nan vất vả ấy. Với bản lĩnh và tinh thần thép, Người đã vượt qua hoàn cảnh tù đày để hướng về ánh sáng. Bài thơ Chiều tối là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của tập Nhật ký trong tù. Đó là bài thơ thứ 31, cảm hứng của bài thơ ”Chiều tối” được gợi lên từ trên đường chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo vào cuối thu năm 1942.Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc của văn chương, nó gợi tâm trạng, những cảm xúc miên man của con người. Nhưng Chiều tối này k giống như bất kì Chiều tối nào, HCM đã thể hiện lại một cách mới mẻ hơn cả. Như tên gọi, bài thơ cũng chỉ là một bức tranh vẽ cảnh hoàng hôn nơi thôn dã vào một buổi chiều tối, thế nhưng ẩn chứa trong đó là một ước mơ tự do cho bản thân, ước mơ được quay trở lại quê hương để tiếp tục sứ mệnh của mình. Đó là cảnh chiều tối qua đôi mắt ng tù HCM ”tay bị trói, cổ đeo xích” đang bị lính áp giải ngang qua 1 vùng sơn dã. Ngày đã hết mà ng tù vẫn phải cất bước. Nhà giam mới còn xa, nỗi vất vả còn nhiều. Bài thơ hình thành trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy.Bài thơ mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên vào lúc chiều muộn..:Hai câu đầu đã tái hiện thời gian và không gian của buổi chiều tối ở chốn núi rừng nơi đất khách quê người. Thời gian hiện lên là một buổi chiều tối trong khung cảnh trời rộng lớn, bao la ở núi rừng buồn vắng giữa phút ngày tàn, mây lẻ loi trôi chầm chậm. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chim bay về tổ là biểu tượng quen thuộc đc dùng để diễn tả cảnh hoàng hôn thường thấy trong thơ cổ điển, nhưng cánh chim ở đây k chỉ là 1 nét vẽ bt. Cánh chim nhỏ nhoi, chòm mây cô độc, bầu trời bao la k giới hạn. Người xưa cho đó là cách lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh rất tinh vi. Cảnh núi rừng tĩnh lặng và cách chim nhỏ mệt mỏi đó đc khắc họa bằng những nét chấm phá cổ điển. Tuy chỉ hai câu thơ, k tả màu sắc, âm thanh, nhưng cũng đã khiến cho người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ, quạnh hiu…Ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh, đó là tâm trạng của người tù bị lưu đày. Dường như lúc chiều tối ng tù ngước mắt lên nhìn bầu trời, chợt thấy cánh chim mỏi mệt đang cố bay về tổ ấm và chòm mây chầm chậm trôi ngang lưng trời. Cái nhìn của nhà thơ k đơn thuần là cái nhìn thưởng thức mà còn gửi vào đó sự lưu luyến, trìu mến của 1 tấm lòng yêu thương vô hạn. Cánh chim nhỏ bé kia như có linh hồn, mang tâm trạng con người và có cả đời sống riêng. ”Chim mỏi” tuy gợi buồn thương nhưng về rừng tìm chốn ngủ liền sau đó lại có chút gì đó ấm áp. Cánh chim mỏi mệt, cả ngày kiếm ăn vất vả, chiều tối nó trở về rừng tìm nơi trú ngụ để sớm mai lại bay đi. Người tù cũng mỏi mệt sau 1 ngày vất vả lê bước đường trường mà vẫn không biết đâu là chặng nghỉ cuối cùng của một ngày. Như vậy có sự hòa hợp cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy chính là tình yêu thương mênh mông, sự nhạy cảm tinh tế của Bác dành cho mọi sự sống trên đời. Chim về rừng gắn bó với hiện thực và sự sống, 1 quan niệm mới mẻ đã đc thể hiện rằng: cái đẹp ở ngay phía sự sống, trong chính cuộc sống này. Bên cạnh hình ảnh cánh chim, hình ảnh chòm mây cũng là hình ảnh rất ấn tượng. ”Chòm mây lẻ loi lững lờ trên tầng không” đó là hình ảnh một chòm mây cô lẻ “cô vân” đang trôi lững lờ “mạn mạn” giữa tầng không. Câu thơ này ở phần dịch thơ chưa đc bộc lộ hết ý, nghĩa của phần phiên âm: chữ “cô” chưa được diễn tả và hai chữ “mạn mạn” lại được dịch thành trôi nhẹ, ít nhiều đã làm giảm đi sắc thái biểu cảm của hình ảnh. Cũng vậy ”chòm mây lẻ” tuy gợi cảm tưởng đơn độc, buồn bã nhưng liền sau đó là ”trôi nhẹ” lại cho thấy chút gì ung dung, thanh thản, gợi cảm tưởng phóng khoáng và làm chủ hoàn cảnh. Hơn thế, chòm mây cũng như đang mang tâm trạng của con người cô đơn, lẻ loi và ẩn chứa nỗi buồn. Phải có 1 tâm hồn ung dung, thư thái thì người tù ms có thể tạm quên sự đau đớn của thể xác để theo dõi 1 cánh chim, 1 chòm mây giữa bầu trời lúc hoàng hôn như vậy. Đó là cảnh chiều tối nơi sơn dã. Hai câu thơ thấm thía nỗi buồn vì cảnh buồn và người buồn, vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây đơn độc lơ lửng trên k trung gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người, vì kb bh ng tù ms đc tự do như cánh chim và chòm mây kia?! Tuy vậy, vẻ đẹp cổ điển của 2 câu thơ trên cũng thể hiện bản lĩnh kiên cường của ng tù, bởi vì nếu k có ý chí, nghị lực và phong thái ung dung tự chủ và sự tự do hoàn toàn về tinh thần của ng chiến sĩ thì ls có thể viết đc những câu thơ về thiên nhiên sâu sắc và tinh tế như thế trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thân phận tù đày.Nếu như ở 2 câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển bác đã dựng bức phông lớn làm nền cho bức tranh, thì trong 2 câu thơ sau, bác tập trung làm nổi bật hình tượng trung tâm của bức tranh:Đó là bức tranh sinh hoạt của người dân xóm núi, qua đó còn bộc lộ tâm trạng của người tù. Đến đây, bỗng có nét chấm phá bất ngờ: giữa rừng núi, âm u, 1 lò lửa bỗng rực hồng, soi sáng h/ả thiếu nữ đang chuẩn bị bữa ăn tối cho gia đình. Nếu trong 2 câu thơ đầu, cảnh vật hiện ra qua những nét vẽ phần nào mang tính chất ước lệ thì ở 2 câu này, h/ả ng phụ nữ LĐ lại đc t/g miêu tả chân thực và sinh động. Tứ thơ có sự vận động bất ngờ, từ bức tranh thiên nhiên hướng về bức tranh sự sống của con người. Từ bút pháp cổ điển đã chuyển sang hẳn bút pháp hiện đại. H/ả ng phụ nữ LĐ đc gợi tả 1 cách sinh động, cụ thể. Điều lạ là những câu thơ tả thực gần như văn xuôi ấy lại có một sức sống lạ thường. Sức sống ấy toát lên từ h/ả trẻ trung, khỏe khoắn của cô gái xay ngô. Nhà thơ đã đặt con ng vào vị trí chủ thể, đẩy lùi cảnh vật ra phía sau làm nền. Khi ấy cs LĐ trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Nó đem lại cho ng tù hơi ấm của sự sống cùng niềm vui và hp trc cs bình dị của những con ng tuy vất vả mà tự do, làm dịu đi nỗi cô đơn để chia sẻ vs niềm vui nho nhỏ đời thường của ng dân LĐ. Lẽ ra h/ả này gợi lên c/s vất vả, nghèo nàn nhưng câu thơ liền sau đó nổi bật lên 1 màu rực rỡ của lò than rực hồng lại gợi 1 cảm giác vui tươi, nồng ấm và bình yên. Và đó cx là h/ả trung tâm của bức tranh thơ ”Chiều tối”. 2 câu thơ sử dụng điệp ngữ bắc cầu, tạo sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng càng hiện lên 1 cô gái chăm chỉ, cần mẫn vs công việc. Tiếp theo là h/ả ”lò than rực hồng” là chấm lửa đỏ mà ng nghệ sĩ tài hoa chấm lên bức tranh, mang lại thần sắc cho toàn cảnh, tăng thêm niềm vui, sức mạnh cho ng tù đang cất bước trên con đường dài. H/ả cô gái xay ngô tối và ”lò than rực hồng” gợi tả khoảnh khắc sum họp của GĐ. Thấp thoáng đâu đó là khát vọng thầm kín về cs tự do, về mái ấm gđ của con ng đang lưu lạc xa nhà, xa quê hương đất nc. Đó là tâm hồn của ng chiến sĩ CM đã vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để đồng cảm vs niềm vui đời thường. Bài thơ kết lại bằng chữ “hồng “chính là nhãn tự của bài thơ thu được cả linh hồn sức sống của toàn bài. Cả bức tranh bừng sáng bởi chữ”hồng”đó. Btho đã vận động từ ánh chiều âm u, tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui. Là 1 tù nhân đang trên đường bị áp giải, đói, mệt, cô độc,… mà vẽ đc bức tranh thơ trên, đủ thấy Chủ tịch HCM đúng là 1 ng có nhân cách vĩ đại có cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời, có bản lĩnh phi thường vs 1 tấm lòng nhân ái bao la và ty thương nhân dân. Ng sẵn sàng quên đi hoàn cảnh đau buồn của riêng mình để hòa vui vs nd và đồng loại, dù chỉ là 1 niềm vui đơn sơ, nhỏ bé của những con ng chưa hề quen biết nơi đất lạ trời chúng tôi tả cảnh trong bài thơ vừa có nét cổ điển ở chỗ bài thơ lấy đề tài về thiên nhiên,ở bút pháp chấm phá, ước lệ vs những thi liệu xưa cũ, lại vừa có nét hiện đại ở bút pháp tả thực sinh động vs h/ả dân dã đời thường. Lại chủ yếu là gợi tả cho nên rất cô đọng và hàm súc. Ngôn ngữ trong thơ đc sd rất linh hoạt và sáng tạo. Cảnh chiều tối miêu tả trong bài thơ tuy có đôi nét thoáng buồn, nhưng nhìn chung toàn bài toát lên 1 kk ấm áp, sinh động. Phải là 1 ng đầy bản lĩnh, chí khí, có tâm hồn khoáng đạt và lòng thương ng, yêu cảnh vật 1 cách thiết tha ms có tâm trạng như thế.Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí Minh. Qua bức tranh về phong cảnh thiên nhiên, bức tranh con người nơi xóm núi khi chiều muộn ta thấy đc tâm tư, tình cảm, nghị lực và nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của người chiến sĩ cách mạng. Người làm thơ trong tình cảnh khốn khó nhưng vẫn để tâm hồn mình hướng tới thiên nhiên cùng niềm hp đơn sơ. Ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp: lòng nhân ái đạt đến độ quên mình, một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất. Từ đó cta có thể rút ra đc bài học: Mỗi ng cần rèn luyện cho mình 1 kĩ năng sống, nghị lực sống. Sống có ý chí, có ý thức vươn lên trong học tập, vượt qua thử thách trên trường đời để đi đến thành công

   

[Văn/11] Phân tích ”Chiều tối” – Hồ Chí Minh

Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:

Bạn không có quyền trả lời bài viết

Quách Như Thảo :: Góc học tập :: Ngữ văn Quách Như Thảo :: Góc học tập :: Ngữ văn

Chuyển đến: