Top 3 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Bài Thơ Trăng Sáng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Hình Ảnh Vầng Trăng Trong Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ quân đội trưởng thành trước cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ ông có giàu chất triết lý, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt, suy tư. Bài thơ Ánh trăng được viết năm 1978, ba năm khi chiến tranh kết thúc. Thông qua cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa vầng trăng và con người, bài thơ là lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước, bình dị, hiền hậu, từ đó, gợi nhắc người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ. Vầng trăng trong bài thơ là một biểu tượng đa nghĩa.

Trong thi ca trung đại, trăng là biểu tượng của cái đẹp, của thiên nhiên vô tư và thuần khiết. Trong thi ca kháng chiến, trăng là ánh sáng, là người bạn, người thân cùng con người sống và chiến đấu. Trăng canh gác cùng người chiến sĩ trong bài thơ Đồng chí; trăng rọi đường hành quân trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu; trăng tâm tình, sẻ chia trong thơ Hồ Chí Minh,… Có thể nói, vầng trăng luôn kề cận con người mọi lúc, mọi nơi với tấm lòng thủy chung, son sắt bền chặt nhất.

Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, một lần nữa, vầng trăng hiện lên với đầy đủ ý nghĩa ấy. Vầng trăng là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên, tươi mát, là người bạn suốt thòi nhỏ tuổi, rồi thời chiến tranh ở rừng. Vầng trăng là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, hơn thế trăng còn là vẻ đẹp bình dị, vĩnh hằng của đời sống.

Thuở bé thơ, cuộc sống nơi đồng quê tuy vất vả gian lao nhưng gần gũi với thiên nhiên, có vầng trăng và cây cỏ. Rồi đến khi đi kháng chiến ở rừng, vầng trăng cũng theo bước hành quân:

Trong dòng hồi tưởng, tác giả đã khái quát vẻ đẹp của cuộc sống bình dị, vô tư, hồn nhiên và khẳng định tình cảm gắn bó bền chặt của con người với vầng trăng là “tri kỷ”, “tình nghĩa”. Trăng là người ban chia sẻ mọi vui buồn, trăng đồng cam cộng khổ, xoa dịu những đau thương, nham nhở của chiến tranh bằng thứ ánh sáng mát dịu. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của ký ức chan hoà tình nghĩa. Hai từ “tri kỷ” là một sự khẳng định đinh ninh nghĩa tình đậm sâu và bền chặt đến nỗi, con người nghĩ rằng:

“ngỡ không bao giờ quêncái vầng trăng tình nghĩa”.

Với sự gắn bó tình nghĩa ấy nhà thơ đã từng tâm niệm “không bao giờ quên”. Giọng thơ hồi tưởng đều đặn nhưng từ “ngỡ” như báo hiệu trước sự xuất hiện của những biến chuyển trong câu chuyện của nhà thơ. Sau chiến tranh, người lính từ giã núi rừng nhưng không trở về miền quê mà lại lên thành phố – nơi đô thị hiện đại – một không gian xa lạ. Khi đó mọi chuyện bắt đầu đổi khác:

Sự thay đổi của hoàn cảnh sống – không gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt đã khiến con người đổ thay chóng quánh. Từ hồi về thành phố, con người say mê trong cuộc sống tiện nghi với “ánh điện, cửa gương” rực rỡ sắc màu. Người lính bình dị năm xưa bắt đầu quen sống với những tiện nghi hiện đại như “ánh điện, cửa gương”. Cuộc sống công nghiệp hoá đã làm át đi sức sống của ánh trăng trong tâm hồn con người. Anh lính đã quên đi chính ánh trăng đã đồng cam cộng khổ cùng người lính, quên tình cảm chân thành, quá khứ cao đẹp nhưng đầy tình người.

Vầng trăng tri kỷ ngày nào bỗng dưng trở thành “người dưng”, người khách qua đường xa lạ, còn con người đâu còn son sắt thuỷ chung. Một sự thay đổi phũ phàng khiến người ta không khỏi nhói đau. Tình cảm xưa kia nay chia lìa. Hành động “vội bật tung cử sổ” và cảm giác đột ngột “nhận ra vầng trăng tròn’ cho thấy quan hệ giữa người và trăng không còn là tri kỷ, tình nghĩa như xưa, vì có người lúc này thấy trăng như một vật chiếu sáng thay thế cho điện sáng mà thôi.

Câu thơ dưng dưng, lạnh lùng, nhức nhối, xót xa miêu tả một điều gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống. Có lẽ nào sự biến đổi về kinh tế, về điều kiện sống, tiện nghi lại kéo theo sự thay dạ đổi lòng?. Bởi thế mà ca dao mới lên tiếng nói: “Thuyền về có nhớ bến chăng?”. Nhà thơ Tố hữu trong bài thơ Việt Bắc cũng đã diễn tả nỗi băn khoăn của nhân dân việt Bắc khi tiễn đưa cán bộ về xuôi:

Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở: đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta. Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng được giải bày trung thực ở hai khổ thơ cuối. Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ, không hẹn trước:

Sự đổi thay của con người không làm vầng trăng cau mặt. Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt mẻ. “Trăng tròn” là một hình ảnh thơ khá hay, không chỉ là ánh trăng tròn mà còn là tình cảm bạn bè trong trăng vẫn trọn vẹn, vẫn chung thuỷ như năm xưa. Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỷ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc.

Từ cái đối mặt trực diện ấy, ánh trăng đã thức dậy những kỉ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên. Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gọi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỉ. Ngôn ngữ bây giờ là nước mắt rưng rức dưới hàng mi. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao. “Ánh trăng” nghĩa tình hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào:

Trăng tượng trưng cho quá khứ vẹn nguyên chẳng thể phai mờ, là người bạn, là nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Mặc cho con người vô tình, “trăng cứ tròn vành vạnh”, không thay đổi gì. Đó là vẻ đẹp tự nó và mãi mãi vĩnh hằng. Đó còn là hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp và những giá trị truyền thống.

Ở đây, có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. Trăng tròn vành vạnh, trăng im phăng phắc không giận hờn trách móc mà chỉ nhìn thôi, một cái nhìn thật sâu như soi tận đày tìm người lính đủ để giật mình nghĩ về cuộc sống hòa bình hóm nay. Họ đã quên mất đi chính mình, quên những gì đẹp đẽ, thiêng liêng nhất của quá khứ để chìm đắm trong một cuộc sống xô bổ, phồn hoa mà ít nhiều sẽ mất đi những gì tốt đẹp nhất của chính mình.

Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. ánh trăng chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta : con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.

Phép nhân hoá trong câu thơ “Ánh trăng im phăng phắc” khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, một người bạn, một nhân chứng, rất nghĩa tình, thủy chung nhưng cũng vô cùng nghiêm khắc đang nhắc nhở con người. “Ánh trăng im phăng phắc” tuy tĩnh lặng nhưng đủ làm để làm con người “giật mình” tự thức bản thân, nhận ra sự vô tình lãng quên quá khứ tốt đẹp, tức là con người đang phản bội lại chính mình. Nó còn có ý nhắc nhở con người nên trân trọng, giữ gìn vẻ đẹp và những giá tri truyền thống.

Có thể thấy, hình ảnh vầng trăng trong bài thơ trước hết là vầng trăng của tự nhiên. Nhưng vầng trăng còn là biểu tượng của quá khứ đầy tình cảm, khi con người trần trụi giữa thiên nhiên, hồn nhiên, không so đo, tính toán. Khi đó, tâm hồn con người rộng mở, khoáng đạt như sông, như đồng, như bể như rừng. Đó hoàn toàn là những hình ảnh thiên nhiên rộng dãi, hùng vĩ. Nhưng khi kháng chiến thành công thì con người nhốt mình vào cửa kính, buyn – đinh, sống riêng cho mình, cho cái cá nhân nhỏ bé. Bởi thế mà không gần gũi, khổng mặn mà với vầng trăng. Lúc này, trăng tượng trưng cho quá khứ ân tình, thủy chung; cho những tình cảm lớn lao mộc mạc nhưng bất tử, sáng trong mãi mãi.

Con người có thể quên quá khứ, nhưng quá khứ không bao giờ quên. Trăng cứ tròn vành vạnh cũng như quá khứ cứ tươi đẹp, không bao giờ mờ phai, không bao giờ khuyết thiếu. Chỉ có những ai mê mải với cái riêng tư ích kỷ mới có thể dửng dưng vô tình đến vậy. Nhưng vầng trăng ấy bao dung, không “kể chi người vô tình”. Chính thái độ lặng im cao thượng ấy càng làm những ai sớm quên quá khứ nghĩa tình phải giật mình.

Bài thơ “Ánh trăng” là tâm sự của Nguyễn Duy, là suy ngẫm của nhà thơ trước sự đổi thay của hoàn cảnh sống, khi mà con người từ chiến tranh trở về cuộc sống hòa bình. Những sông, đồng, bể, rừng là hình ảnh tượng trưng, nhưng cũng là hình ảnh thật của những người kháng chiến. Thành phố là môi trường mới, là hình ảnh thật của những người kháng chiến không đặt chân tới. Môi trường mới, hoàn cảnh mới làm cho con người sống cách biệt với thiên nhiên cũng có nghĩa là xa dần quá khứ, lạnh nhạt dần với quá khứ. Ánh trăng nghiêm nghị vằng vặc soi sáng hay cũng chính là lời cảnh báo tình trạng suy thoái về tình cảm, sẽ dẫn đến suy thoái lối sống, suy thoái đạo đức. Nó nhắc nhở con người cần thuỷ chung với quá khứ, vói những điều tốt đẹp của quá khứ.

Vầng trăng và ánh trăng mang ý nghĩa biểu trưng, trở thành hình tượng xuyên suốt bài thơ, tạo thành dòng chảy liên hồi, là sợi dây kết nối con người trong hiện tại và quá khứ đã qua. Cuộc gặp gỡ tình cờ nhưng có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Từ câu chuyện tưởng như là thường tình nhưng đã thức tỉnh con người. Con người tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian khổ mà nghĩa tình đối với thiên nhiên, đất nước bình dị. Bài thơ có ý nghĩa nhắc nhở, củng cố người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ.

Hoàn Cảnh Sáng Tác Và Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ “Tràng Giang”

Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa nhan đề bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận

Huy Cận là một nhà thơ sinh ra và lớn lên trong thời kì Pháp thuộc, bởi vậy thơ ông vừa mang hướng cổ xưa của thơ Đường, cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp. Được sáng tác vào một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi Huy Cận vừa tròn 20 tuổi, bài thơ “Tràng giang” mang đậm phong vị thơ Đường và được đánh giá là tác phẩm hay nhất, tiêu biểu nhất cho hồn thơ Huy Cận.

Huy Cận từng viết: “Tôi có thú vui thường vào ngày chủ nhật hằng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để ngoạn cảnh sông Hồng và hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi nhiều cảm xúc. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ do sông Hồng gợi cảm hứng mà còn mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương”. Đứng trước dòng sông Hồng mênh mang – con sông đầy vị phù sa mà đất mẹ đã bồi tụ nên, tình yêu nước, yêu quê hương cùng những tâm sự sâu thẳm trong lòng tác giả như được con sông khơi lên và bộc lộ tất cả qua bài thơ “Tràng giang”.

“Tràng giang” – nhan đề chỉ gồm hai chữ nhưng mang bao ý nghĩa. “Tràng” (trường) là dài, “giang” là sông. Hai từ ghép lại với ý nghĩa sông dài, sông rộng lớn, cũng mang ẩn ý về nỗi lòng tác giả buồn đến mênh mang. Với nhan đề này, ta thấy được chất thơ Đường đã có sự ảnh hưởng rất lớn tới Huy Cận. Viết về con sông Hồng và mang trong mình cảm xúc chung về những con sông quê hương khác, Huy Cận không chỉ muốn miêu tả một con sông với bóng hình chân thực của nó nữa, nhà thơ đã phóng bút tạo nên một dòng sông đầy những cảm xúc của lòng người.

Vốn mang trong mình sự cô đơn, xa nhà, xa quê, Huy Cận càng nhìn sông Hồng rộng lớn và mênh mông thì lại càng sầu não. Chàng trai trẻ nhớ về miền Hà Tĩnh quê mình, lại thấy sao kiếp người nhỏ bé, chênh vênh. Gió thu nhẹ thổi làm tâm hồn thi sĩ càng thêm buồn. Nhìn về phía dòng sông – nơi chợ chiều vắng vẻ, hoang sơ, nơi mước mênh mang chẳng có một bóng con đò chở khách, Huy Cận nhớ nhà. Một nỗi sầu mà ai xa quê cũng từng gặp, nhưng đâu chỉ có thế. Với nhan đề bài thơ, người ta còn liên tưởng tới một chàng trai đau khổ khi nhìn cảnh đau thương mà thực dân Pháp đã gây nên, muốn đứng lên, muốn đấu tranh cho dân tộc nhưng chẳng thấy một ngã rẽ nào mà cuối con đường có ánh sáng. Những muộn phiền về gia đình, quê hương, những tình yêu thân thuộc đối với đất nước, dân tộc,… Nhưng sóng nước cứ mênh mang giống như kiếp người vô định, lòng tác giả như chán chường hơn.

Từ nơi sông Hồng rộng và dài cùng cảm xúc của Huy Cận đã tạo nên nhan đề “Tràng giang” đậm phong vị thơ Đường, bộc bộ được tâm sự của nhà thơ trước nỗi nhớ khôn nguôi, tạo nên mạch thơ xuyên suốt cho hồn thơ Huy Cận trong thời kì đầu của phong trào Thơ mới.

Nguồn: [Văn học 11] Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa nhan đề bài thơ “Tràng giang” – Huy Cận

Phát Triển Ngôn Ngữ: Thơ: Trăng Sáng

I. Mục đích – yêu cầu 1. Kiến thức

– Trẻ nhớ tên bài thơ, thuộc thơ.

– Hiểu nội dung bài thơ.

2. Kỹ năng

– Phát triển ngôn ngữ cho trẻ và phát triển khả năng ghi nhớ có chủ định.

– Rèn trẻ trả lời cô rõ ràng.

– Trẻ hứng thú đọc thơ cùng cô.

II. Chuẩn bị

– Tranh thơ: ‘Trăng sáng”

– Đĩa nhạc có ghi bài hát: “Đêm trung thu”

III. Tiến hành Hoạt động 1: Gây hứng thú

– Cho trẻ hát bài hát: Đêm trung thu

– Trò chuyện với trẻ về nội dung bài hát:

+ Hỏi trẻ tên bài hát?

+ Bài hát nói về ngày gì?

+ Trung thu có những gì?

Hoạt động 2: Cô đọc mẫu

– Lần 1: Đọc diễn cảm.

– Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì?

* Bài thơ nói về vẻ đẹp của trăng, lúc tròn, lúc khuyết và trăng luôn tỏa sáng vào ban đêm nhất là đêm rằm trung thu.

Hoạt động 3: Đàm thoại – Trích dẫn

– Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Trăng sáng)

– Bài thơ nói về cái gì ? (Ánh trăng).

– Sân nhà bé sáng được là nhờ có gì? (Ánh trăng).

Sân nhà …..ngời”

– Ông trăng trong bài thơ giống cái gì?(Cái đĩa)

– Những hôm nào trăng khuyết thì nhìn trăng giống con gì?(Con thuyền).

‘Trăng tròn ….thuyền trôi”

– Em đi thì trăng thế nào?

– Như muốn cùng đi đâu?

Em đi …đi chơi”

– Cô đọc lại bài thơ

Hoạt động 4: Dạy trẻ đọc thơ

– Trẻ đọc cả lớp 2 – 3 lần.

– Cho thi đua giữa các tổ, nhóm, cá nhân đọc.

– Cô chú ý sửa sai cho trẻ, khuyến khích trẻ để trẻ đọc rõ lời.

– Cả lớp đọc lại một lần.

– Cô hỏi tên bài học?

Hoạt động 5: Kết thúc

– Cô cho trẻ hát: “Đêm trung thu”. Kết thúc hoạt động.

Trung Thu Trăng Sáng Như Gương

Mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm. Âm dương đối nghịch, mặt trời ở đông thì mặt trăng ở tây. Hướng tây thuộc mùa thu, hành kim. Cho nên, lễ cúng trăng phải cúng vào mùa thu. Lễ tế trời do nhà vua đích thân đảm nhận, vì vua là “thiên tử”, là con trời. Lễ cúng trăng thì tất thảy mọi nhà dân đều cúng. Lễ cúng trăng tức là lễ thờ cúng các vị thần trị vì trên mặt trăng. Vậy, trên mặt trăng có những vị thần nào? Đây là vấn đề thuộc quan niệm thần linh. Nhưng nó cũng có tiến trình lịch sử của nó.

Tuy rằng, nói theo sách vở thì các vị thần trị vì trên mặt mặt trăng cũng đa dạng, phong phú và phức tạp như vậy, song, quan niệm chung của người Việt Nam là trên mặt trăng chỉ có chị Hằng, một người “chị” thân thương, hiền dịu, xinh đẹp, gần gũi với mọi người, rất ít thần thánh hóa. Điều đặc biệt hơn là trên mặt trăng còn có chú Cuội – Một nhân vật rất người, rất dân dã do trí tưởng tượng của người Việt sáng tạo ra. Chuyện kể rằng: chú Cuội đi chăn trâu, nằm ngủ dưới gốc cây đa giữa đồng. Trong giấc ngủ chú mơ thấy các lá đa vỗ cánh, cây đa xoay mình rồi bay lên trời. Chú Cuội hoảng hốt, vội nắm lấy rễ của cây đa. Cây đa cứ thế bay thẳng lên trời, mang theo chú Cuội. Sau đó cả cây đa và cả chú Cuội được đặt xuống mặt trăng. Hết mơ, tỉnh lại, chú Cuội đã thấy mình đang ngồi ở dưới gốc đa trên mặt trăng. Ngó xuống cánh đồng làng thì thấy cánh đồng lúa lên xanh biếc, tưởng đó là bầu trời và chú thấy cha mình đang cuốc cỏ ở trên trời. Lại thấy con trâu của mình đang ăn lúa ở trên cánh đồng ấy, thấy mẹ mình cưỡi ngựa đi báo cho quan viên biết về việc mất con, mất trâu.Chú Cuội nằm mát cây đaĐể trâu ăn lúa van cha ời ờiCha mi cuốc cỏ trên trờiMẹ mi cưỡi ngựa đi mời quan viên… Chuyện chú Cuội là câu chuyện thật thơ mộng. Trong câu chuyện, mặt trăng là nơi thật gần gửi, thân thương, thật ấm áp, mặt trăng không xa lạ gì trong tình cảm trìu mến của nhân dân. Chú Cuội là người thường, là cậu bé chăn trâu, nhưng đồng thời chú Cuội cũng là thần thánh mới bay được lên trời và mới có thể sống trường sinh bất tử mãi mãi trên mặt trăng. Hình tượng chú Cuội là một sáng tạo tuyệt vời trong trí tưởng tượng của người dân nước Việt.

Theo các nhà khảo cổ học thì lễ cúng Tam Quang ở Việt Nam đã có từ thời xa xưa. Hình ảnh mặt trời đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Trên mái ngói các đình, đền, trên các phù điêu, các bức chạm khắc. Trong không gian thờ cúng hiện nay vẫn còn lưu giữ biểu tượng “Lưỡng long chầu nguyệt”, tức là biểu tượng 2 con rồng chầu mặt trăng. Biểu tượng đó cũng nói lên ý thức tôn thờ mặt trăng của người Việt cổ. Theo văn bia chùa Đọi khắc năm 1121 thì từ đời nhà Lý, tết trung thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước. Đến đời Lê, Trịnh, tết trung thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa. Đến thời Quang Trung thì nhà vua còn có sáng kiến bổ sung thêm vào các trò chơi giải trí đêm trung thu bằng việc tổ chức hát trống quân. Nhà vua cho binh sĩ đóng giả gái, hát đối đáp với nhau theo nhịp trống để binh sĩ đỡ nhớ nhà, yên tâm mà đánh giặc. Do vậy nên trò hát này được gọi tên là hát trống quân.

Từ lâu, song song với cỗ cúng gia tiên vào đêm rằm tháng 8, nhà nhà đều có cỗ cúng tết trung thu. Mục đích của cỗ cúng trung thu, ngoài việc cúng trăng, cúng gia tiên, còn là để tập hợp con cháu quây quần lại cho đông vui, để sau khi cúng xong thì mọi người cùng liên hoan “phá cỗ”. Cỗ cúng gia tiên trong tết trung thu thường có xôi nếp mới, màu trắng, bày trên đĩa, hoặc trên quả sơn, hình tròn. Những đĩa cốm ngào mật, màu vàng cũng được sắp xếp theo hình tròn ở trên mâm. Một con gà luộc cũng màu vàng nghệ. Còn mâm cúng trung thu người ta thường chọn lễ vật gồm các màu sắc vàng, trắng, đỏ, sau đó đóng khuôn và bày lên mâm theo dạng hình tròn để tượng trưng cho mặt trăng. Mâm cúng gồm bánh nướng, bánh dẻo, các loại quả mùa thu. Bánh nướng có vỏ bánh làm bằng bột, nhân đỗ xanh, hành mỡ, thịt nạc… Để có vỏ bánh màu vàng khắm, người thợ nướng bánh phải nướng hai lần. Lần thứ nhất nướng cho bánh chín, da bánh thành màu vàng. Lần thứ hai, người thợ phết lòng đỏ trứng gà vào vỏ bánh, nướng lại một lần nữa cho bánh có da màu vàng khắm, tươi đẹp như hình thù và màu sắc của mặt trăng rằm. Còn bánh dẻo thì làm bằng bột nếp rang, xay mịn, nhào với nước đường trắng đun sôi, thắng đặc, sau đó đem đóng khuôn.

Hoa quả cũng vậy. Hoa quả cúng tết trung thu là hoa quả mùa thu, bưởi màu vàng, hình tròn, thị màu vàng, hình tròn, hồng màu đỏ, hình tròn và ngày nay người ta còn thêm các chùm nho, các loại hạt và quả nhỏ hơn (ý chừng như là để tượng trưng cho các vì sao chăng?). Tết trung thu từ xưa đã được người Việt coi là lễ hội. Bên cạnh lễ cúng, còn có hội: hội rước đèn, hội múa kỳ lân, múa sư tử, hội múa rồng…

Đêm trung thu cũng là đêm các cháu thiếu nhi mở hội rước đèn. Đèn trung thu có rất nhiều loại: đèn hình cầu, đèn hình ông sao, đèn kéo quân, đèn giây, đèn ô, đèn dù để thả bay lên trời…Trong lễ rước đèn trung thu, thiếu niên, nhi đồng, tay cầm đèn ông sao, chân bước theo nhịp trống, trống ếch, trống con, trống đại… miệng hát bài “dinh tùng dinh”. Trong lễ rước đèn các cháu nhỏ cũng đeo đủ các loại mặt nạ để mua vui: mặt nạ người, mặt nạ quỷ, mặt nạ các loài vật như hươu, nai, thỏ, mặt nạ Tôn Ngộ Không, mặt nạ Trư Bát giới… Dưới ánh trăng vàng, đám rước trung thu bao giờ cũng rộn ràng, sôi động, vui tươi. Lễ rước đèn trung thu mãi mãi là một kỷ niệm sâu đậm về tình yêu quê hương, đất nước, bầu bạn… khắc sâu trong tâm tưởng mọi người ngay từ tuổi hoa niên.

Thạch Quỳ