Top 11 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Soạn Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

BÀI LÀM

TIỂU DẪN

Những nét chính về tác giả

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1492 – 1585) quê ở Hải Phòng.

Ông làm quan dưới triều Mạc.

Ông cáo quan về quê, lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ. Ông mở trường dạy học.

Mặc dù về ở ẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm vân tham vấn cho triều đình nhà Mạc. Ông được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình quốc công nên có tên gọi là Trạng Trình.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc.

Ông để lại tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (Khoảng 700 bài) và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (Khoảng 170 bài).

Những nét chính về tác phẩm

– Nhàn là bài thơ Nôm trong Bạch Vân quốc ngữ thi.

– Nhan đề bài thơ do người đời sau đặt.

– Nội dung bài thơ là lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.

ĐỌC HIỀU VĂN BẢN

Câu 1.

Hai Câu thơ đầu:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Cách dùng ố từ “một” và các danh từ trong câu thơ thứ nhất cho thấy sự giản dị trong lối sống của nhà thơ. Ông chỉ cần chiếc mai, chiếc cuốc và chiếc cần câu để câu cá theo thú vui của mình.

Nhịp điệu câu thơ chậm rãi nhưng vẫn thể hiện thấp thoáng niềm vui, cùng sự ung dung tự tại của một con người đang rất bình tâm, bình thản.

Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh sống của tác giả rất bình dị, đơn sơ. Tuy không giàu có nhưng tâm trạng ông luôn mãn nguyện, vui vẻ và hòa đồng với thiên nhiên, với tất cả mọi người xung quanh.

Câu 2.

Nơi “vắng vẻ” mà tác giả để cập đến ở đây chính là chốn bình yên, thanh bình như quê hương nơi ông đang ở. Về nghĩa bóng, nơi “vắng vẻ” còn là nơi mà không có sự ganh đua, bon chen về danh lợi, về lợi lộc.

Ngược lại, chốn “lao xao” trong ý niệm của tác giả chính là chốn quan trường, nơi mà ngày ngày người ta phải sống bon chen, phải lừa lọc, phải đấu đá lẫn nhau.

Tác giả tự nhận mình là người “dại” khi tìm nơi “vắng vẻ” để sống. Vì nơi này không có lương bổng, cũng không có kẻ hầu người hạ, chỉ hoàn toàn là cuộc sống bình dị đơn sơ như bao người dân thường khác. Còn kẻ “khôn” tìm đến chốn quan trường, chốn “lao xao” để sống với những đấu đá, những bon chen của lề luật, của quan chức, của lợi danh.

” Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao “

Sự đối lập trong hai câu thơ giữa “dại” và “khôn”, giữa “vắng vẻ” và “lao xao” đã góp phần thể hiện quan điểm và triết lý sống rất rõ ràng của tác giả. Ông không ham mê danh lợi hay tiền tài, mà chỉ cần một cuộc sống an yên, tự tại.

Câu 3.

Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5,6 :

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

Những sản vật trong câu thơ hoàn toàn từ thiên nhiên : măng trúc, giá.

Nếp sống sinh hoạt cũng thuận theo tự nhiên : Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Chỉ hai câu thơ ngắn gọn nhưng tác giả đã trưng bày nếp sống của mình trong cả bốn mùa. Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, đạm bạc mà thanh cao.

Giá trị nghệ thuật của hai câu thơ : Nhịp điệu câu thơ vẫn nhẹ nhàng, chậm rãi như một tiếng đàn du dương về cuộc sống bình dị và êm đềm.

Câu 4.

Hai câu thơ cuối :

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nàm ngủ gưới gốc cây hòe, rồi mơ thấy mình ở nước Hèo an, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hòe phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý : phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

Nguyễn Bỉnh Khiêm cố ý nhắc đến câu chuyện trên để ý nói đến cuộc sống hiện tại của mình. Ông không mong chi cuộc sống giàu sang phú quý, cũng chẳng mong làm quan chốn quan trường chật chội nhiều xô bồ lẫn lộn. Ông chỉ cần một cuộc sống thanh bình, giản dị và đơn sơ.

Tuy nhiên, bất cứ lúc nào có thể giúp được triều đình việc gì, ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn.

Câu thơ thể hiện ông không những là người có học thức uyên thâm, thấu hiểu cuộc sống chốn quan trường, mà còn là người có tâm hồn thanh cao, trong sáng và đáng kính.

Câu 5.

Quan niệm sống Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là :

– Không vất vả, cực nhọc

– Không quan tâm tới xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân

– Xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao.

– Hòa hợp với tự nhiên.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người có học thức, có cốt cách thanh cao. Ông sống nhàn không phải vì sợ vất vả, cực nhọc, cũng không phải để tránh những phiền lụy đến bản thân mình. Bởi ông vẫn luôn sẵn sàng tham vấn cho triều đình mỗi khi vua cần. Hơn nữa, sống ở quê, ông vẫn mở lớp dạy học với mục đích đào tạo nhân tài cho đất nước, truyền đạt cái hay cái đẹp cho học trò. Đó là một cuộc sống rất bình dị mà thanh cao, rất đáng trân trọng.

Ông sống hòa hợp với thiên nhiên, tự thân vận động nuôi dưỡng bản thân mình với những món ăn giản dị từ thiên nhiên như măng trúc, như giá. Ông lấy đó là niềm vui cho cuộc sống chứ không phải sự thiếu thốn hay cực nhọc.

Ông về quê sống là vì không được vua chấp thuận đề nghị chém đầu mười tám lộng thần. Nhưng khi về quê, ông vẫn luôn hướng lòng mình đến triều đình.

Tất cả những quan niệm và cách sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện trong bài thơ cho thấy ông là một người có cốt cách thanh cao, trong sạch, liêm khiết và yêu nước, thương dân.

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Có Dàn Ý

I, Dàn ý cho bài Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

1, Mở bài

– Giới thiệu bài thơ Nhàn và tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm

2, Thân bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

a, Hai câu thơ đầu Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Tác giả chỉ ra các vật dụng quen thuộc thường ngày của người nông dân đó là mai, cuốc.

Dùng từ số đếm “một”, “một” như nói lên được sự lẻ loi

Khẳng định về mặt nghệ thuật, nội dung của bài thơ Nhàn

II, Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Nguyễn Bỉnh Khiêm là người mà được biết đến là người có học vấn uyên thâm, ông cũng đã từng làm quan nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ẩn. Trong khoảng thời gian đó ông có những sáng tác nói về cuộc đời và thể hiện được cả quan niệm sống nữa. Thi phẩm dặc sắc “Nhàn” là một bài thơ như vậy.

Không khó có thể nhận thấy được xuyên suốt bài thơ “Nhàn” chính là tâm hồn tràn ngập niềm vui và ta như cảm nhận được một sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả. Thực sự ta như thấy được và xem đây là điểm nhấn, đồng thời cũng chính là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Bài thơ chỉ vẻn vẹn với 8 câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm thật tài tình khi đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả và vui thú điền viên này.

Ngay từ khi mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc và chân chất nói về cuộc sống thôn quê.

Một mai một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Với phép Nguyễn Bỉnh Khiêm vô cùng khéo léo trong việc chọn lựa được từ số đếm “một” – “một” như để thể hiện được sự đơn sơ nhưng không vì thế mà cô độc. Chỉ với hai câu thơ này thôi thì đã gợi lên được một sự thanh tịnh trong tâm hồn của nhà thơ. Một hình ảnh thanh bình của vùng quê Bắc Bộ thuở nào. Hình ảnh con người – một lão nông – Nguyễn Bỉnh Khiêm an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã điền viên đó là thú câu cá và làm vườn. Thực sự cũng có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở trong chính thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường huyên náo, sang giàu đó để về với đồng quê như thế này. Người đọc nhận thấy được với động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai thật tài tình khi cũng đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Cho dù là ở ngoài kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, ông dường như cũng cứ vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của chính mình ở hiện tại. Với ông đây là một cuộc sống đáng mơ ước của nhiều người.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

Thực tế ta có thể xem đây là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi mà ông cáo quan về ở ẩn. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã không ngần ngại khi nhận mình “dại” khi ông về tìm nơi vắng vẻ đến sống. Thế nhưng đây là cái “dại” này cũng đã khiến cho nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ ông. Nguyễn Bỉnh Khiêm thật khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, đồng thời cũng đã lại lột tả được hết phong thái của một lão nông tri điều. Còn với những người trong chốn quan trường hay những người đang cố gắng để có thể đến “chốn lao xao” đó là những người khôn. Đó quả thật là một sự khen tinh tế, khen mà là chê vô cùng độc đáo của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tác giả muốn về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Thực sự ta phải đặt câu hỏi này trong bối cảnh lúc bấy giờ đó chính là khi về ở ẩn, xa chốn quan trường thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mới có thể sống và bảo toàn nhân cách của mình suốt cuộc đời và thật thanh cao. Có như thế mới đáng sống và mọi người luôn ngưỡng mộ.

Ở trong hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện rất rõ nét đó là câu:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Thực sự đọc xong câu này ta nhận thấy được đây cũng chính là một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của một lão nông vui thú điền viên. Mùa nào thì thức đấy chẳng phải quá lo lắng mà cứ sống thuận theo lẽ tự nhiên. Câu thơ gợi được cảnh sinh hoạt đời thường mà bộc lộ được nét thanh cao đến kỳ lạ của tác giả.

Cuối cùng với hai câu thơ kết cũng đã đúc rút được tinh thần và những suy nghĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Câu thơ cuối cũng chính là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm – một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự thì phú quý không hề là giấc chiêm bao. Sự thông minh, tài trí hơn người của ông không chỉ là một giấc mơ thế nhưng đã là giấc mơ thì sẽ tan biến hế mà ông đưa ra quan niệm một triết lý sâu sắc đó là hãy sống thanh cao, đừng hám lợi vì lợi cũng chỉ là một giấc mơ thôi

Nói tóm lại với 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã mang đến cho người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, khâm phục tinh thần và phong thái của ông. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là một trong những tấm gương đáng học hỏi cho thế hệ sau.

Minh Nguyệt

Cảm Nhận Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đề bài: Cảm nhận bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Cảm nhận bài thơ “Nhàn” – Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, là một nhà thơ có cuộc sống vô cùng tự do phóng khoáng, một người từ bỏ mũ áo để có thể trở thành một ông lão nông dân và sống một cuộc sống vui thú điền viên, thể hiện một cuộc sống thanh thản, của nhà thơ khi cáo lão hồi hương.

Trong bài thơ “Nhàn” tiêu đề của bài thơ đã thể hiện được toàn bộ nội dung của tác phẩm. Đó chính là sự thanh nhàn trong bài thơ, một cuộc sống ung dung tự tại của tác giả khi sống vui vẻ điền viên.

Một mai, một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Mở đầu bài thơ thể hiện một bức tranh vô cùng vui vẻ của tác giả, dù điệp tư “một” được lặp đi lặp thể hiện một bức tranh ung dung tự tại của tác giả khi đứng cáo lão về quê để sống một cuộc sống nông dân. Trong bài thơ Nguyễn Bình Khiêm là một ông lão vui thú điền viên, hàng ngày cày cuốc sống vui vẻ thanh nhàn. Trong cuộc sông ông lão luôn thể hiện được tâm thế thanh thản của mình. Những chiếc cày, cuốc đã trở thành một điều vô cùng quen thuộc với người nông dân, mang tới cho tác giả một cuộc sống ẩn sĩ thanh nhàn.

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Trong cuộc sống của người nông dân tác giả được hưởng những thú vui mà người khác không được hưởng. Đó là mùa nào thức ấy những thức ăn ngon tự bàn tay của tác giả làm ra khiến cho cuộc sống càng ý nghĩa hơn. Một người nông dân tuy cuộc sống không sa hoa, cao quý như một quan chức không có kẻ hầu người hạ nhưng sẽ mang lại cho con người nhiều cảm xúc khác nhau khi được hưởng thành quả lao động của chính bản thân mình.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mượn điển tích xưa để nói lên những điều mà mình muốn nói. Tác giả đã rút ra mọt chân lý mà con người phải sống hết cuộc đời mình mới tự rút ra được ý nghĩa. Tiền bạc, vinh hoa phú quý chỉ tựa như một giấc mơ mà thôi khi tỉnh giấc thì chẳng còn lại được gì. Tác giả đã nói ra suy nghĩ của lòng mình, một cuộc sống vinh hoa từng làm quan chức có nhiều kẻ nịnh nọt nhưng giờ đây khi ông trở về làm ông lão nông dân thì mọi thứ chỉ là hư vô.

Bài thơ “Nhàn” của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm cho người đọc một cảm nhận về cuộc sống thanh nhàn, vui thú điền viên của một ông lão nông dân khi cáo quan về ở ẩn, không còn vướng vấn việc đời. Một bài thơ hay thể hiện được tấm lòng trong sạch thanh cao của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiên trong thời kỳ phong kiến nhiễu nhương

Mai Hoàng

Phân Tích Bài Thơ Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm Hay Nhất

Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài làm

Trong xã hội phong kiến, có rất nhiều người đỗ đạt làm quan nhưng vì cảnh quan trường thối nát, đầy bất công đã lui về ở ẩn, sống một cuộc sống an nhàn, tự tại. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người như thế. Ông còn được biết đến với hai tập thơ nổi tiếng là “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi”.

Bài thơ Nhàn là bài thơ viết bằng chữ Nôm được rút từ tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Đây là một trong những tác tác tiêu biểu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ là tiếng lòng, là lời giãi bày của thi sĩ khi được sống cuộc sống an nhàn nơi đồng quê thanh bình, êm ả. Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất gần gũi, mộc mạc:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Với phép lặp số từ “một” câu thơ đã phác họa nên trước mắt người đọc một cảnh tượng quen thuộc. Cuốc, mai là những vật dụng quen thuộc của người dân lao động. Tất cả đều được gắn với số “một”, thể hiện sự cô đơn, một mình nhà thơ giữa chốn thôn quê nghèo khó. Cuộc đời của ông sau khi rời xa chốn quan trường thì ông giống với những người nông dân khác đó là dùng mai để xắn đất, dùng cuốc để xới đất. Hai công cụ trên còn đi kèm với chiếc cần câu ý chỉ rằng những lúc rảnh rỗi thì câu cá chính là một trong những thú vui tao nhã của ông. Mặc dù lòng vẫn còn mang nặng chí lớn, phải sống vì nhân dân nhưng lại phải ẩn mình nơi thôn dã khiến tác giả có chút cô đơn, trống vắng. Tuy nhiên khi được sống, được làm việc giống như những người nông dân lại khiến ông có cảm giác mới mẻ, thú vị, cho ông thấy mình gần gũi với công việc nhà nông, gần với tầng lớp nhân dân lao động. Đó là điều mà trước kia khi làm quan ông chưa có dịp được trải nghiệm. Đây được xem là cuộc sống đáng mơ ước của nhiều người, ít ai có thể vứt bỏ chốn quan trường xô bồ để sống cuộc sống lao động nơi đồng quê. Từ “thơ thẩn” tạo nên một nhịp điệu êm ái, khoan thai cho người đọc.

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”

Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận là mình “dại” khi rời bỏ chốn quan trường xa hoa mà nhiều người mong muốn được chen chân vào. Nhưng cuộc sống mà ông đã lựa chọn khi lui về ở ẩn đồng thời cũng khiến nhiều người ghen tỵ, ngưỡng mộ. Đối lập với ông là những người “khôn”, sự đối lập giữa “dại” – “khôn”, giữa “vắng vẻ” với “chốn lao xao”. Ông khen người chê mình nhưng rất có thể cũng là khen mình và chê người. Có khi ta tự hỏi không biết rằng việc ông ẩn mình sống nơi thôn dã có phải ông đang trốn tránh trách nhiệm với tổ quốc hay không? Tuy nhiên ta cần đặt vào thời thế lúc bấy giờ thì việc ông tìm đến nơi “vắng vẻ” mới là điều thực sự đúng đắn để có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình.

Hai câu thơ luận, nhà thơ đã gợi mở cho mọi người về cuộc sống nơi “vắng vẻ” mà ông lựa chọn:

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

Chỉ hai câu đã lột tả hết cuộc sống sinh hoạt của cả năm trời với mùa nào, thức ấy. Mùa thu ăn măng trúc, mùa đông ăn giá. Tuy chẳng phải sơn hào hải vị gì nhưng lại đậm đà hương vị quê nhà. Chỉ với vài nét nhưng nhà thơ đã cho ta thấy một vùng thiên nhiên Bắc Bộ với đầy đủ thức ăn. Ăn no thì phải tắm mát mới thêm trọn vẹn cuộc sống. Tắm hồ, ao nhưng lại là cuộc sống thanh tao, không gì sánh bằng. Cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên. Cho đến hai câu thơ cuối, tác giả đã đúc kết lại suy nghĩ của mình:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Thú vui tao nhã câu cá, tắm hồ sen, rồi đến thưởng thức rượu. Đối với ông một người từng hưởng phú quý thì ông coi đó chỉ là giấc chiêm bao. Ông từng có quyền thế, từng có của cải nhưng lại là thứ mà ông không hề nghĩ đến và không có tham vọng. Những thứ đó chỉ là tạm thời, chỉ như một giấc mộng mà khi tỉnh dậy sẽ tan biến. Đây là một cái nhìn nhận sâu sắc, một triết lý mà nhà thơ đã nhận thấy từ thực tế cuộc sống. Đối với ông sống tự do, tự tại, sống không trái với lương tâm và giữ gìn được cốt cách của mình mới là điều quan trọng nhất.

Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho người đọc một cái nhìn sâu sắc về giàu sang phú quý với cuộc sống an nhàn, tự tại. Một cuộc sống khiến nhiều người ngưỡng mộ và khâm phục. Qua bài thơ ta thấy được quan niệm sống khi sống hòa hợp với tự nhiên, sống giữ cốt cách thanh cao và không màng danh lợi. Đây là triết lý sống giúp con người ta sống đẹp hơn, sống đúng với chính mình.

Loan Trương