Top 7 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Nhớ những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được… Chưa đánh roi nào đã khóc Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích…

Cách mạng bùng lên Rồi kháng chiến trường kỳ Quê tôi đầy bóng giặc Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)! Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời… Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

Hòa bình tôi trở về đây Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày Lại gặp em Thẹn thùng nép sau cánh cửa Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ – Chuyện chồng con… (khó nói lắm anh ơi)! Tôi nắm bàn tay, ngậm ngùi, nhỏ nhắn Em để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật Giặc bắn em rồi quăng mất xác Chỉ vì em là du kích em ơi! Đau xé lòng anh chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi

***

Когато бях дете и ходех на училище, обиквах родната страна със всяка страница на детската ми книга. Там пишеше : “Кой казва, че е трудно да пасеш биволи в гората, на полето ?” И закопнях за песните на птиците в гората. . . Понявга майка ме улавяше, когато край блатото подгонех пеперуда, вместо да ида в клас. Да бяхте чули как жално плачех, преди да са ме още били ! Едно момиченце в съседната ни къща ме гледаше и дяволито се усмихваше.

Покриха вражи сенки моята страна. Сбогувах се със майка и заминах. И, представете си, съседското момиче и то поело в горските усои. Веднъж случайно я видях по пътя. Тя пак тъй дяволито се усмихна, очите й блестяха черно-черни. Защо така привличаха очите й ? Не разменихме дума : аз бях в строй, но се обръщах дълго, много дълго. Над нас валеше. В мен блестеше слънце.

Мирът настъпи. Върнах се във къщи, в училище, в оризището при браздите. И пак видях съседката ни млада, която криеше главица зад пердето. Тя се усмихваше – потайна, дяволита. Когато я запитах един ден дали сърцето й все е свободно, “Въпросът ти е, знаеш, неудобен. . .” отвърна и главата си наведе. Цял разтреперан, пълнен с бяла нежност, аз хванах тънките й пръсти. Тя ги остави да почиват в ръцете ми горещи.

И връхлетя внезапно новината – така ужасна, че не смея да повярвам : Убили са те, сестро, о, любима ! Захвърлили те нейде във гората. Защо ли ? През войната ти си си била – ето твоя грях. Сърцето ми раздират остри пръсти. Не зная, жив ли съм, или съм вече прах. . .

Като дете обичах родната страна за птиците и пеперудите й. С тях ходех на училище в гората. Обичам днес страната си, защото всяка нейна шепа пръст съдържа малко от кръвта на моята любима.

Превел Стефан Гечев

– Bài thơ làm trong một giờ.

“Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

Nhà thơ Giang Nam

Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.

Tạo cảm hứng cho một đời

Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

Nguyễn Quang Sáng, Hoài Vũ, Giang Nam, Chim Trắng ở chiến trường Tây Ninh (năm 1974).

Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

Nhà Thơ Giang Nam Và Bài Thơ Quê Hương

Trong một chuyến đi sáng tác thực tế ở Miền Trung tháng 4/2003 tôi đã gặp nhà thơ Giang Nam qua sự giới thiệu của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Viết Thái ( giám đốc nhà sáng tác Nha Trang ). Bài thơ Quê Hương của Giang Nam đã được sự mến mộ của đọc giả qua nhiều năm rồi ,hầu hết đều thuộc nằm lòng. Thật ra trong nền thi ca hiện đại Việt Nam có tới 3 bài thơ mang tên Quê Hương: bài Nhớ con sông Quê hương của Tế Hanh sáng tác thời kháng chiến chống Pháp ( có trong Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 ),bài Quê Hương của Giang Nam trong thời chống Mỹ và bài Quê Hương của Đỗ Trung Quân được nhạc sỹ Giáp Văn Thạch phổ ( sáng tác sau 75).

Bài thơ Quê hương của Giang Nam nói lên nỗi đau thương mất mát tột cùng của những người yêu nước trong thời kì đấu tranh gian khổ nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ ( những năm 60 ) và nó càng lan xa hơn nữa khi được co ánhạc sỹ Phạm Trọng Cầu phổ nhạc:

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…

Một buổi sáng tại số 01 đường Quang Trung – tp Nha Trang ( trụ sở Hội VHNT Nha Trang ) ông kể lại về sự ra đời bài thơ Quê Hương.Bài thơ được sáng tác năm 1960 tại khu căn cứ bí mật Tỉnh uỷ Khánh Hoà ( dưới chân núi Hòn Dù )sau khi nghe tin người vợ thân yêu đang hoạt động nội thành bị giặc bắt tra tấn và hi sinh trong tù. Trong giây phút đau đớn lặng người ông đã viết liền một mạch thơ như trải nỗi đau mình lên trang giấy:

Giặc bắt em rồi quăng mất xác Đau xé lòng anh chết nửa con người …… xưa yêu quê hương vì có hoa có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi…. Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi

Làm xong bạn bè thấy hay gửi ra Hà Nội,chiến tranh ngày càng ác liệt khiến ông quên bài thơ. Rồi một chiều năm 1961 trên đường hành quân,qua Đài tiếng nói Việt Nam ông mới biết bài thơ mình chiếm giải nhì Tạp chí văn nghệ,đồng đội ăn mừng chiêu đãi ông một nồi chè bắp.Từ đó tên tuổi ông được bạn đọc cả nước biết đến kể cả trong vùng tạm chiếm, sinh viên- học sinh chuyền thơ nhau đọc..

Hiện nay ông vẫn còn tâm huyết với nghề thơ mặc dù đã cao tuổi ( ông sinh năm 1929 tại Ninh Hoà ),các tác phẩm tiêu biểu của ông sau nầy như : Vầng sáng phía chân trời ( 1975) Hạnh phúc từ nay (1978)-Thành phố chưa dừng chân (1987)..

Từ giã ông,tôi nói vui :..ôâng cười nói : – ở Việt nam có ba bài thơ Quê Hương, hai người nhạc sỹ phổ nhạc đều đã mất.. . còn lại nhà thơ Tế Hanh, chú và Đỗ Trung Quân – Đúng vậy! Sanh lão bệnh tử ,thượng đế đã an bài nhưng cái nghiệp văn chương thì đeo bám mãi suốt đời mìmh, con tằm đến thác vẫn còn vương tơ mà…

Trại sáng tác Nha Trang 2003

Đào Thị Nhung @ 12:51 14/07/2009 Số lượt xem: 2856

Tuyển Tập Các Bài Thơ Quê Hương Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Home / Tin tức / Tuyển tập các bài thơ quê hương hay và ý nghĩa nhất

Các bài thơ quê hương hay nhất không nên bỏ qua

Quê hương là nơi gắn bó với chúng ta biết bao nhiêu kỉ niệm tuổi thơ, là nơi chúng ta nô đùa với lũ bạn hàng xóm, những buổi chăn trâu cùng bạn bè hay những buổi tắm ao thả diều…Tất cả những hình ảnh thân thương ấy đều được các thi sĩ ghi lại và thể hiện bằng những lời thơ vô cùng cảm xúc.

Làng ta ở tận làng ta Mấy năm một bận con xa về làng Gốc cây hòn đá cũ càng Trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay Cha ta cầm cuốc trên tay Nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa Lưng còng bạc nắng thâm mưa Bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì Không răng… cha vẫn cười khì Rượu tăm còn để dành khi con về Ngọt ngào một chút nem quê Cay tê cả lưỡi đắng tê cả lòng Gian ngoài thông thống gian trong Suốt đời làm lụng sao không có gì Không răng… cha vẫn cười khì Người còn là quý xá chi bạc vàng Chiến tranh như trận cháy làng Bà con ta trắng khăn tang trên đầu Vẫn đồng cạn vẫn đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa Đường làng cây cỏ lưa thưa Thanh bình từ ấy sao chưa có gì Không răng… cha vẫn cười khì Giàu nghèo có số nghĩ chi cho buồn Mẹ ta vo gạo thổi cơm Ba ông táo sứt lửa rơm khói mù Nhà bên xay lúa ù ù Vẫn chày cối thậm thịch như thuở nào Lũ em ta vác cuốc cào Giục nhau bước thấp bước cao ra đồng Mồ hôi đã chảy ròng ròng Máu và nước mắt sao không có gì Không răng… cha vẫn cười khì Đời là rứa kể làm chi cho rầu Cha con xa cách đã lâu Mấy năm mới uống với nhau một lần… Ruột ta thắt mặt ta nhăn Cha ta thì cứ không răng cười cười Ta đi mơ mộng trên trời Để cha cuốc đất một đời chưa xong

Anh yêu lắm yêu quê mình nhiều lắm Những cánh đồng trải thảm rộng mênh mông Tím lục bình bềnh bồng nổi trên sông Khói bếp thơm vương nồng mùi rơm rạ Từng chiếc chòi được lợp bằng mái lá Đêm ra ngồi thả vó bắt cá tôm Ngó xa xa vài người eo buộc hom Xoi ếch nhái nơi đường mòn bờ ruộng Lòng chợt nhớ mùi mắm thơm cà cuống Chấm dưa cà hoặc rau muống cực ngon Mấy đứa trẻ nhà bên cười tươi giòn Nhắc thuở bé mình lon ton cũng thế Tối rủ nhau ra đầu làng ngồi kể Chuyện ở trường chuyện chú rể cô dâu Rồi thỉnh thoảng có đứa chêm một câu Giọng pha trò cười rung râu rụng rốn Có những hôm chơi cái trò tìm trốn Đứa lỡ quên ngủ luôn ở đống rơm Đứa thì đói chạy về nhà ăn cơm Mai mới đến lại đơm điều nói dối Phải nói rằng mình quả thật có lỗi Với làng quê với nguồn cội ông cha Bởi đã lâu chẳng thăm lại quê nhà Xin thứ tha thật lòng mong tha thứ.

Những bài thơ quê hương này luôn khiến cho chúng ta gợi nhớ về một thời gian đẹp đẽ khi còn ở bên cha mẹ và quê hương. Chỉ khi đi xa rồi chúng ta mới nhớ về một nơi tuy giản dị nhưng lại đầy ắp tiếng cười và nó vùng trời lưu giữ tất cả kỷ niệm tuổi thơ của ta.

About The Author

Những Bài Thơ Hay Về Kiên Giang Ý Nghĩa

Kiên Giang có những bài thơ nào hay nhỉ?

Những bài thơ hay về Kiên Giang ý nghĩa

Thơ về Kiên Giang 1: Đêm Kiên Giang

Đêm Kiên Giang gió biển thành men rượu Thổi qua hồn trong suốt trăng sao Hương con gái bên thềm hoa cũ Chợt bay về thơm ngát chiêm bao

Đêm Kiên Giang người quên hay nhớ Vạt áo gần bỗng hoá tình xa Ta gói cả trăm năm vào một thuở Khi chia tay biển gác bóng trăng tà

Đêm Kiên Giang mặt trời trong mắt Chợt sáng đời nhau phút ngậm ngùi Ta vấp ngã trên quầng mi khao khát Rơi xuống bờ ảo vọng của đêm vui

Đêm Kiên Giang nồng thắm chưa nguôi Mà mưa gió oằn đau hồn ngọn cỏ Hai trái tim có chia dòng máu đỏ Khi một người ở lại một người đi

Đêm Kiên Giang chẳng nói câu gì Gió khuya tạc nỗi buồn lên trán ngọc Sương rơi rơi lạnh dần vào mái tóc Người bên trời áo lộng một màu trăng

Đêm Kiên Giang, xa Kiên Giang Xa cả bàn tay ấm lạnh Ta ra đi chuyến xe đời hiu quạnh Ở cuối trời có ánh mắt buồn trông?

Đây là một bài thơ thể hiện nỗi niềm của tác giả khi sắp phải rời xa mảnh đất Kiên Giang thân yêu, nơi chôn nhau cắt rốn đã từng trả qua những ngày tháng buồn vui ở nơi đây. Từng câu thơ là từng lời tâm sự mà tác giả muốn gửi gắm tình yêu của mình đến với mảnh đất Kiên Giang.

Thơ về Kiên Giang 2: Tặng Kiên Giang

Có những dòng sông chảy rất mau Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau?

Chỉ với 4 câu thơ mà tác giả đã phác họa ra những hình ảnh rất quen thuộc ở Kiên Giang đó là dòng sông, lá vàng, lá đỏ, … Bài thơ này tác giả dành tặng riêng cho Kiên Giang, tựa đề bài thơ đã quá rõ ràng, nhưng câu thơ cuối lại một lần nữa khẳng định “Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau”.

Thơ về Kiên Giang 3: Thơ về Kiên Giang

Kiên Giang miền đất Tây nam, Nhớ thương anh gửi bên Vàm kinh xanh, Đây là mảnh đất yên lành Tình anh thổn thức hóa thành lời thơ.

Rạch Giá vẻ đẹp mộng mơ,

Hà Tiên thập cảnh đón chờ người qua.

Kiên Lương sóng vỗ đợi chờ Một hòn Phụ Tử

ẩn mờ trong mây.

Hòn Đất, trang sử là đây! Còn in dấu ấn những ngày đấu tranh. Ai về mảnh đất Châu Thành

,

Tà Niên chiếu đẹp dệt tình đôi ta.

Tân Hiệp hương lúa ngát xa, Nhà thờ chuông đổ ngân nga mỗi chiều.

Phú Quốc đảo ngọc yêu kiều, Hồ tiêu, Nước nắm tiếng xa khắp miền …

U Minh chiến công lưu truyền, Câu ca ai cất trên thuyền đu đưa…

Giồng Riềng

rợp mát bóng dừa, Em về đón một cơn mưa vội vàng. Cầu vồng bảy sắc giăng ngang, Chuyến phà Tắc Cậu

mấy hàng người qua… Bước chân ấm đất quê ta,

An Biên hiển hách, An Minh

lẫy lừng. Mưa rơi , rồi chợt nắng bừng… Xe đi ngược chuyến về vùng Gò Quao

.

Vĩnh Thuận con nước dâng trào Nhớ đêm Kiên Hải

biển sao, sóng dồn…

Giang Thành tiếng súng công đồn, Những ngày chinh chiến vẫn còn in sâu. Đưa em qua những cây cầu Thoảng nghe một tiếng Đờn Bầu

lắt qua. Bướm hoa nhảy nhúm là đà, Trông xa cánh Sếu

Vĩnh Điều gọi đông. Ráng chiều cắt ngang chờ mong Kiên Giang nồng ấm chạnh lòng hoàng hôn .

Kiên Giang là một trong những tỉnh trù phú về địa thế và đẹp đẽ về phong cảnh của đất nước Việt Nam. Kiên Giang nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Kiên Giang có những cánh đồng ruộng lúa phì nhiêu, có hải đảo và đồi núi với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và thật đa dạng về nông sản, hải sản, khoáng sản và du lịch. Nằm ven vịnh Thái Lan, Kiên Giang tọa lạc ngay giao điểm lưu thông với quốc tế bằng đường biển rất thuận lợi.

Kiên Giang là một trong những tỉnh trù phú về địa thế và đẹp đẽ về phong cảnh của đất nước Việt Nam. Kiên Giang nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Kiên Giang có những cánh đồng ruộng lúa phì nhiêu, có hải đảo và đồi núi với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và thật đa dạng về nông sản, hải sản, khoáng sản và du lịch. Nằm ven vịnh Thái Lan, Kiên Giang tọa lạc ngay giao điểm lưu thông với quốc tế bằng đường biển rất thuận lợi.

Thơ về Kiên Giang 4: Về Với Kiên Giang

Thầm thương mảnh đất Kiên Giang Ngày nao anh đến ngập tràn ,xốn xang Vong vo vài điểm tham quan Hà Tiên,Rạch Giá … lắm nàng xinh xinh

Cảnh gieo thơ,cảnh hữu tình Khen ai khéo tạc bức tranh tuyệt vời? Thương Hòn Đất,chị Sứ ơi! Anh hùng gan dạ một thời liệt oanh

Về U Minh Thượng,ngàn xanh Một trời bóng mát lòng anh mặn nồng Ghé sang Phú Quốc thầm mong Thiên đường Đảo Ngọc gió lồng môi hoa

Biển như cô gái nõn nà Miệng cười khúc hát ngân nga dặm ngàn Nghỉ ngơi giải trí giấc vàng Thả hồn thi sĩ bay ngang gió chiều

Rượu vang sim,mời anh yêu Nhâm nhi món biển anh phiêu diêu tình Nếm mùi nước mắm nguyên trinh Vân vê kỉ niệm một mình say mê

Bánh canh hải sản no nê Bánh tét lá mật cận kề môi nhau Tiêu thì số một ngon nào? Ấm êm cho má hồng hào anh cua

Kiên Giang tắm mát sớm trưa Yêu nhau sóng vỗ trêu đùa mơn man

Thơ về Kiên Giang 5: Nhớ Kiên Giang

Mai về vùng đất Kiên Giang Nơi tôi cất tiếng khóc vang chào đời. Với bao kỷ niệm một thời, Làm tôi nhớ mãi, tuổi thơ của mình.

Kiên Giang, Rạch Giá quê mình Ở nhà chỉ có một mình mẹ yêu. Năm dài tháng rộng cô liêu, Xứ xa nhớ mẹ rất nhiều mẹ ơi.

Tựa đề bài thơ “Nhớ Kiên Giang” đã cho ta thấy được rằng tác giả đang nhớ về quê hương của mình. Đi sâu vào bài thơ thì ta sẽ thấy được nội dung đó là một người sắp về với mảnh đất Kiên Giang và đang háo hức từng phút giây.

Thơ về Kiên Giang 6: Nghĩ Về Rừng Tràm U Minh Thượng

Lần lưu diễn ở Kiên Giang 15-6-1997 Rừng muôn thuở vẫn thi gan mưa nắng Rừng ngăn dòng con nước đổ về xuôi U Minh Thượng bạt ngàn hoa tràm nở Thấm trong lòng người dân Việt kiên gan Từ ngày xưa rừng hoang vu huyền bí Là chiến khu che chở biết bao người Những tháng năm hãi hùng bao khói lửa Bom đạn ngút trời thôn xóm tan hoang Trong máu lửa rừng U Minh đứng dậy Cây ngã đi tiếp nối mọc đâm chồi Luôn hy vọng một ngày mai tươi sáng Như bông tràm đua nở sáng tương lai Nắng lung linh ghe xuôi dòng Vĩnh Thuận Chiều nhẹ rơi thoang thoảng hương hoa tràm Người dân An Minh hân hoan ngày mở hội Xóa âm u chào đón một mùa Xuân Ghé thăm rừng nhớ một thời chiến đấu Quá khứ hào hùng dòng máu đỏ U Minh Lòng chợt buồn nhìn cây tràm nghiêng ngã Chạnh lòng đau… ai chia sẻ bây giờ? Hãy tiếp nối đắp bồi nhiều thế hệ Dải đất tràm đã thắm máu Quân Dân Hôm nay ấm no nhớ ngày xưa gian khổ Kiên Giang hào hùng vào trang sử đấu tranh

U Minh Thượng là rừng thuộc tỉnh Kiên Giang. Vườn quốc gia U Minh Thượng là vườn quốc gia thứ 5 của Việt Nam được công nhận là Vườn Di sản ASEAN. Đây cũng là Vườn di sản trên đất than bùn đầu tiên của khu vực.

Lần lưu diễn ở Kiên Giang 15-6-1997Rừng muôn thuở vẫn thi gan mưa nắngRừng ngăn dòng con nước đổ về xuôiU Minh Thượng bạt ngàn hoa tràm nởThấm trong lòng người dân Việt kiên ganTừ ngày xưa rừng hoang vu huyền bíLà chiến khu che chở biết bao ngườiNhững tháng năm hãi hùng bao khói lửaBom đạn ngút trời thôn xóm tan hoangTrong máu lửa rừng U Minh đứng dậyCây ngã đi tiếp nối mọc đâm chồiLuôn hy vọng một ngày mai tươi sángNhư bông tràm đua nở sáng tương laiNắng lung linh ghe xuôi dòng Vĩnh ThuậnChiều nhẹ rơi thoang thoảng hương hoa tràmNgười dân An Minh hân hoan ngày mở hộiXóa âm u chào đón một mùa XuânGhé thăm rừng nhớ một thời chiến đấuQuá khứ hào hùng dòng máu đỏ U MinhLòng chợt buồn nhìn cây tràm nghiêng ngãChạnh lòng đau… ai chia sẻ bây giờ?Hãy tiếp nối đắp bồi nhiều thế hệDải đất tràm đã thắm máu Quân DânHôm nay ấm no nhớ ngày xưa gian khổKiên Giang hào hùng vào trang sử đấu tranhU Minh Thượng là rừng thuộc tỉnh Kiên Giang. Vườn quốc gia U Minh Thượng là vườn quốc gia thứ 5 của Việt Nam được công nhận là Vườn Di sản ASEAN. Đây cũng là Vườn di sản trên đất than bùn đầu tiên của khu vực.

Thơ về Kiên Giang 7: Về Kiên Giang

Em đưa ta về Kiên Giang thăm quê mẹ Mộng tha phương chở nặng những chuyến phà Cửu Long về xám đục cát phù sa Đồng lúa chín mịn màng như làn da thiếu nữ Đêm nghe muỗi hát ru câu tình tự Trên nhánh bần, con sáo đậu trầm ngâm Phía bờ xa ai khua động mái dầm Cho mặt sóng bồng bềnh trăng mười sáu Những con kênh dọc ngang như mạch máu Chảy về tim rộn điệp khúc dân ca Thương đám lục bình màu hoa tím hiền hoà Thương cây cầu dừa nằm vắt ngang rọi bóng Gió Tây Đô thổi ngược về Vàm Cống Đưa ta rẽ bên nào ở Lộ Tẽ, hỡi em? Rạch Giá mùa này sóng nước có êm? Ta nhớ lắm quán Café khu Lấn Biển Ở nơi nào quê em vàng bông điên điển Ta sẽ cùng em gọi con nước lên nhanh Trên chiếc xuồng con ba lá chòng chành

Kiên Giang được nhiều người biết đến là vùng đất văn hóa và du lịch nổi tiếng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Cảnh đẹp của Kiên Giang ngày xưa từng được ca ngợi qua Hà Tiên thập vinh. Đến ngày nay Kiên Giang được nhiều người biết đến qua danh thắng du lịch nổi tiếng là Hòn Phụ Tử và đảo Phú Quốc.

Thơ về Kiên Giang 8: HÒN ĐẤT

Từng chồng đá chất lên cao Đá mà bảo đất người sao lạ đời Chói lòa trang sử sáng ngời Nổi danh chị Sứ một thời liệt oanh Núi cao cây cỏ xanh xanh Trời cao chót vót yên lành mây bay Chim kêu khỉ , vượn gọi bầy Thế nhưng giặc Mỹ đến đây kinh hồn Khói lam nũng nịu cuối thôn Nhấp nhô sóng biển hoàng hôn tắt dần Lẻ loi đỉnh núi ánh trăng Chuông chùa thánh thoát buâng khuâng lòng người Sương đêm lặng lẽ rơi rơi Sao đêm lạnh lẽo cuối trời bơ vơ .

Hòn Đất là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất Kiên Giang. Bài thơ miêu tả về huyện Hòn Đất với những tảng đá chồng cao và biết bao nhiêu trang sử đã viết nên Hòn Đất ngày hôm nay.

Từng chồng đá chất lên caoĐá mà bảo đất người sao lạ đờiChói lòa trang sử sáng ngờiNổi danh chị Sứ một thời liệt oanhNúi cao cây cỏ xanh xanhTrời cao chót vót yên lành mây bayChim kêu khỉ , vượn gọi bầyThế nhưng giặc Mỹ đến đây kinh hồnKhói lam nũng nịu cuối thônNhấp nhô sóng biển hoàng hôn tắt dầnLẻ loi đỉnh núi ánh trăngChuông chùa thánh thoát buâng khuâng lòng ngườiSương đêm lặng lẽ rơi rơiSao đêm lạnh lẽo cuối trời bơ vơ .Hòn Đất là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất Kiên Giang. Bài thơ miêu tả về huyện Hòn Đất với những tảng đá chồng cao và biết bao nhiêu trang sử đã viết nên Hòn Đất ngày hôm nay.

Thơ về Kiên Giang 9: PHÚ QUỐC ĐIỂM HẸN

Phú Quốc ơi chúng tôi đến nơi đây Đảo xanh tươi giữa đất trời biển cả Những cánh sóng vỗ bờ tung trắng xoá Bãi cát vàng rợp bóng rặng dừa xanh

Đất thì thầm kể câu chuyện chiến tranh Nhắn mai sau mãi khắc ghi lịch sử Nơi đau thương giam cầm bao chiến sỹ Những đòn roi tra tấn của quân thù

Vẫn còn đây nhân chứng chiến tranh xưa Biết bao người đã hy sinh anh dũng Vì tổ quốc cho ngày mai tươi sáng Cho đảo quê hương trở lại yên bình

Phú Quốc bây giờ đang phát triển rất nhanh Đến đảo ngọc nơi thiên đường đáng sống Cánh rừng già đang cựa mình sôi động Việt Nam ơi đất nước đẹp vô cùng

Tạm biệt Phú Quốc nỗi nhớ rưng rưng…!

Phú Quốc là một trong những nơi bạn nên đến một lần trong đời. Đến Phú Quốc mọi trải nghiệm sẽ vượt qua cả sự mong đợi của bạn, bạn sẽ được hòa mình với nhịp sống bình yên, được thưởng thức vẻ đẹp quyến rũ của con suối, những bãi biển hoang sơ và cả những món ăn đặc sản.

Thơ về Kiên Giang 10: PHÚ QUỐC

Phú Quốc hôm nay thật tuyệt vời Nắng vàng rực rỡ trải muôn nơi Sóng biển hiền hoà ôm bờ cát Một màu cây cối mướt xanh tươi.

Phú Quốc dịu hiền mến yêu ơi! Có người con gái nhớ thương tôi Xa xăm cách trở ngàn vạn dặm Vẫn thấy trong tim dạ bồi hồi.

Phú Quốc – nơi này những năm xưa Bao hồn liệt sỹ đã tiễn đưa ! Kẻ thù độc ác không còn nữa Đảo Ngọc hôm nay đẹp bốn mùa.

Tôi nhớ vô cùng Phú Quốc ơi! Nỗi niềm xao xuyến cả hồn tôi Gửi người con gái thương yêu ấy Tôi tặng cho em cả biển trời..!

Phú Quốc là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất Việt Nam ta. Phú Quốc dường như thay đổi từng ngày, tất cả mọi thứ đều khác lạ khu vực trung tâm đông đúc hơn, khách du lịch đến đây nhiều hơn nhiều so với trước, nhiều khu nhà nghỉ, khách sạn cao cấp được mọc lên, đường xá cũng được mở rộng hơn to hơn và đẹp hơn. Bài thơ là nỗi niềm của chàng trai gửi về gửi con gái ở Phú Quốc.

THƠ TÌNH về Kiên Giang – PHÚ QUỐC 11: EM MAU VỀ

Em có về Phú Quốc với anh không ? Quê hương đó ngọt như dòng sữa mẹ Mùa mưa nắng tắm mát đời thơ trẻ Sóng khơi xa thỏ thẻ những đêm sầu.

Em mau về quê hương đợi đã lâu Trên gành đá sóng bạc đầu thương nhớ Mãi xe cát anh Dã Tràng tìm vợ Suối non ngàn bến lở đợi bờ thương.

Em mau về hoa đã ngạt ngào hương Chim phương Bắc trên đường tìm bến đỗ Rực sắc tím say lòng sim mua trổ Tiếng chim rừng nói hộ những chờ trông.

Em mau về để anh nhớ anh mong Cơn gió Bấc lạnh lòng trai biển đảo Mang nồng nàn, thơm thảo rót vào anh.

Em mau về dạo bước chốn biển xanh Chị Hằng múa giữa đêm thanh lả lướt Ánh vàng trải ngàn hoa trên sóng nước Ngất ngây hồn mộng ước thuở yêu xa.

Em xem kìa cau đã trắng buồng hoa Trầu khoe sắc đậm đà xanh ngan ngát Tiếng gió biển du dương hoà khúc nhạc Thay lòng anh khao khát đón em về.

Em mau về nồng mãi khúc si mê Bao ngang trái bỏ bên lề cuộc sống Hãy cho anh hương yêu và khát vọng Quê hữu tình mãi đợi bóng nàng dâu.

Mỗi người đi ra phú quốc đều có những cảm nhận khác nhau. Du lịch Phú Quốc là chuyến đi hoàn hảo. Bài thơ là tâm sự của người con trai gửi đến người con gái phương xa rằng hãy mau trở về Phú Quốc, nơi tình yêu đôi lứa bùng cháy, nơi đã thắp lên bao kỷ niệm đẹp.

Lần đầu về Phú Quốc thân yêu Mảnh đất vườn tiêu trổ lưng đồi Rừng sim chín mọng tươi đằm thắm Ngọc trai lóng lánh ánh trăng trôi

Hòn đảo lung linh trước biển khơi Lặng lẽ hiên ngang giữa đất trời Vươn mình như đà đang lướt sóng Đảo ngọc long lanh thật rạng ngời !

Đến với Phú Quốc bạn có thể thỏa mình tắm mát dưới làn nước trong xanh của những bãi tắm: Bãi Sao, Bãi Khem hay đắm mình với làn nước trong vắt của Suối Tranh, suối Đá Bàn. Khám phá đại dương với chương trình lặn ngắm san hô, câu cá, câu mực đêm…

Thơ về Kiên Giang – Phú Quốc 13: THĂM PHÚ QUỐC

Nắng chiều Phú Quốc nhẹ vương Về thăm chốn cũ mà thương một thời Biết bao chiến sĩ máu rơi Nhà tù đế quốc để đời trổ hoa

Máu bao chiến sĩ đã hòa Vào lòng đất mẹ xây tòa tháp cao Chúng ta trân trọng tự hào Đấp xây tổ quốc cho sao đẹp giàu

Hỡi ai hậu duệ đời sau Phải luôn biết quý máu đào các anh Tự do độc lập đã dành Dân cường nước thinh các anh vui lòng.

Bài thơ thể hiện sự biết ở của các chiến sĩ ở Phú Quốc đã anh dũng hy sinh để cho chúng ta được sự bình an, sống hòa bình như ngày nay. Qua đó khuyên ta phải luôn nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì đất nước.

Thơ về Kiên Giang – Phú Quốc 14: PHÚ QUỐC..

Phú Quốc đây… xưa chỗ biệt giam, Bao người yêu nước của trời Nam. Hàng ngàn liệt sĩ hồn phiêu bạt, Mấy vạn tù nhân xác phế tàn. Còn đó, căm hờn ghi mấy thuở, Vẫn đây, uất hận viết ngàn trang ! Bây giờ Phú Quốc ngời Xuân sắc, Đón khách về thăm khắp các làng !

Khi xưa Phú Quốc nổi tiếng là “chỗ biệt giam”, bài thơ gợi tả lại hình ảnh khi xưa, khi mà “hàng ngàn liệt sĩ hồn phiêu bạt” tại Phú Quốc. Và hiện tại thì “Phú Quốc ngời Xuân sắc, đón khách về khăm khắp các làng”.

Thơ về Kiên Giang – Phú Quốc 15: BIỂN ĐẢO

Khoanh tròn giữa biển giống như giam, Phú Quốc “thiên đường” của Việt Nam. Hải Đảo đang hồi sinh sức sống, Cư dân đánh thức cảnh hoang tàn. Đường xe “tấp nập” chờ khai thác, Phố thị “đông giàu” đợi chỉnh trang. Bãi tắm nên thơ… bờ cát trắng,

Người ta ví “đảo ngọc” Phú Quốc như giọt nước mắt long lanh giữa biển xanh, nhận được khá nhiều đặc ân của mẹ thiên nhiên. Bên cạnh những bãi biển trải dài, những dãy rừng nguyên sinh trùng điệp, ẩm thực phong phú thì Phú Quốc có nhiều đặc điểm phát triển du lịch.

Thơ tình về Kiên Giang – Phú Quốc 16: EM VỀ VỚI BIỂN QUÊ ANH

Em có thấy hoàng hôn ôm mặt biển Nhạn tung trời vờn chao liệng bên nhau Nước xanh xanh nghe tiếng gió rì rào Sóng nối sóng lao xao ôm bờ cát.

Em có nghe biển du dương khúc nhạc Quyện hương rừng ngào ngạt đến mê say Nắng mơ màng hôn mái tóc em bay Anh ôm nhẹ dáng trang đài tha thướt.

Nhìn đi em xa xa trên mặt nước Những con thuyền xuôi ngược tít mù khơi Kiếp ngư dân làm bạn với biển, trời Quê hương đó nuôi đời anh tươi thắm.

Em yêu không Phú Quốc mình đẹp lắm Bờ cát dài.. thăm thẳm rặng dừa xanh Cá tung tăng.. chim ríu rít trên cành Bao cảnh đẹp.. như tranh.. trong mắt biếc.

Anh thủ thỉ gọi “mình ơi “tha thiết Sau bao ngày da diết dệt mộng mơ Đất yên bình đón lấy bước nàng thơ Chàng thi sĩ thẫn thờ say dáng ngọc.

Dấu yêu à ! Tựa vai anh mà khóc Giọt vui mừng.. giọt ngọc của khát khao Biển lặng yên sao lòng dậy cồn cào

Lạc vào Phú Quốc trong mơ Cùng nhau tìm một tứ thơ biển chiều Lang thang bắt bướm thả diều Bóng nhòa trong bóng liêu xiêu nắng tà

Cùng say mê mải hái hoa Ngắm nhìn dòng nước hiền hòa Suối Tranh Hương thơm gió mát ngọt lành Rừng Phi Lao ngút ngàn xanh Bãi Dài

Hàm Ninh làng cổ vạm chài Đến đây tìm lại một vài dấu xưa Nhà tranh vách liếp hoang sơ Dưới đêm trăng sáng ngẩn ngơ bóng người

Bên nhau hai đứa nói cười Thốt lên không biết bao lời nồng say Sẽ còn nhớ mãi hôm nay Sẽ còn nhớ mãi những ngày hè vui!

Thơ về Kiên Giang – Phú Quốc 18: Thăm Phú Quốc

Du xuân đến đảo gió bay vèo Phú quốc xa bờ sóng đẩy theo Nước biển xanh trong lùa xóa cát Rừng non suối chảy vượt quanh đèo Đêm về chợ nhóm gần Dinh cậu Sáng ghé tham quan viếng ngọc reo Bải tắm bông hồng nhô nhấp nổi Thi tình lạc bến mãi tìm neo

Thơ về Kiên Giang – Phú Quốc 19: PHÚ QUỐC QUÊ EM

Phú Quốc quê em biển bốn bề Đảo xanh xinh đẹp khó lòng chê Bãi Sao sóng biển êm đềm vỗ Róc rách suối Tranh nước chảy rề Chứng tích lao tù gây xúc động Bảo tàng lịch sử gợi đam mê Tình người Quốc đảo chan hoà đượm Lữ khách mê say chẳng lối về…

Thơ về Kiên Giang – Phú Quốc 20: Phú Quốc gom nhặt

Hàng dừa đung đưa Đủng đỉnh xe bò Chở nước sớm trưa Phú Quốc như xưa. Thơm mùi mắm mặn Đất đỏ con đường Phú Quốc như xưa…

Bến đợi thuyền về Chàng ngư phủ say Mặt trời nghiêng ngả Ngõ hẹp xóm Cồn Phú Quốc như xưa…

Đêm buông trăng mơ Anh cầm tay em Dạo bên Dinh Cậu

Sóng mãi hôn bờ Phú Quốc như xưa…

Hàng dừa đung đưaĐủng đỉnh xe bòChở nước sớm trưaPhú Quốc như xưa.Thơm mùi mắm mặnĐất đỏ con đườngPhú Quốc như xưa…Bến đợi thuyền vềChàng ngư phủ sayMặt trời nghiêng ngảNgõ hẹp xóm CồnPhú Quốc như xưa…Đêm buông trăng mơAnh cầm tay emDạo bên Dinh CậuSóng mãi hôn bờPhú Quốc như xưa…