Top 6 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Là Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Sọ Dừa

Truyện cổ tích hấp dẫn người đọc bởi truyện đã chiếu rọi ánh sáng lạc quan tin tưởng vào cuộc sống. Để khắc hoạ nhân vật và cấu trúc nên cốt truyện, dân gian rất quan tâm, chú trọng đến các hành động của nhân vật chứ không quan tâm mô tả ngoại cảnh, ngoại hình và tâm lý nhân vật. Hình tượng nhân vật trong truyện cổ tíc h rất đa dạng, trong đó có kiểu nhân vật xấu xí. Các nhân vật xấu xí với vẻ ngoài dị dạng như con cóc, con dê, con ếch… có sự đối lập với vẻ xấu xí bên ngoài là vẻ đẹp bên trong của các nhân vật với tính cách hiền lành, chân thật, cao thượng và có một tâm hồn trong sáng, tình yêu chân thành. Sọ Dừa là điển hình cho kiểu nhân vật này, phân tích nhân vật và tác phẩm ta có thể thấy truyện dạy ta rất nhiều bài học triết lí.

Tóm tắt truyện cổ tích Sọ Dừa

Có đôi vợ chồng già hiếm muộn con cái, phải đi ở cho nhà phú ông. Một hôm bà vợ vào rừng hái củi, uống nước trong cái sọ dừa, về nhà có mang, ít lâu sau sinh ra một đứa bé kì dị, không chân không tay, tròn như một quả dừa. Thấy đứa bé biết nói, bà giữ lại nuôi và đặt luôn tên là Sọ Dừa.

Thương mẹ vất vả, Sọ Dừa nhận chăn đàn bò nhà phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi, con nào cũng béo mượt. Ba cô con gái nhà phú ông thay nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị kênh kiệu thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô út đối đãi với cậu tử tế.

Phát hiện ra vẻ đẹp bên trong cái vẻ kì dị của Sọ Dừa, cô út đem lòng thương yêu. Sọ Dừa nhờ mẹ đến nhà phú ông hỏi vợ. Phú ông thách cưới thật lo nhưng thấy Sọ Dừa mang đủ đồ thách cưới đến, đành phải gả cô út cho chàng. Ngày cưới, Sọ Dừa hiện nguyên hình là một chàng trai trẻ đẹp khiến hai cô chị vô cùng ghen tức.

Nhờ chăm chỉ đèn sách Sọ Dừa thi đỗ trạng nguyên và được nhà vua cử đi, sứ nước ngoài. Trước khi đi chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà để đề phòng tai hoạ.

Sọ Dừa đi vắng, hai người chị tìm cách hãm hại cô út, đẩy cô xuống biển hòng cướp chồng em. Nhờ có các đồ vật chồng đưa cho, cô út thoát chết, được chồng cứu trên đường đi sứ về. Hai vợ chồng đoàn tụ. Hai cô chị xấu hổ bỏ nhà đi biệt tích.

Ý nghĩa của truyện cổ tích Sọ Dừa

Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của con người

Sọ Dừa là hình tượng điển hình nhất cho kiểu nhân vật có ngoại hình xấu xí nhưng lại có vẻ đẹp bên trong ngời sáng, đẹp đẽ và nhân hậu. Đọc truyện cổ tích Sọ Dừa, có thể thấy mối quan hệ giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật. Về hình thức bề ngoài, Sọ Dừa dị dạng (tròn như sọ dừa) đối lập với phẩm chất bên trong (thông minh, tài giỏi). Sự đối lập giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của Sọ Dừa khẳng định giá trị bản chất và chân chính của con người

Người xưa có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, ý muốn nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn con người mới là cái quyết định, không nên có sự khinh miệt đối với ngoại hình xấu xí của một con người. Sự thật đã chứng minh, Sọ Dừa có khả năng làm tốt tất cả những việc mà những người bình thường có thế làm được, thậm chí tốt hơn. chàng chăn bò rất giỏi, thổi sáo rất hay, tự tin (chăn bò, giục mẹ hỏi con gái phú ông làm vợ và lo đủ sính lễ theo điều kiện phú ông đặt ra), thông minh (thi đỗ Trạng nguyên), có tài dự đoán tương lai chính xác (khi đi xứ, đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn vợ phải luôn giắt trong người). Điều đó chứng tỏ vẻ đẹp bên trong mới là vẻ đẹp vĩnh cửu và trường tồn.

Ca ngợi vẻ đẹp của Sọ Dừa, truyện đồng thời cũng phản ánh một hiện thực bất công trong cuộc sống, những con người bất hạnh có ngoại hình xấu xí phải chịu đựng sự chê bai dè bỉu của người đời. Họ không dám lên tiếng mà để cho những áng truyện viết thay họ

Kín đáo truyền tải thông điệp yêu thương những người khác mình.

Để yêu thương một người là một điều tương đối dễ dàng, nhưng để yêu thương ai đó khác mình lại là một điều thật khó. Con người ta vẫn thường tự tin mình có tấm lòng nhân hậu, vị tha cho đến khi đối mặt với những người khác biệt mình, họ tự cho mình có quyền được phán xét, được bình phẩm người khác, họ tự cho mình quyền được đặt bản thân lên trên quyền được sống và yêu thương của đồng loại. Sọ Dừa không chỉ đơn thuần là câu chuyện cổ tích viết cho trẻ con, nó là một lưỡi dao rất tinh tế xoáy sâu vào hiện thực của sự thật, vừa đủ để ta nhận ra rằng liệu có chăng ta cần phải học cách yêu thương lại từ đầu. Ta cần yêu phẩm chất và tài năng của họ, công nhận sự nỗ lực của họ. Các nhân vật này không phải là quái vật mà chỉ là sự khác biệt, họ xứng đáng được đối xử như những người bình thường khác. Ta nên hành xử với họ như cách cô Út đã làm với Sọ Dừa

Khi đánh giá con người: phải xem xét toàn diện, không chỉ dừng lại ở biểu hiện bề ngoài. Đó là ý nghĩa nhân bản, thể hiện đạo lý truyền thống của nhân dân. Truyện còn đề cao lòng nhân ái: “Thương người như thể thương thân”. Chính lòng nhân ái sẽ đem lại hạnh phúc cho con người.

Khát vọng được đổi đời

Xã hội phong kiến được biết tới là xã hội phân biệt giàu nghèo, tầng lớp vô cùng lớn. Không phải ngẫu nhiên mà có câu thơ:

Con vua thì lại làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

Một sự thật là những người ở tầng lớp dưới rất khó để tiếp cận với địa vị cao chỉ bằng tài năng của mình. Những con người bần cùng không có cơ hội để thực hiện ước mơ của mình, họ phải chịu miệt thị bởi ngoại hình xấu xí, sự nghèo khó cũng như đau khổ mà họ không đáng phải gánh, họ không biết phải gửi những lời than này đi đâu, chỉ biết viết vào những truyện cổ tích. Sọ Dừa có hình dạng xấu xí nhưng cuối cùng đã được trút bỏ lốt, cùng cô út hưởng hạnh phúc, còn hai cô chị phải bỏ nhà trốn đi. Qua kết cục này, người lao động xưa thể hiện những mơ ước về sự đổi đời: Sọ Dừa từ thân phận thấp kém, xuất thân trong một gia đình đi ở, dị hình xấu xí… trở thành người đẹp đẽ, có tình thương và thông minh tài giỏi, được hưởng hạnh phúc.

Đó là sự đổi ngôi giữa các tuyến nhân vật, kẻ lương thiện tài năng cần được quay trở về với đúng vị trí mình, đó đã là chân lý muôn thuở .

Như vậy, Sọ Dừa đã truyền tải rất nhiều ý nghĩa hay đến bạn đọc, ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, kín đáo lên án xã hội bất công, đồng thời thể hiện khát vọng chiến thắng cái ác của người dân

Thảo Nguyên

Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Tấm Cám

Ngày xửa ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ. Người chị tên là Tấm còn em là Cám. Mẹ của Tấm đã mất từ sớm, còn cha cũng qua đời sau đó mấy năm. Để lại Tấm ở với dì ghẻ là mẹ Cám.

Bà mẹ kế vô cùng cay nghiệt và độc ác. Ngày qua ngày, bà ta bắt Tấm phải làm hết những công việc nặng nhọc trong nhà từ việc chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo, đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Ngược lại, Cám lại vô cùng được chiều chuộng, được ăn trắng mặc trơn, suốt ngày quanh quẩn ở nhà, không phải làm bất cứ việc gì.

Một hôm người dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng xúc tép và hứa rằng: “Nếu đứa nào bắt được đầy giỏ tép thì sẽ được thưởng một cái yếm đỏ”. Nghe lời của mẹ, Tấm chăm chỉ siêng năng nên chẳng mấy chốc mà đã được một giỏ đầy vừa cá vừa tép. Còn Cám thì mải chơi, dạo hết từ ruộng nọ sang ruộng kia, hái hoa bắt bướm nên mãi đến chiều mà chẳng bắt được gì.

Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy, Cám bảo chị:

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng.

Nghe Cám nói vậy, Tấm tin là thật nên liền xuống ao tắm rửa cho sạch. Nhân cơ hội đó, Cám liền trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình rồi chạy nhanh về nhà. Lúc lên bờ Tấm thấy chỉ còn lại chiếc giỏ trống không, Tấm ngồi xuống và bưng mặt khóc.

Nghe thấy tiếng khóc của Tấm, ông Bụt hiện lên và hỏi:

Bấy giờ Bụt đang ngồi trên tòa sen, bỗng nghe tiếng khóc của Tấm, liền hiện xuống hỏi :

– Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể lể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Thôi con hãy nín đi ! Con thử nhìn vào giỏ xem còn có gì nữa không?

Tấm nhìn vào giỏ rồi nói :

– Chỉ còn một con cá bống.

– Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, đáng ăn ba bát thì con ăn hai còn một đem thả xuống cho bống. Mỗi lần cho ăn con nhớ gọi như thế này :

Bống bống bang bang

Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta

Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.

Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy !

Nói xong Bụt biến mất. Tấm theo lời Bụt thả bống xuống giếng. Rồi từ hôm ấy trở đi, cứ mỗi bữa ăn, Tấm đều để dành cơm, giấu đưa ra cho bống. Mỗi lần nghe Tấm gọi, bống lại ngoi lên mặt nước đớp những hạt cơm của Tấm ném xuống. Người và cá ngày một quen nhau, và bống ngày càng lớn lên trông thấỵ

Thấy Tấm sau mỗi bữa ăn thường mang cơm ra giếng, mụ gì ghẻ sinh nghi, bèn bảo Cám đi rình. Cám nấp ở bụi cây bên bờ giếng nghe Tấm gọi bống, bèn nhẩm lấy cho thuộc rồi về kể lại cho mẹ nghe.

Tối hôm ấy mụ dì ghẻ bảo Tấm sáng mai dậy sớm chăn trâu, và dặn:

– Con ơi con! Làng đã bắt đầu cấm đồng rồi đấy. Mai con đi chăn trâu, phải chăn đồng xa, chớ chăn đồng nhà, làng bắt mất trâu.

Tấm vâng lời, sáng hôm sau đưa trâu đi ăn thật xa. Ở nhà, mẹ con Cám mang bát cơm ra giếng cũng gọi bống lên ăn y như Tấm gọi. Nghe lời gọi, bống ngoi lên mặt nước. Mẹ Cám đã chực sẵn, bắt lấy bống đem về nhà làm thịt.

Đến chiều Tấm dắt trâu về, sau khi ăn xong Tấm lại mang bát cơm để dành ra giếng, Tấm gọi nhưng chả thấy bống ngoi lên như mọi khi. Tấm gọi mãi, gọi mãi, cuối cùng chỉ thấy cục máu nổi lên mặt nước. Biết là có sự chẳng lành cho bống, Tấm òa lên khóc. Bụt lại hiện lên hỏi:

– Con làm sao lại khóc ?

Tấm kể sự tình cho Bụt nghe, Bụt bảo:

– Con bống của con, người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi ! Rồi về nhặt xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống dưới bốn chân giường con nằm.

Tấm trở về theo lời Bụt đi tìm xương bống, nhưng tìm mãi các xó vườn góc sân mà không thấy đâu cả. Một con gà thấy thế, bảo Tấm :

– Cục ta cục tác ! Cho ta nắm thóc, ta bưới xương cho !

Tấm bốc nắm thóc ném cho gà. Gà chạy vào bếp bới một lúc thì thấy xương ngay. Tấm bèn nhặt lấy bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời bụt dặn.

Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy đêm ngày. Già trẻ gái trai các làng đều nô nức đi xem, trên các nẻo đường, quần áo mớ ba mớ bẩy dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹp để đi trẩy hội. Thấy Tấm cũng muốn đi, mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó mụ lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc, bảo Tấm:

– Con hãy nhặt xong cho dì chỗ gạo này rồi có đi đâu hãy đi, đừng có bỏ dở, về không có gì để thổi cơm dì đánh đó.

Nói đoạn, hai mẹ con quần áo xúng xính lên đường. Tấm ngồi nhặt một lúc, thấy suốt ruột, nghĩ rằng không biết bao giờ mới nhặt xong, bèn ngồi khóc một mình. Giữa lúc ấy Bụt hiện lên hỏi:

– Con làm sao lại khóc?

Tấm chỉ vào cái thúng, thưa:

– Dì con bắt phải nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, rồi mới được đi xem hội, lúc nhặt xong thì hội đã tan rồi còn gì mà xem.

Bụt bảo:

– Con đừng khóc nữa. Con mang cái thúng đặt ra giữa sân, để ta sai chim sẻ xuống nhặt giúp.

– Nhưng ngộ nhỡ chim sẻ ăn mất thì khi về con vẫn cứ bị đòn.

– Con cứ bảo chúng nó thế này:

Rặt rặt (con chim sẻ ) xuống nhặt cho tao

Ăn mất hạt nào thì tao đánh chết

Thì chúng nó sẽ không ăn của con đâu.

Tự nhiên ở trên không có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻo. Chúng nó lăng xăng ríu rít chỉ trong một lát đã làm xong, không suy suyển một hạt. Nhưng khi chim sẻ bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc. Bụt lại bảo:

– Con làm sao lại khóc?

– Con rách rưới quá, người ta không cho con vào xem hội.

– Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ thứ cho con trẩy hội.

Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên. Đào lọ thứ nhất lấy ra được một cái áo mớ ba, một cái áo xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Đào lọ thứ hai lấy ra được một đôi giầy thêu. Đào lọ thứ ba thì thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuông đất bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật. Đào đến lọ cuối cùng thì lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn.

Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi thắng bộ vào, đoạn cưỡi lên ngựa mà đi. Ngựa phóng một chốc đã đến kinh đô. Nhưng khi phóng qua một chỗ lội, Tấm đánh rơi một chiếc giầy xuống nước không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giầy còn lại rồi chen vào biển người.

Giữa lúc ấy thì đoàn xa giá vừa tiến đến chỗ lội. Hai con voi ngự dẫn đầu đoàn đến đấy tự nhiên cắm ngà xuống đất kêu rống lên, không chịu đi. Vua sai quân lính xuống nước thử tìm xem, họ nhặt ngay được một chiếc giầy thêu của Tấm lúc nẫy đánh rơi xuống đó. Vua ngắm nghía chiếc giầy không chán mắt. Bụng bảo dạ:” Chà, một chiếc giầy thật xinh! Người đi giầy này hẳn phải là trang tuyệt sắc”.

Lập tức Vua hạ lệnh cho rao mời tất cả đám đàn bà con gái xem hội ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc giầy thì vua sẽ lấy làm vợ. Đám hội lại càng náo nhiệt vì các bà, các cô chen nhau đến chỗ thử giầy. Cô nào cô ấy lần lượt kéo vào ngôi lầu giữa bãi cỏ rộng để ướm một tí cầu may. Nhưng chẳng có một chân nào đi vừa cả. Mẹ con Cám cũng trong số đó. Khi Cám và dì ghẻ bước ra khỏi lầu thì gặp Tấm, Cám mách mẹ:

– Mẹ ơi, ai như chị Tấm cũng đi thử giầy đấy!

Mụ dì ghẻ bĩu môi:

– Con nỡm, chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!

Nhưng khi Tấm đặt chân vào giầy thì vừa như in. Nàng mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc giầy giống nhau như đúc. Bọn lính hầu hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn tỳ nữ rước nàng vào cung. Tấm bước lên kiệu trước con mắt ngạc nhiên và hằn học của mẹ con Cám.

Tuy sống sung sướng trong hoàng cung. Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha. Nàng xin phép vua trở về nhà để soạn cỗ cúng giúp dì. Mẹ con Cám thấy Tấm sung sướng thì ghen ghét để bụng. Nay thấy Tấm về, lòng ghen ghét lại bùng bốc lên. Nghĩ ra được một mưu, mụ dì ghẻ bảo Tấm:

– Trước đây con quen trèo cau, con hãy trèo lên xé lấy một buồng cau để cúng bố.

Tấm vâng lời trèo lên cây cau, lúc lên đến sát buồng thì ở dưới này mụ dì ghẻ cầm dao đẵn gốc. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi :

– Dì làm gì dưới gốc thế ?

– Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến cho nó khỏi lên đốt con.

Nhưng Tấm chưa kịp xé cau thì cây cau đã đổ. Tấm ngã lộn cổ xuống ao chết. Mụ dì ghẻ vội vàng lột áo quần của Tấm cho con mình mặc vào cung nói dối với vua rằng Tấm không may bị rơi xuống ao chết đuối, nay đưa em vào để thế chị. Vua nghe nói trong bụng không vui, nhưng vẫn không nói gì cả.

Lại nói chuyện Tấm chết hóa thành chim Vàng anh, chim bay một mạch về kinh đến vườn ngự. Thấy Cám đang giặt áo cho vua ở giếng, Vàng anh dừng lại trên cành cây, bảo nó:

– Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao.

Rồi chim Vàng anh bay thẳng vào cung rồi đậu ở cửa sổ, hót lên rất vui tai. Vua đi đâu, chim bay đến đó. Vua đang nhớ Tấm không nguôi, thấy chim quyến luyến theo mình, vua bảo:

– Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo.

Chim vàng anh bay lại đậu vào tay vua rồi rúc vào tay áo. Vua yêu quý vàng anh quên cả ăn ngủ. Vua sai làm một cái lồng bằng vàng cho chim ở. Từ đó, ngày đêm vua chỉ mải mê với chim, không tưởng đến Cám.

Cám vội về mách mẹ. Mẹ nó bảo cứ bắt chim làm thịt ăn rồi kiếm điều nói dối vua. Trở lại cung vua, nhân lúc vua đi vắng, Cám bắt chim làm thịt nấu ăn rồi vứt lông chim ở ngoài vườn.

Thấy mất Vàng anh, vua hỏi, Cám đáp:

– Thiếp có mang, thèm ăn thịt chim, nên trộm phép bệ hạ đã giết thịt ăn mất rồi.

Vua không nói gì cả. Lông chim vàng anh chôn ở vườn hoá ra hai cây xoan đào. Khi vua đi chơi vườn ngự, cành lá của chúng sà xuống che kín thành bóng, như hai cái lọng. Vua thấy cây đẹp rợp bóng, sai lính hầu mắc vọng vào hai cây rồi nằm chơi hóng mát. Khi vua đi khỏi thì cành cây lại vươn thẳng trở lại. Từ đó, không ngày nào Vua không ra nằm hóng mát ở hai cây xoan đào.

Cám biết chuyện ấy lại về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo, cứ sai thợ chặt cây làm khung cửi rồi kiếm điều nói dối vua. Về đến cung, nhân một hôm gió bão, Cám sai thợ chặt cây xoan đào lấy gỗ đóng khung cửi. Thấy cây bị chặt, vua hỏi thì Cám đáp:

– Cây bị đổ vì bão, thiếp sai thợ chặt làm khung cửi để dệt áo cho bệ hạ.

Nhưng khi khung cửi đóng xong. Cám ngồi vào dệt lúc nào cũng nghe thấy tiếng khung cửi rủa mình :

Cót ca cót két

Lấy tranh chồng chị.

Chị khoét mắt ra

Thấy vậy Cám sợ hãi, vội về nhà mách mẹ. Mẹ nó bảo đốt quách khung cửi, rồi đem tro đi đổ cho rõ xa để được yên tâm. Về đến cung, Cám làm như lời mẹ nói. Nó đem tro đã đốt đi đổ ở lề đường cách xa hoàng cung. Đống tro bên đường lại mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa có quả, cây thị chỉ đậu được có một quả, nhưng mùi thơm ngát tỏa ra khắp nơi. Một bà lão hàng nước gần đó có một hôm đi qua dưới gốc, ngửi thấy mùi thơm, ngẩng đầu nhìn lên thấy quả thị trên cành cao, bèn giơ bị ra nói lẩm bẩm:

– Thị ơi thị à, rụng vào bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn.

Bà lão nói vừa dứt lời, thì quả thị rụng ngay xuống đúng vào bị. Bà lão nâng niu đem về nhà cất trong buồng, thỉng thoảng lại vào ngắm nghía và ngửi mùi thơm.

Ngày nào bà lão cũng đi chợ vắng. Từ trong quả thị chui ra một cô gái thân hình bé nhỏ như ngón tay, nhưng chỉ trong chớp mắt đã biến thành Tấm. Tấm vừa bước ra đã cầm lấy chổi quét dọn nhà cửa sạch sẽ, rồi đi vo gạo thổi cơm, hái rau ở vườn nấu canh giúp bà hàng nước. Đoạn Tấm lại thu hình bé nhỏ như cũ rồi chui vào quả thị. Lần nào đi chợ về, bà lão cũng thấy nhà cửa ngăn nắp, cơm ngon, canh ngọt sẵn sàng, thì lấy làm lạ.

Một hôm bà hàng nước giả vờ đi chợ, đến nửa đường lại lén trở về, rình ở bụi cây sau nhà. Trong khi đó, Tấm từ quả thị chui ra rồi cũng làm việc như mọi lần. Bà lão rón rén lại nhìn vào khe cửa. Khi thấy cô gái xinh đẹp thì bà mừng quá, bất thình lình xô cửa vào ôm choàng lấy Tấm, đoạn xé vụn vỏ thị. Từ đó Tấm ở với bà hàng nước, hai người thương nhau như hai mẹ con. Hàng ngày Tấm giúp bà lão các việc thổi cơm, nấu nước, gói bánh, têm trầu để cho bà bán hàng.

Một hôm vua đi chơi ra khỏi hoàng cung, Thấy có quán nước bên đường sạch sẽ, bèn ghé vào. Bà lão mang trầu nước dâng lên vua. Thấy trầu têm cánh phượng, vua sực nhớ tới trầu vợ mình têm ngày trước cũng y như vậy, liền phán hỏi :

– Trầu này ai têm?

– Trầu này con gái lão têm – bà lão đáp.

– Con gái của bà đâu, gọi ra đây cho ta xem mặt.

Bà lão gọi Tấm ra. Tấm vừa xuất hiện, vua nhận ra ngay vợ mình ngày trước, có phần trẻ đẹp hơn xưa. Vua mừng quá, bảo bà lão hàng nước kể lại sự tình, rồi truyền cho quân hầu đưa kiệu rước Tấm về cung.

Cám Thấy Tấm trở về và được vua yêu thương như xưa, thì nó không khỏi sợ hãi. Một hôm, Cám hỏi chị :

– Chị Tấm ơi, chị Tấm! Chị làm thế nào mà đẹp thế ?

Tấm không đáp, chỉ hỏi lại:

– Có muốn đẹp không để chị giúp !

Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Tấm sai đem xác làm mắm bỏ vào chĩnh gửi cho mụ dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ Cám tưởng thật, lấy mắm ra ăn, bữa nào cũng nức nở khen ngon. Một con quạ ở đâu bay đến đậu trên nóc nhà kêu rằng:

– Ngon ngỏn ngòn ngon ! Mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.

Mẹ Cám giận lắm, chửi mắng ầm ĩ rồi vác sào đuổi quạ. Nhưng đến ngày ăn gần hết, dòm vào chĩnh, mụ thấy đầu lâu của con thì kinh hoàng lăn đùng ra chết.

XEM VIDEO TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM

BÀI VĂN PHÂN TÍCH Ý NGHĨA TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM

Dịu dàng là thế Tấm ơi

Mà sao em phải thiệt thòi, vì sao?

Phận nghèo hôm sớm dãi dầu

Hóa bao nhiêu kiếp, ngọt ngào, đa đoan.

Tấm Cám – thiên truyện cổ tích ngàn đời sau vẫn còn day dứt mãi khôn nguôi trong lòng người đọc. Là tác phẩm khác biệt nhất trong những truyện cổ tích ta đã từng gặp, hình tượng nhân vật được khắc họa thành công đến nỗi in sâu vào trí nhớ của biết bao thế hệ. Họa và nhạc, thơ và văn hội tủ trong một tác phẩm của những người dân chưa qua trường lớp đào tạo nào. Đây là tác phẩm hội tủ đầy đủ nhất những ý nghĩa nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm.

Vài nét về tác phẩm

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm vốn hiền lành, xinh đẹp lại chăm chỉ. Cha mẹ mất sớm, Tấm phải sống cùng dì ghẻ và Cám. Mọi công việc trong nhà đều đến tay nhưng vẫn bị mẹ con Cám ngược đãi, tìm cách hãm hại.

Một hôm nọ, dì ghẻ đưa cho hai chị em một cái giỏ và bảo rằng: “Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ!”. Tấm làm việc chăm chỉ để lấy được chiếc yếm. Còn Cám chỉ mải chơi nên đến cuối buổi chẳng bắt được gì. Cám bèn lừa nói với Tấm rằng: “Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị lấm, chị hụp cho sâu kẻo về mẹ mắng”. Tấm nghe lời Cám, đến khi lên bờ, nhìn vào rổ thì không còn thấy tôm tép đâu. Tấm chỉ biết ngồi khóc. Bỗng nhiên, Bụt hiện lên bảo Tấm rằng hãy nhìn vào trong gió xem có thấy gì không. Thì ra, trong giỏ vẫn còn một con cá bống. Tấm đem cá bống về nuôi, ngày ngày cho ăn. Mẹ con Cám biết được liền lừa Tấm đi chăn trâu đồng xa để bắt lên giết thịt. Tấm trở về không thấy cá bống đâu, liền bật khóc. Bụt hiện lên bảo Tấm lấy xương cá bống bỏ vào bốn chiếc lọ, chôn vào bốn chân giường. Ít lâu sau, vua mở hội, mẹ con Cám sắm sắm sửa quần áo đẹp để đi chơi hội. Dì ghẻ không cho Tấm đi, mụ nghĩ ra cách lấy thóc và gạo trộn lẫn với nhau, bắt Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo rồi mới được đi. Tấm không biết làm thế nào lại ngồi khóc. Bụt lại hiện lên sai chim sẻ nhặt thóc giúp. Chim sẻ nhặt một thoáng đã xong. Sau đó, Bụt liền bảo Tấm đào bốn chiếc lọ ở bốn chân giường lên. Bốn chiếc lọ biến thành quần áo đẹp giúp Tấm đi dự hội. Trên đường đi, Tấm đánh rơi chiếc hài xuống nước. Khi ngựa của vua đi ngang qua cứ đứng lại không chịu đi tiếp. Vua sai người xuống nước thì thấy chiếc hài. Vua truyền lệnh cho toàn dân ai đi vừa hài sẽ được làm vợ vua. Tấm đi vừa đôi hài và trở thành vợ vua. Đến ngày giỗ cha, Tấm về nhà thì bị mẹ con Cám bày kế giết chết. Tấm chết đi lần lượt hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị, cuối cùng trở lại làm người sống cùng bà hàng nước. Một hôm, vua tình cờ đi quá liền ghé vào hàng nước. Nhìn thấy miếng trầu têm cánh phượng liền dò hỏi bà. Cuối cùng, vua và Tấm đã được đoàn tụ.

Ý nghĩa của tác phẩm

Khắc họa những mâu thuẫn cơ bản của xã hội phong kiến

Tấm Cám đào rất sâu những mâu thuẫn tồn tại trong hiện thực, thể hiện sự trải nghiệm sâu sắc của người tác giả. Thứ nhất, đó là mâu thuẫn giữ mẹ ghẻ – con chồng:

Mấy đời bánh đúc có xương

Mấy đời mẹ ghẻ lại thương con chồng

Mâu thuẫn này phát triển từ thấp đến cao: ban đầu chỉ là những hơn thua về vật chất, tinh thần, sự ganh ghét mẹ ghẻ con chồng,…Khi đó, Tấm luôn là người nhường nhịn, chịu thua thiệt. Càng về sau mâu thuẫn chuyển thành sự đố kị, một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau. Đây là những mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ. Mẹ ghẻ không có được tình yêu thương thật sự, quá ích kỉ và tính toán thiệt hơn. Điều này khiến mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng không thể giải quyết, buộc phải có một bên thua cuộc. Con riêng của chồng ngày xưa phải chịu rất nhiều khổ cực mà lại không có tiếng nói. Vì vậy tác giả mới lên tiếng mạnh mẽ bóc trần và đả kích nó.

Thứ hai là mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất luôn được khắc họa trong tất cả các truyện cổ tích. Nhưng đối với Tấm Cám, mâu thuẫn này được khắc họa sâu hơn bất kì tác phẩm nào khác. Cái ác được đưa lên đỉnh điểm khiến người ta phải phẫn nộ. Cái ác liên tục bày mưu tính kế, chặn đứng con đường tiến tới hạnh phúc của Tấm. Mức độ độc ác tăng theo từng chi tiết truyện khiến người đọc phải phẫn nộ, không thể không căm phẫn.

Con đường đấu tranh giành hạnh phúc của Tấm – khi người tốt không còn phụ thuộc vào thế lực siêu nhiên mà đã biết phản kháng

Ở những tác phẩm khác, nhân vật thường giựa vào sự giúp đỡ của ông Bụt, bà tiên, hoặc thân thế khác biệt để có thể sống sót qua những thủ đoạn của phe phản diện. Nhưng với Tấm Cám, Tấm được xây dựng với tính cách mạnh mẽ, phản kháng mãnh liệt để dành bằng được hạnh phúc đáng ra thuộc về mình đã bị cướp.

Sự phản kháng này được thể hiện qua những lần hóa thân của Tấm. Lúc đầu, tấm chỉ biết khóc lóc, hoàn toàn phụ thuộc vào sự giúp đỡ của thần linh, mâu thuẫn được giải quyết nhanh chóng. Song về sau, khi mâu thuẫn được đưa lên đỉnh điểm, tính cách của Tấm theo đó cũng trở nên mạnh mẽ theo, không còn khóc mà đã biết dùng lời nói và hành động để đe dọa mẹ con Cám:

Cót ca cót két

Lấy tranh chồng chị

Chị khoét mắt ra

Những hành động này rất phù hợp với quá trình phát triển trong tư tưởng đấu tranh của Tấm. Dù bị mẹ con Cám tìm mọi cách tận diệt, Tấm vẫn tái sinh dưới các dạng thức khác nhau (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Càng về sau, Tấm càng đấu tranh quyết liệt để giành lại sự sống. Qua những lần biến hóa, dân gian muốn khẳng định: cái thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa không bao giờ đầu hàng, cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Đó là nguyên nhân quan trọng nhất làm nên chiến thắng.

Bài học về ác giả ác báo

Hai mẹ con Cám 5 lần 7 lượt tìm mọi cách hãm hại Tấm, tìm mọi cách không cho Tấm ngóc đầu lên được, giết chết Tấm chưa đủ, chúng còn tiêu diệt cả những hóa thân của Tấm, không cho Tấm trở về với thế giới con người. Nhưng điều gì đến thì nó cũng sẽ phải đến dù sớm hay muộn, hai mẹ con Cám đã bị trừng phạt thích đáng cho những gì mà họ đã gây ra.

Rất nhiều người cho rằng Tấm trả thù 2 mẹ con Cám như vậy là quá độc ác, quá khác so với hình ảnh một cô Tấm thảo hiền, yếu đuối. Nhưng kết thúc truyện như vậy mới thấy rõ giá trị nhân văn của tác phẩm, thấy rõ những triết lí mà tác giả dân gian muốn gửi gắm. Mẹ con Cám đã bao lần hãm hại Tấm, đã giết chết Tấm không biết bao nhêu lần, Tấm cần phải mạnh tay để cái ác không có cơ hội tồn tại và phát triển.

Tấm Cám xứng đáng là một trong tác phẩm hay nhất của văn học dân gian Việt Nam.

Phân Tích Ý Nghĩa Của Truyện Cổ Tích Em Bé Thông Minh

Phân tích ý nghĩa của truyện cổ tích Em bé thông minh – Bài viết của Trang Nhung chuyên văn Lê Hồng Phong

“Em bé thông minh” là câu chuyện về cậu bé tài trí, thông minh, từ đó tác giả muốn ca ngợi trí tuệ của con người. Em hãy phân tích ý nghĩa của truyện cổ tích Em bé thông minh.

1. Mở bài

Giới thiệu truyện Em bé thông minh: Ngay trong đời sống bình thường ông cha ta đã sáng tác ra những câu truyện cổ tích kiểu về nhân vật thông minh. Tiêu biểu đó là câu truyện “Em bé thông minh”

2. Thân bài

– Nêu ý nghĩa của truyện em bé thông minh: Qua câu truyện đã đề cao tài trí của người lao động trong cuộc sống

Phân tích truyện Em bé thông minh:

+ Giới thiệu về em bé thông minh: Nhân vật thông minh tài trí ở đây chỉ là một em bé, không có dòng dõi khoa bảng cao sang, càng không phải là một người lớn tuổi từng trải, chỉ là một em bé nhà con thợ cày khoảng 7 – 8 tuổi

+ Lần đầu đối đáp trí thông minh với ông quan: Khi được một ông quan hỏi rằng trâu cày một ngày được mấy đường, em bé thần đồng đã hỏi vặn lại

+ Hai lần vặn lại những thử thách của vua: Ngay khi vào gặp vua em còn thông minh sắc xảo, lừa vua mắc bẫy để “tương kế tựu kế”, dùng ngón võ “gậy ông đập lưng ông”

+ Lần cuối cùng giúp vua thắng quan sứ nước láng giềng: đẩy lên tình huống cao trào khi em bé thông minh giúp vua thắng được sứ thần ngoại quốc, giữ thể diện và thanh danh cho dân tộc, đất nước

3. Kết bài

Ý nghĩa của câu truyện em bé thông minh: Tuy nhiên những tài trí trong nhân vật của tác giả dân gian mang ý nghĩa thực tiễn nhiều hơn, chưa hình thành được nhân vật tài trí theo lối uyên bác, cao siêu, lỗi lạc.

Dân tộc Việt Nam ta vốn có trí thông minh vừa ứng xử nhanh, vừa đối đáp giỏi, điều này đã được ăn học ghi nhận và truyền tải lại vào trong các giai thoại đi sứ và ngay trong đời sống bình thường ông cha ta đã sáng tác ra những câu truyện cổ tích kiểu về nhân vật thông minh. Tiêu biểu đó là câu chuyện “Em bé thông minh”.

Nổi bật trong câu truyện này chính là ý nghĩa của truyện, truyện đã nêu lên một gương mặt đại diện cho tài trí của Việt Nam – một em bé thông minh thần đồng con nhà thợ cày. Qua câu truyện đã đề cao tài trí của người lao động trong cuộc sống. Nhân vật thông minh tài trí ở đây chỉ là một em bé, không có dòng dõi khoa bảng cao sang, càng không phải là một người lớn tuổi từng trải, chỉ là một em bé nhà con thợ cày khoảng 7 – 8 tuổi. Đó là một chi tiết khẳng định rằng tài trí Việt Nam xuất hiện từ rất sớm, đó là trí của tác giả dân gian, của những con người lao động.

Ngay khi vào gặp vua em còn thông minh sắc xảo, lừa vua mắc bẫy để “tương kế tựu kế”, dùng ngón võ “gậy ông đập lưng ông” khiến cho đấng chí tôn cũng phải cười dàn hòa “công nhận thằng bé thông minh lỗi lạc”, tuy nhiên phải đến tình huống bắt “một con chim sẻ dọn thành ba cỗ thức ăn” thì nhà vua khi ấy mới phụ hẳn trí thông minh của em. Em xin lại vua hãy rèn từ chiếc kim đen khâu vá thành ba con dao để thịt chim sẻ, vẫn là chiêu thức “gậy ông đập lưng ông” nhưng lần này thâm thúy hơn, có chút giễu cợt. Tất cả những tình huống trước là để đẩy lên tình huống cao trào khi em bé thông minh giúp vua thắng được sứ thần ngoại quốc, giữ thể diện và thanh danh cho dân tộc, đất nước. Như vậy, qua bốn lần thử sức, là bốn tình huống thử thách, tài trí của em bé thông minh đã được bộc lộ sáng ngời. Đó chính là trí khôn mà dân gian ta đã hun đúc tạo nên một nhân vật tài trí trong truyện cổ tích. Em đã trở thành một gương mặt tài trí của Việt Nam, đề cao tài trí của người lao động trong cuộc sống.

Tuy nhiên những tài trí trong nhân vật của tác giả dân gian mang ý nghĩa thực tiễn nhiều hơn, chưa hình thành được nhân vật tài trí theo lối uyên bác, cao siêu, lỗi lạc, có những phát minh và đóng góp vĩ đại cho đất nước. Bởi do xã hội phong kiến chưa cho phép người xưa sáng tạo ra những nhân tài như thế.

Theo chúng tôi

Phân Tích Ý Nghĩa Truyện Cổ Tích Tấm Cám

Phân tích ý nghĩa truyện cổ tích “Tấm Cám”

I. Tìm hiểu chung.

1. Truyện cổ tích:

Truyện cổ tích là những tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận những con người bình thường trong xã hội có giai cấp, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động.

Truyện cổ tích được chia thành ba loại: cổ tích về loài vật, cổ tích sinh hoạt và cổ tích thần kì. Truyện cổ tích thần kì phong phú nhất và chiếm số lượng nhiều nhất.

2. Đặc trưng của truyện cổ tích thần kì.

– Sự tham gia của yếu tố thần kì là khá phổ biến (tiên, bụt, sự biến hoá thần kì, những vật có phép màu…).

– Kết cấu tương đối thống nhất: Dạng kết cấu phổ biến là nhân vật chính trải qua những phiêu lưu, hoạn nạn, thử thách, cuối cùng đạt được ý nguyện của mình.

– Nhân vật chính phần lớn là những con người bình thường

– Mâu thuẫn, xung đột gia đình và xã hội được thể hiện dưới dạng khái quát: đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái thiện và cái ác.

3. Tấm Cám là truyện cổ tích tiêu biểu cho loại cổ tích thần kì.

Câu chuyện là cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cái thiện và cái ác. Mẹ con Cám tàn nhẫn và độc ác đã chiếm đoạt tất cả những gì thuộc về Tấm và hơn nữa còn muốn tiêu diệt Tấm đến cùng. Thế nhưng bằng sức sống, sức trỗi dậy mãnh liệt, bằng ước mơ và niềm lạc quan của người lao động, Tấm đã đứng lên chiến đấu quyết liệt với cái ác và giành chiến thắng.

II. Phân tích:

1. Diễn biến của truyện có thể chia thành hai giai đoạn.

Từ đoạn truyện về chiếc yếm đỏ đến đoạn truyện Tấm đi xem hội phản ánh mâu thuẫn xoay quanh những quyền lợi về vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày.

Tuyến mẹ con Cám: càng ngày càng tỏ ra độc ác hơn, tàn nhẫn hơn. – Tuyến nhân vật Tấm, từ những hành động và phản ứng yếu ớt, cô đã trở nên quyết liệt và chủ động hơn để đòi lại hạnh phúc đích thực của mình.

2. Nhân vật Tấm Tấm.

Sau khi chết đã hóa thân trở đi trở lại thành: chim vàng anh – hai cây xoan đào – khung cửi – quả thị, nghĩa là đều hóa thành vật. Sự hóa thân thần kì này phản ánh một quan niệm của dân gian xưa: quan niệm đồng nhất giữa người và vật. Cả bốn hình thức biến hóa này đều cho thấy vẻ đẹp về phẩm chất của nhân vật vẫn không thay đổi: bình dị và sáng trong. Bốn lần biến hóa còn cho thấy sự biến chuyển trong ý thức đấu tranh của nhân vật.

Ví dụ: Khi là chim vàng anh, nhìn thấy Cám đang giặt áo, chim nói: “Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao”. Nhưng khi chiếc khung cửi lên lời, nó quyết liệt hơn: Cót ca, cót két – Lấy tranh chồng chị – Chị khoét mắt ra

Có thể nói ý nghĩa chung nhất của quá trình biến hóa ấy là thể hiện sức sống mãnh liệt của Tấm. Sức sống ấy không thể bị tiêu diệt bởi bất cứ một thế lực nào. Và nó chính là nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên chiến thắng cuối cùng của nhân vật.

3. Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện cổ tích Tấm Cám.

Mâu thuẫn và xung đột trong truyện cổ tích này trước hết là mâu thuẫn và xung đột trong gia đình phụ quyền thời cổ đại (mâu thuẫn dì ghẻ mâu thuẫn con chồng). Nguyên nhân bắt nguồn từ việc kế thừa tài sản và hưởng những quyền lợi vật chất của các thành viên (con cái) trong gia đình.

Truyện cũng thấp thoáng xuất hiện những mâu thuẫn xã hội (về quyền lợi và địa vị) nhưng không phải là chủ đạo. ý nghĩa chung nhất của tác phẩm toát lên từ mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Đó là cuộc đấu tranh giữa người lương thiện và những kẻ bất lương.

4. Hành động Tấm ở kết thúc truyện.

Giội nước sôi giết Cám, lấy xác làm mắm, gửi cho dì ghẻ ăn gây nhiều tranh cãi và không ít người phản đối cho rằng hành động ấy làm mất đi vẻ đẹp vẹn toàn của nhân vật Tấm. Thực ra phải hiểu rằng: trong truyền thống cảm nhận của dân gian, người ta không quan tâm đến tính chất dã man của sự việc. Theo quan niệm “ác giả ác báo” người ta chỉ chú ý đến việc cái ác bị trừng phạt như thế

nào và với mức độ ra sao. Với tác giả dân gian, kết cục của mẹ con Cám như vậy là thích đáng, là phù hợp với những gì mà mẹ con mụ đã gây ra.

5. Những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần kì được biểu hiện trong Tấm Cám.

– Cốt truyện có sự tham gia của nhiều yếu tố thần kì: nhân vật Bụt, xương cá bống và những lần biến hóa của nhân dân chính.

– Về kết cấu, truyện có dạng: nhân vật chính phải trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng mới được hưởng hạnh phúc. Đây là một trong những kiểu kết cấu khá phổ biến của loại truyện cổ tích thần kì.

– Truyện phản ánh những xung đột trong xã hội thời kì đã có sự phân chia giai cấp.

– Kết thúc truyện có hậu mang tính nhân đạo và lạc

III. Tổng kết:

1. Ý nghĩa nội dung truyện cổ tích Tấm Cám:

– Mâu thuẫn chủ yếu trong tác phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm mồ côi, xinh đẹp, hiền lành với dì ghẻ và Cám ác độc, tàn nhẫn. Mâu thuẫn này phát triển từ thấp đến cao: ban đầu chỉ là những hơn thua về vật chất, tinh thần, sự ganh ghét mẹ ghẻ con chồng,…Khi đó, Tấm luôn là người nhường nhịn, chịu thua thiệt. Càng về sau mâu thuẫn chuyển thành sự đố kị, một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau. Đây là những mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ nhưng trên hết là mâu thuẫn giữa thiện và ác trong xã hội. Mâu thuẫn này được tác giả dân gian giai quyết theo hướng thiện ác.

– Ý nghĩa những lần biến hóa của Tấm: dù bị mẹ con Cám tìm mọi cách tận diệt, Tấm vẫn tái sinh dưới các dạng thức khác nhau (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Càng về sau, Tấm càng đấu tranh quyết liệt để giành lại sự sống. Qua những lần biến hóa, dân gian muốn khẳng định: cái thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa không bao giờ đầu hàng, cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Đó là nguyên nhân quan trọng nhất làm nên chiến thắng.

– Ý nghĩa việc trả thù của Tấm: hành động trả thù của Tấm là hành động của cái thiện trừng trị cái ác. Nó phù hợp với quan niệm “Ở hiền gặp lành”, “Ác giả, ác báo”.

2. Giá trị nghệ thuật:

– Xây dựng những mâu thuẫn, xung đột ngày càng tăng tiến.

– Xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập cùng tồn tại và song song phát triển. Ở đó, bản chất của từng tuyến nhân vật được nhấn mạnh.

– Có nhiều yếu tố thần kì song vai trò của yếu tố thần kì cũng khác nhau trong từng giai đoạn.

– Kết cấu quen thuộc của truyện cổ tích: người nghèo khổ, bất hạnh trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng được hưởng hạnh phúc.

3. Ý nghĩa văn bản:

Truyện cổ tích Tấm Cám ngợi ca sức sống bất diệt, sự trỗi dậy mạnh mẽ của con người và cái thiện trước sự vùi dập của kẻ xấu, cái ác, đồng thời thể hiện niềm tin của nhân dân vào công lí và chính nghĩa.

Mở bài:

Tấm Cám là truyện cổ điển hình và tiêu biểu nhất cho thể loại truyện cổ thần kì. Với trí tưởng tượng phong phú, cách xây dựng nhân vật toàn diện, cốt truyện lôi cuốn, hấp dẫn, nhân dân ta đã gửi gắm vào nhân vật này ước mơ, khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp, công bình, kẻ xấu bị trừng trị, người tốt được báo đáp, công lí được thực thi. Vượt lên trên thời gian, truyện cổ Tấm Cám vẫn còn gây hứng thú đối với người đọc nhiều thế hệ, trở thành câu chuyện kể mang hàm ý giáo dục con người sâu sắc.

Thân bài:

Chuyện kể về cuộc đời và số phận đầy bất hạnh của nhân vật Tấm. Tấm là một cô gái hiền lành, xinh đẹp, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải sống với dì ghẻ và Cám – cô em cùng cha khác mẹ. Tấm luôn bị mẹ con Cám ghen ghét và ngược đãi. Một lần đi hớt tép Tấm bị Cám lừa lấy hết tép, chỉ còn lại con bống nhỏ. Tấm nghe lời Bụt khuyên nuôi chú cá bống trong giếng. Biết Tấm nuôi cá bống, mẹ con Cám lừa bắt bống ăn thịt. Ngày hội, mẹ con Cám trộn thóc lẫn gạo bắt Tấm nhặt, không cho đi xem hội. Bụt  lại hiện lên giúp Tấm làm việc và biến chỗ xương của bống thành quần áo đẹp cho Tấm đi hội. Tấm đi xem hội đến chỗ lội, đánh rơi chiếc giầy xuống nước. Nhờ chiếc giầy, Tấm được làm vợ vua. Tấm về giỗ cha, bị mẹ con Cám hại chết và đưa Cám thế chỗ Tấm trong cung vua.

Tấm chết hóa thành chim vàng anh, cây xoan đào, con ác trên khung cửi và khi thành quả thị thì được một bà lão đem về. Mỗi khi bà lão đi vắng, Tấm hiện ra dọn dẹp nhà cửa. Sau đó bà lão phát hiện ra Tấm. Một hôm, nhà vua đi qua, ghé vào quán nước của bà cụ. Nhận ra Tấm qua miếng trầu, đem Tấm về cung. Tấm hạnh phúc bên vua còn mẹ con Cám sau đó bị trừng trị đích đáng.

Nhân vật chính trong truyện chính là cô Tấm. Tấm mang thân phận mồ côi cha mẹ từ rất sớm. Cô sống với dì mụ ghẻ độc ác và cô em cùng cha khác mẹ là Cám. Trong hoàn cảnh ấy, Tấm luôn bị đối xử bất công, chịu nhiều thiệt thòi và khổ đau.

Với bản tính hiền lành lại rất chăm chỉ, Tấm sớm biết làm mọi việc trong nhà. Phẩm chất ấy không những không được trân trọng mà còn bị mẹ con dì ghẻ ghen tức, hành hạ, bắt cô phải lao động quần quật suốt ngày. Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng. Cuộc sống làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn khiến cho số phận của Tấm chứa đầy bất hạnh, cay đắng và khổ cực.

Chính lòng đố kị và thù ghét Tấm của mẹ con Cám khiến cho mâu thuẫn gia đình từng bước dâng cao. Mâu thuẫn đầu tiên bắt đầu từ chuyện đi bắt tép của chị em Tấm Cám. Bản chất của Cám không khác gì mụ gì ghẻ, lúc nào cũng giành phần hơn với chị nên đã xảo quyệt lừa chị lặn sâu mà tranh thủ trút hết tép của chị. Đó là hành động cướp công đê tiện. Rồi đến chuyện rình mò việc Tấm nuôi bống trong giếng của mẹ con Cám rồi đi đến hành động bắt bống ăm thịt. Dường như, mẹ con Cám không muốn Tấm có bất kì một niềm vui nào trong cuộc sống. Họ cố gắng tìm mọi cách cướp đoạt niềm vui và đẩy tấm vào đau khổ.

Mâu thuẫn được đẩy lên cao điểm trong lần đi xem hội. Tấm háo hức muốn đi nhưng mụ gì ghẻ lại nghĩ ra cách tàn nhẫn bắt Tấm phải ở nhà. Mụ gì ghẻ không nghĩ rằng Tấm sẽ có được gì trong buổi hội ấy, chỉ đơn giản là mụ không muốn Tấm có niềm vui mà thôi. Nhờ Bụt giúp đỡ mà nàng có cơ hội được đến với mọi người. Tình cờ ướm thử và vừa vặn với chiếc giày đã làm thay đổi cuộc đời Tấm. Từ một cô gái quê mùa trở thành hoàng hậu khả kính. Điều đó như một vết dao khoét sâu vào lòng ghen tức của mẹ con mụ gì ghẻ, thôi thúc mụ có âm mưu tàn độc đối với cô, đẩy mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám lên đến cực điểm

Qua các tình tiết, ta có thể thấy, Tấm là cô gái bất hạnh, bị hắt hủi, yếu đuối, thụ động, dễ khóc, chăm chỉ, hiền ngoan, cũng khát khao được vui chơi. Mẹ con Cám là người độc ác, nhẫn tâm hành hạ Tấm, luôn ghen ghét và đố kị, hãm hại Tấm. Bụt hiền từ, có phép lực, chuyên cứu giúp những người nghèo bất hạnh. Ở đây, Bụt đóng vai trò là yếu tố thần kì kịp thời giải quyết khó khăn, bế tắc của người bất hạnh, tạo nên nét đặc biệt hấp dẫn của loại truyện này.

Mâu thuẫn ban đầu chỉ là sự hơn thua về vật chất, tinh thần, sự ghen ghét mẹ ghẻ con chồng. Những lúc này Tấm luôn là người nhường nhịn, chịu thua thiệt. Sự nhường nhịn của Tấm khiến cho mẹ con Cám không những không nhận ra và trân trọng mà còn ngày càng lấn tới và lún sâu vào tội lỗi. Bởi thế, khi Tấm trở thành hoàng hậu, mâu thuẫn giữa Tấm – Cám và dì ghẻ không những không giảm mà còn ngày một phát triển, ngày một căng thẳng gay gắt, quyết liệt hơn.

Đây không còn là mâu thuần gia đình mà phát triển thành mâu thuẫn giữa cái ác và cái thiện trong xã hội. Mẹ con Cám tìm đủ mọi cách và nhiều lần truy đuổi hòng tiêu diệt bằng được Tấm để độc chiếm ngôi hoàng hậu, hưởng vinh hoa phú quý. Đó là con người vô cùng độc ác, mưu mô, xảo quyệt và có lòng tham vô đáy.

Âm mưu giết Tấm lại được thực hiện ngay ngày giỗ của cha Tấm. Một sự bất lương, đê tiện đang âm thầm diễn ra. Tấm vẫn ngây thơ không biết gì bởi nàng luôn tin vào điều thiện và sự cải hóa của con người. Mẹ con Cám nhẫn tâm chặt cây cau khiến nàng ngã chết. Cám thế chỗ chị lên làm hoàng hậu. Hồn Tấm hóa thành con chim vàng anh. Mẹ con Cám giết vàng anh, nàng hóa thân thành cây xoan đào. Mẹ con Cám chặt cây xoan đào, nàng hóa vào khung cửi. Khung cửi bị đốt, nàng hóa thân vào quả thị thơm. Và cuối cùng, từ quả thị, Tấm bước ra với hình dung con người.

Với bốn lần hoá thân, Tấm càng đấu tranh quyết liệt để giành sự sống. Thực tế khốc liệt cũng thay đổi tính nết và cách nói năng, ứng xử của cô. Sau mỗi lần bị giết, bị chết, bị chặt, bị đốt, Tấm đều không chết mà tìm cách hoá thân sang kiếp khác, vật khác, tìm cách mắng rủa, tố cáo tội ác cướp chồng, giết chị của Cám. Càng hóa thân, Tấm càng trưởng thành hơn. Các lần hóa thân chứng minh sức sống mãnh liệt của Tấm. Đó cũng là sức sống mãnh liệt của cái thiện.

Bốn lần bị giết, bốn lần hoá thân thể hiện quan niệm luôn luân hồi của đạo Phật trong tinh thần nhân dân, thể hiện mơ ước của nhân dân gửi vào nhân vật Tấm.

Tấm phải sống để hưởng hạnh phúc, để trừng trị những kẻ thù độc ác, mẹ con Cám nhất định phải đền tội. Ở giai đoạn biến hoá về sau của Tấm, ta không thấy Bụt xuất hiện nữa. Vai trò của Bụt chấm dứt khi bước vào cuộc đấu tranh giành lại sự sống. Tính tích cực, chủ động của nhân vật Tấm thể hiện ở điểm này và đó cũng là cơ sở để dân gian khẳng định: Chính sức sống mãnh liệt của con người, của cái thiện mới là nguyên nhân quan trọng nhất tạo nên chiến thắng cuối cùng.

Khi Tấm trở lại ngôi vị hoàng hậu, nàng xinh đẹp hơn xưa. Qua đó, dân gian muốn khẳng định rằng cái thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa không bao giờ đầu hàng. Cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Kết cấu câu chuyện nêu lên một triết lí: “ở hiền gặp lành”. Đây cũng là ước mơ, khát vọng của người nông dân bị đè nén, áp bức.

Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám là mâu thuẫn trong gia đình phụ quyền thời cổ nhưng trên hết là mâu thuẫn giữa thiện và ác trong xã hội và được giải quyết theo hướng thiện thắng ác. Đó cũng là quan niệm thiện – ác và tinh thần lạc quan, niềm tin vào chân lí và công bằng vào tâm thức người Việt trong cổ tích.

Năm lần bảy lượt hãm hại Tấm để cướp lấy thành quả của Tấm, mẹ con Cám không thể thành công. Thế nhưng, họ vẫn không nhận ra bài học nào. Họ vẫn cố chấp với sự mê muội của chính mình. Hậu quả cuối cùng mà họ phải nhận lấy là hoàn toàn đích đáng. Cám bị dội nước sôi mà chết cùng khát vọng được đẹp hơn chị. Mụ gì ghẻ cũng lăn ra chết trước cái chết của con gái yêu.

Kết thúc truyện cổ tích Tấm Cám là kết thúc có hậu. Người tốt như Tấm đã được bảo vệ và đền đáp; kẻ xấu như mẹ con Cám phải nhận hậu quả tương xứng với hành động xấu xa của họ. Đó cũng là mong muốn của nhân gian. Có ý kiến cho rằng Tấm trả thù là hợp lí, là thích đáng. Mẹ con Cám đáng bị trừng trị  bằng hình phạt nặng nề như vậy là hợp với lẽ đời. Nhưng có ý kiến không đồng tình, cho rằng hành động ấy trái với bản chất hiền hậu của Tấm.

Theo logic phát triển tính cách của Tấm và quan niệm của người Việt Nam trong cổ tích thì việc trả thù của Tấm là hợp lí. Tấm đã sống bằng trái tim chân thiện, lấy ân báo oán, lấy nghĩa trả thù. Còn mẹ con Cám vì lòng tham mù quáng mà bất chấp lương tri, không chịu hồi tỉnh. Không những giết Tấm, mẹ con Cám còn tiêu diệt tận gốc rễ mọi mầm móng. Đó là hành động man rợ, không còn nhân tính, đáng bị trời tru đất diệt.

Cuối truyện, Tấm đã thấu rõ bản chất của mẹ con Cám.  Lúc này cô đã nhân danh cái thiện trừng phạt cái ác. Tấm là nhân vật văn học do nhân dân lao động sáng tạo để thể hiện quan niệm, thái độ của mình về cuộc sống. Tư tưởng cốt lõi mà dân gian muốn gửi đến người nghe (đọc) là: Thiện luôn thắng ác, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.

Qua câu chuyện, ta nhận ra hạnh phúc không tồn tại ở đâu đó xa xôi, trừu tượng mà ở ngay trong cõi đời này. Người bình dân xưa không tìm hạnh phúc ở cõi nào khác mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay ở nơi trần thế. Xã hội  luôn công bằng, ở đó có công lí sẽ luôn được thực hiện. Tức là người lao động chăm chỉ, hiền lành, tốt bụng sẽ được hưởng hạnh phúc; kẻ tham lam, độc ác, giết người sẽ bị trừng trị đích đáng. Trong một thời đoạn nào đó, có thể điều ấy không đúng, nhưng nhìn xa vào dòng thời gian, chân lí ấy là hoàn toàn đúng đắn.

Sức hấp dẫn của truyện cổ tích Tấm Cám còn thể hiện ở cốt truyện li kì. Nhiều yếu tố thần kì trong câu chuyện xuất hiện với nhân vật thần kì (Bụt), vật thần (xương cá bống, gà biết nói, đàn chim sẻ biết nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo). Bản thân nhân vật chính cũng có sự biến hoá thần kì đã tạo nên nét kì ảo hết sức lôi cuốn. Cách xây dựng mâu thuẫn và đẩy xung đột ngày càng tăng tiến mang tính kịch sâu sắc. Hai tuyến nhân vật đối lập cùng tồn tại và song song phát triển. Đó là lối kết cấu quen thuộc đã thành mô típ trong thể loại truyện cổ tích: kiểu nhân vật mồ côi, hoặc nghèo khó, bất hạnh trải qua nhiều khó khăn, hoạn nạn, cuối cùng được hưởng hạnh phúc.

Kết bài:

Hơn một câu chuyện cổ, truyện cổ tích Tấm Cám để lại trong người đọc một bài học nhân sinh quý giá. Hãy luôn sống chân thiện và tin tưởng vào tương lai tốt đẹp sẽ đến. Hãy luôn tránh xa cái xấu, cái ác để không phải làm điều sai trái, phải nhân lấy những hậu quả nặng nề. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm. Chớ thấy việc ác nhỏ mà làm. Sống hướng đến con người và gìn giữ thiện lương ngay chính trong cuộc sống khác nghiệt này.