Top 11 # Xem Nhiều Nhất Xuất Xứ Của Bài Thơ Quê Hương Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ Về Nỗi Nhớ Quê Hương Của Người Xa Xứ

Tác giả: Kim Thanh Lâm Ơi những chàng trai nước Việt xa xứ Gói nỗi buồn cất bước chốn xa quê Gắng học giỏi, chăm làm gửi tiền về Nuôi cha mẹ, gia đình trong nổi nhớ Mối tình đầu, anh xin đành khất nợ Đêm hằng đêm vẫn thấy em trong mơ Đôi vai run con tim hoen ố mờ Bao nhọc nhằn, vết hằn in trên trán Nỗí nhớ nhà, nhớ quê buồn tản mạn Tấm hình em, anh chôn chặt vào tim Nụ cười tươi … như vạn mũi châm kim Anh đành lòng… buông em cho kẻ khác Hỡi các chàng trai nước Việt phiêu bạt Hãy đứng lên dũng cảm ngẩng cao đầu Đừng gục ngã khi tình đang đớn đau Người tương lai mới thật là yêu dấu..! Bài thơ viết về người sắp phải xa quê

CHIỀU NHỚ Tác giả: Chưa rõ Chân trời đổi sắc gọi hoàng hôn Lữ khách buồn vương ảo não hồn Buốt dạ mây bay sầu viễn xứ Se lòng gió lặng thảm hoài chôn Bầy chim mỏi cánh tìm hồ hởi Lũ dế kêu vang kiếm dập dồn Vọng mãi miền quê chiều trải nắng Xa rồi vẫn nhớ cảnh làng thôn Những bài thơ viết về nỗi nhớ quê hương của người xa xứ

XA XỨ Tác giả: Hoàng Trọng Lợi Phận nghèo nên phải đi xa Kiếm cơm kiếm áo cho con ta xài Lang thang xa xứ lạc loài Lai lưng làm lụng với hai tay trần Sáng trưa chiều tối cơm phần Được đem đóng hộp ăn dần qua loa Tính ra trong tháng chi tiêu Làm sao gửi được nhiều nhiều về quê Thế nên mải miết thêm giờ Tăng ca hết cỡ hết giờ thêm lương Kẻo không rỗi rãi lại thương Đàn con nhỏ dại phương xa quê nhà Vài năm ta sẽ về mà Ta lại xây nhà to nhất làng ta Cả làng trầm trồ xuýt xoa Nhà thằng cu tý kiều xa mới về. Bài thơ nhớ về quê hương của người xa xứ

TÌNH VIỄN XỨ Tác giả: Thuy Hao Dang Bên kia đại dương là là quê hương yêu dấu Đông năm nay tuyết nơi này như phủ hơn nhiều Đã bao đông nơi miền đất hứa có lắm nhiêu khê Người viễn xứ trái tim như nhỏ lệ mỗi bước xa quê lòng đầy nổi nhớ tiếng nấc tự tình trầm tư trăn trở tiếng tơ lòng chẳng thể nối tình thâm Không cùng sắc tộc chuyện tình rối rắm ngẫm trắng sự đời chẳng chút đắn đo ngoảnh tơ vương khi vầng trăng không tỏ tự vấn lòng ta trở về tắm ao ta Thôi thì ta đoan chính một mình băng giá Ôm con nhỏ lệ mỗi khi Đông về

Xuất Xứ Của Bài Thơ “Gửi Lời Chào Lớp Một”

Từ thập kỷ 80, bài thơ “Gửi lời chào lớp Một” đã được đưa vào sách giáo khoa và vẫn hiện hành với sách cải cách. Đã có những nhầm lẫn về xuất xứ bài thơ và cuối cùng cũng tìm ra xuất xứ tin cậy nhất. Xin tổng hợp các thông tin để chia sẻ với các bạn.

Bài thơ “Gửi lời chào lớp Một”

Lớp Một ơi! Lớp Một!

Gửi lời chào tiến bước!

Cố sẽ xa chúng em…

Cô sẽ luôn ở bên.

Lớp Một ơi! Lớp Một!

Gửi lời chào tiến bước!

Lời bình của nhà văn Phạm Khải

Nghi ngờ sách giáo khoa ghi sai tên tác giả

Ở SGK Tiếng Việt lớp 1 (tập 2) dưới bài thơ ghi tên tác giả là Hữu Tưởng. Người đưa nghi vấn đầu tiên về tác giả là nickname Tran Trung.

Trên trang cá nhân của mình, Tran Trung chia sẻ: “Internet thật là tuyệt! Nhờ nó mà tình cờ mình biết được bài thơ quen thuộc một thời Gửi lời chào lớp Một là lời bài hát trong bộ phim Liên Xô (cũ) Maruxia đi học, sản xuất năm 1948″.

Những độc giả khác truy tìm trên mạng thì thấy quả kịch bản của phim Maruxia đi học này có lời bài hát Nga tựa như bài thơ Gửi lời chào lớp Một trong SGK. Dòng trạng thái này của Tran Trung được nhiều bạn bè, cư dân mạng chia sẻ với nhiều câu hỏi.

Nickname Uyên Thảo Trần Lê cung cấp thêm thông tin: “Bài thơ này tôi nhớ học từ năm lớp 1 cách đây 50 năm, khi ấy người ta ghi là phỏng thơ”. Nickname Mai Anh cũng viết: “Bài này hồi mình học năm 1970 đã biết là của Nga mà”.

Qua tìm hiểu, được biết sau năm 1975, SGK lớp 1 có hai lần được sửa chữa. Lần chỉnh sửa thứ nhất là năm 1979, xuất bản năm 1981. Lần chỉnh lý thứ hai là năm 1989, xuất bản năm 1994. Sách Tiếng Việt lớp 1 được lưu hành hiện nay dựa trên bản chỉnh lý năm 1994.

Ý kiến các nhà làm sách giáo khoa

PGS.TS Đặng Thị Lanh, chủ biên của sách Tiếng Việt lớp 1 hiện hành, cho biết bản chỉnh lý sách Tiếng Việt lớp 1 năm 1994 dựa trên sách Tập đọc lớp 1 xuất bản năm 1981.

Lúc đó, sách vẫn đề tác giả bài thơ Gửi lời chào lớp Một là “theo Hữu Tưởng”. Còn với những bản gốc trước năm 1981, bà Lanh cho hay bà cũng không biết nên chưa có cơ hội đối chiếu.

“Tôi cũng không biết tác giả Hữu Tưởng là ai. Khi làm sách thì chúng tôi không thể gặp từng tác giả một. Chúng tôi chỉ trích lại theo nguồn (năm 1981) mà thôi” – bà Lanh nói.

Thạc sĩ Trần Mạnh Hưởng – người cùng tác giả Nguyễn Có được giao chỉnh lý sách Tiếng Việt lớp 1 năm 1989 – cũng xác nhận bài thơ Gửi lời chào lớp Một trong quyển Tiếng Việt lớp 1 hiện hành được trích lại từ sách Tập đọc lớp 1 năm 1981, ghi tác giả bài thơ là “theo Hữu Tưởng”, còn bản hiện hành để tên tác giả là Hữu Tưởng.

Theo ông Đào Duy Mẫn – nguyên phó vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, một đồng nghiệp cũ của ông Hữu Tưởng – thì ông Hữu Tưởng tên thật là Nguyễn Hữu Tưởng, nguyên viện phó Viện Khoa học – giáo dục trước đây, đã mất vào những năm 1980. Theo đánh giá của ông Mẫn thì tác giả Hữu Tưởng là một đồng nghiệp rất uy tín.

Như vậy, xung quanh tác giả bài thơ Gửi lời chào lớp Một đã có nhiều thông tin lẫn lộn – học sinh thuộc những năm 1970 cho biết bài thơ được phỏng theo một ca khúc Nga, học sinh từ năm 1981 đến nay hiểu là thơ của Hữu Tưởng.

Để giải quyết sự không rõ ràng này, chúng tôi Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Người làm sách cần phải tra cứu lại những bản sách trước sách Tập đọc năm 1981, xem lại bài thơ có giống như bài hát Nga đã nói không. Nếu có, cần phải chú thích lại cho rõ”.

Xuất xứ bài thơ theo tài liệu lâu nhất

Sau khi đọc bài viết “Gửi lời chào lớp Một: Thơ của ai?” (Tuổi Trẻ ngày 7/7/2015), ông Lê Khánh Hoài (bút danh Châu La Việt) đã nhận ngay ra đây là bản dịch của cha ông – nhà báo Lê Khánh Căn.

Tại Thư viện Quốc gia, ông Lê Khánh Hoài đã tìm thấy bản dịch truyện Ma-rút-xi-a đi học gồm hai tập do NXB Kim Đồng in năm 1959 với số lưu chiểu lần lượt là 6.379 và 6.511.

Ngay trang đầu tập truyện dịch (in lần đầu năm 1958), lời nhà xuất bản có ghi: “Xin giới thiệu với các em tập truyện Ma-rút-xi-a đi học của nhà văn Liên Xô E. Su-oác. Đây là một truyện rất quen biết của các em nhỏ Liên Xô, đã được quay thành phim lấy tên là Em nữ sinh lớp một… Lần tái bản này chúng tôi có lược bớt đi một số đoạn. Mong rằng sau này sẽ có dịp giới thiệu với các em toàn bộ cuốn truyện”.

Đáng chú ý là ở cuối tập hai của truyện có in toàn bộ bài thơ được dẫn dắt như sau:

“Toàn lớp hai “A” kéo ra đầy sân khấu. Các em hát: Lớp một ơi, lớp một!/Đón em vào năm trước;/Năm nay lên lớp hai,/Gửi lời chào tiến bước!/ Phấn, bảng, sổ gọi tên,/Theo chúng em cùng lên/Chúng em dần lớn mãi,/Bàn ghế cùng lớn thêm,/Chúng em chơi thân mật/Yêu thương cả mọi người,/Đứa bạn em yêu nhất/Cũng cùng lên lớp hai./Còn cô giáo thân mến/Cô sẽ xa chúng em?/Không, cô yêu chúng em/ Cô cũng lên lớp chứ./Thế là cùng vui vẻ,/Chúng em tiến bước đều,/Cùng cả trường cả lớp,/Cùng Tổ quốc thân yêu!…

Khánh Như trích dịch (theo bản Pháp văn Maroussia va à l’ecole của Nhà xuất bản Ngoại Văn Liên Xô)/ In 5.065c tại Nhà máy in Tiến Bộ – Hà Nội. Gửi lưu chiểu tháng 3-1959.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Khánh Hoài nói: “Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bố tôi làm bí thư Đoàn Trường Khải Định ở Huế, sau đó cùng với bác Trần Hoàn đi theo kháng chiến. Năm 1956, bác Tố Hữu cử ông sang làm Sở Báo chí trung ương. Năm 1957 ông về làm báo Nhân Dân với bút danh Hồng Chuyên. Với vốn tiếng Pháp của mình, ông đã dịch tập truyện Ma- rút- xi-a đi học do NXB Kim Đồng ấn hành.”

“Theo tôi nhớ, bản in lần đầu năm 1958 có ghi Lê Khánh Căn dịch. Đáng tiếc bản này tôi không tìm thấy nữa. Đến lần tái bản 1959, ông lấy tên con gái út mà ông yêu quý là Khánh Như để đặt bút danh. Đây là bản Thư viện Quốc gia còn lưu. Như vậy từ năm 1958-1959 đã có Ma-rút-xi-a đi học này rồi. Đến năm 1971, tập truyện tiếp tục được NXB Kim Đồng tái bản và dồn lại thành một tập”.

Về câu chuyện dư luận đang quan tâm, ông Khánh Hoài giải thích: “Theo như tôi tìm hiểu qua các bản in bài thơ Gửi lời chào lớp Một trong sách giáo khoa lớp 1, lần đầu tiên phần tác giả được ghi là Hữu Tưởng (theo quyển Ma- rút- xi-a đi học), lần in thứ hai chỉ đề là Theo Hữu Tưởng, lần ba chỉ còn Hữu Tưởng – lúc đó ông Hữu Tưởng đã mất rồi. Không hiểu sao lại ghi như vậy? Trong khi lẽ ra bài thơ này chính xác nhất phải viết là: “Dựa theo truyện Ma-rút-xi-a đi học của nhà văn Liên Xô E. Su-oác (Evgeny Shvarts – cũng là tác giả kịch bản bộ phim “Nữ sinh lớp một” – PV), bản dịch của Khánh Như, NXB Kim Đồng – 1959″.

Bản gốc bài hát

LỜI CHÀO LỚP MỘT

Đây là bài hát rút từ đoạn kết kịch bản phim “Nữ sinh lớp một” (Первоклассница – Режиссёр Илья Фрэз, Союздетфильм, 1948) của nhà văn, nhà soạn kịch Nga Evghenhi Lvovich Shvarts (Евгений Львович Швaрц, 1896 – 1958), tác giả của những truyện cổ tích tân biên nổi tiếng như “Phép lạ đời thường”, “Cái bóng”, “Lọ lem”, “Giết rồng”… Năm 1949, Shvarts công bố kịch bản “Nữ sinh lớp một” như một truyện vừa.

BigSchool: Như vậy, dưới bài thơ ở sách giáo khoa nên ghi: Dựa theo truyện “Ma-rút-xi-a đi học” của nhà văn Liên Xô Evgeny Shvarts – cũng là tác giả kịch bản bộ phim “Nữ sinh lớp một”. Vì ông Hữu Tưởng đã mất nên không hiểu ông đọc bản dịch của Khánh Như, NXB Kim Đồng – 1959 hay ông đọc thẳng bản tiếng Nga hay tiếng Pháp? Dù là cải biên hay phóng tác theo lời bài hát đã có, tác giả Hữu Tưởng vẫn đáng để chúng ta ghi nhận công của ông. Với những tác giả giáo khoa thì đây cũng là điều cần chú ý khi đưa các tác phẩm vào sách của mình.

Các bạn có thể xem và nghe bài hát này ở phần kết của video:

Nguồn: Báo Tuổi trẻ và FB của TS. Đỗ Hải Phong

Những Bài Thơ Viết Về Nỗi Nhớ Quê Hương Của Người Xa Xứ

Tuyển chọn những bài thơ hay nói về tâm trạng buồn của những người con xa nhà, xa xứ, xa quê hương.. Đó là những vần thơ thể hiện tâm trạng nhớ nhung về vùng đất mà ta đã từng sinh ra và lớn lên với biết bao kỷ niệm. Cũng chỉ vì cuộc sống, vì tương lai nên mới phải xa nơi “chôn nhau cắt rốn” này..

NỖI LÒNG XA XỨ

Thơ: Tùng Trần

Xót xa thay những phận đời đen bạc Vì mưu sinh phải lưu lạc xứ người Gắng dằn lòng mà lệ cứ tuôn rơi Thân cút côi nơi phương trời xa lạ

Nào oán than sao cuộc đời nghiệt ngã Chỉ tủi thân buồn bã phận bọt bèo Kiếp cơ hàn cứ quanh quẩn mang theo Nên cuộc đời chữ nghèo luôn đeo đuổi

Thân viễn xứ mấy ai nào tránh khỏi Ngày qua ngày mắt mòn mỏi đợi mong Như thuyền con theo nước chảy xuôi dòng Về quê hương sao bao ngày trông ngóng

Bước đi trên con đê dài ngã bóng Nghe chim chiều ríu rít dưới hoàn hôn Gió vi vu dịu mát tận tâm hồn Quên những ngày đôi chân chồn gót mỏi

Ai xa quê mà lòng không khắc khoải Lệ nhạt nhoà khi bóng tối vây quanh Nhưng chỉ vì cuộc sống phải mưu sinh Đành ngậm ngùi gởi thân nơi đất khách.

TÌNH THƠ VIỄN KHÁCH

Thơ: Nguyễn Hiếu

Lòng khắc khoải..nhớ đến quê da diết Kể từ ngày..ta cách biệt người thân Ngày và đêm..ta luôn mãi chuyên cần Dù gian khó..cũng chưa lần gục ngã

Vì cuộc sống..vợ con là tất cả Trả nợ tình..dù vất vả nệ chi Bước chân đi..rủ bỏ tuổi xuân thì Nơi đất khách..tâm khắc ghi từng chữ

Ai đã biết..của nỗi lòng lữ thứ Sống xứ người..luôn mãi giữ chữ nhân Kiếp tha hương..sớm tối cứ chuyên cần Bao cay đắng..cũng lần lần trôi mất

Đời viễn khách..với bao năm tất bật Chẳng hề phai..cái bản chất con người Mỏi mệt nhiều..mà môi vẫn cười tươi Cứ như thế..trên biển đời trôi nổi

Có mấy lúc..muốn cho mình được trội Cố vương lên..nhưng tự hỏi cách nào Biển đời nầy..nếu muốn được trèo cao Chân phải vững..vượt qua bao gian khó

Đành an phận..số ai người nấy có Hiểu thân mình..chỉ chừng đó mà thôi Sống yên vui..và quyết chẳng đua đòi Đời lữ thứ..sẽ đến hồi dừng lại..

NGƯỜI VIỄN KHÁCH

Thơ: Nguyễn Hiếu

Người viễn khách..ngày đêm vất vả Sống tha phương..đất lạ quê người Đôi lần khuôn mặt thiếu tươi Vì hoài bận rộn, nụ cười bỏ quên

Màn đêm lạnh..giăng trên đất khách Bình minh buồn..xoá sạch niềm vui Tha nhân chẳng dám ngủ vùi Mãi lo tìm kiếm, ngọt bùi cho con

Đôi khi thấy..mỏi mòn muốn nghỉ Rồi nhiều lần..ý chí lung lay Nhưng do phận số kiếp nầy Nào đâu than oán, cùng mây với trời

Chân vẫn bước..những nơi gian khó Tay vững chèo..sóng gió ngại chi Vượt qua giông bão xá gì Đời người lữ thứ, cứ đi đến cùng

Còn hơi thở..ung dung cứ tiến Lo gia đình..vĩnh viễn chẳng than Chỉ mong con trẻ thanh nhàn Thân dù có mệt, vẫn càn mà đi

Gian truân khổ nhọc lo gì Làm Cha là vậy, có chi phải rầu..

Trong trái tim những con người xa xứ Quê hương còn trăn trở những đêm mơ Hàng dừa xanh che mát khoảng trời thơ Làn khói bếp lửng lơ trên mái lá.

Quê hương ơi bao ngày xa xôi quá Nhớ thương từng gốc rạ với bờ tre Tiếng võng đưa kẽo kẹt những trưa hè Trên vòm lá nhạc ve ru rộn rã.

Giữa đồng xa có đàn cò bay lả Con trâu già gặm cỏ dưới triền đê Tiếng sáo diều hay khúc nhạc tình quê Nghe lắng đọng đê mê niềm mong nhớ.

Đêm trăng sáng gái trai làng gặt lúa Điệu hò khoan chan chứa giữa mênh mông Giọt sương đêm thấm đôi má ửng hồng Cô thôn nữ nghe lòng xao xuyến lạ.

Quê hương ơi dẫu đường đời muôn ngã Đêm tha phương lã chã lệ sầu vương Lòng mẹ hiền là lòng dạ quê hương Đang rộng mở yêu thương và chờ đợi.

QUÊ HƯƠNG CÒN MÃI TRONG TIM

Thơ: Diệp Ly

Trong trái tim những người con viễn xứ Gánh hành trang trĩu nặng chữ quê hương Dù xa xôi dù cách trở dặm trường Đêm trở giấc tình thương không phai nhạt.

Ký ức khơi những đêm trăng bàng bạc Hương ân tình ngào ngạt khắp không gian Mùi đất nồng mùi rạ mới tỏa lan Sương lay động bên đàng ai tát nước.

Vị phù sa đẫm hồn không quên được Con cua đồng lội ngược nước về sông Cánh cò chao giữa đồng rộng mênh mông Con đò nhỏ giữa dòng câu khoan nhặt.

Bóng quê hương trọn đời còn ghi khắc Lời mẹ ru dào dạt giữa trưa hè Con trâu nằm nhai cỏ cạnh bờ tre Cha cất giọng hò vè bên ruộng lúa.

Tình quê hương vẫn đong đầy muôn thuở Chẳng phụ ai dù ai nỡ phụ mình Vẫn đợi chờ từng bước nhỏ phiêu linh Về sưởi ấm ân tình qua dông bão.

Về đi anh một lần cho trọn đạo Để quê mình thôi sầu não chờ trông.

MÙA ĐÔNG XA XỨ

Thơ: Quốc Phương

Nơi quê nhà ..có lạnh lắm không em Anh nghe báo.. gió về thêm đợt mới Nếu có thể..lòng anh đây xin gởi Chút nắng hồng.. về với cả quê hương

Nơi quê nhà.. vẫn còn những vấn vương Anh nhớ mãi chúng tôi đêm trường giá lạnh Nơi ấy có.. dáng hình em mỏng mảnh Vẫn đợi chờ ..từng ánh nắng mùa đông

Nơi xa xôi.. anh chỉ có tấm lòng Gởi về em ..đỡ nhớ mong một thuở Ở nơi ấy.. có bao điều nhung nhớ Quê hương mình.. ở đó thật yêu thương.

LẠI MỘT MÙA THU VIỄN XỨ

Thơ: Nguyễn Hiếu

Thu cũng đã sắp về trên đất lạ Mỗi lá vàng thường mang cả niềm đau Chốn quê xưa cảnh sắc chẳng đậm màu Sao nhớ quá đến nát nhàu tâm khảm

Chiều Thu vắng áng mây vàng như thảm Khiến nỗi buồn như muốn chạm vào tim Lối xưa ơi sao cứ mãi đến tìm Làm đau nhói giống dao ghim vào thịt

Rồi những lúc khóm mây đen mù mịt Cơn mưa chiều như chăm chít lòng ai Khiến con tim rêm rĩ kéo thêm dài Làm vết cứa vẫn chưa phai màu nhớ

Chiều Thu ấy vẫn trong tim muôn thuở Nhớ thêm nhiều thì vết lở càng sâu Cố quên đi những giây phút u sầu Mà năm tháng mưa ngâu thời son trẻ

Tìm giây phút lặng yên cho tâm nhẹ Giữ phận mình cho sức khỏe bền lâu Sống an vui cho đến tuổi bạc đầu Quên đi hết những nỗi sầu bi thảm

Ngồi đây ngắm áng mây chiều ảm đạm Nên chạnh lòng và chạm đến hồn thơ Nhớ chuyện xưa theo ta mãi từng giờ Mùa Thu hỡi sao ngẩn ngơ trôi biệt.

NỖI LÒNG NGƯỜI VIỄN KHÁCH

Thơ: Nguyễn Hiếu

Năm tháng rộng sống nơi miền đất lạ Mỗi ngày qua thường gói cả tâm tư Có những khi thần trí cũng mệt nhừ Rồi lại nghĩ chuyện thật hư thuở trước

Trong thực tế đã bao người hiểu được Nơi xứ người cũng vẫn ước điều may Vẫn mơ hoang trong cuộc sống mỗi ngày Cũng khao khát nhìn mây bay lúc sáng

Luôn cố gắng cho con thơ chói rạng Đừng như mình cứ cày hãng mỗi đêm Để vợ con hay đợi ngóng bên thềm Vào những lúc trời đổ thêm tuyết lớn

Bao kẻ nghĩ tánh tôi hay nói giỡn Nhưng thiệt tình chẳng đùa cỡn gì đâu Lắm khi vui cũng đôi lúc héo sầu Vì cuộc sống luôn có câu hư, thật

Người Viễn xứ ai chẳng mơ vật chất Nhưng phải cày và cũng thật là chăm Muốn tương lai đẹp như ánh trăng rằm Luôn chịu khó với hàng trăm vất vả

Nay mới thấu sống ở bên xứ lạ Không gì bằng vốc tất cả bình sinh Để ngày sau ngó lại bản thân mình Đừng hối tiếc những lộ trình đã trải

Thân viễn xứ nào có chi quản ngại Lo gia đình và con cái thành nhân.

THU THA HƯƠNG

Thơ: Nguyễn Hưng

Ôi mùa thu trong hồn người lữ thứ Trĩu bàn chân viễn xứ đến nao lòng Vọng cố hương biền biệt cánh nhạn mong Đâu một thuở bên dòng sông ký ức ?

Lá vàng rơi ngập từng đêm thao thức Khúc Tiêu Tương nức nở ánh trăng tàn Lả cung sầu tiếng dế khóc than van Đầy tâm tưởng gió ngàn thêm giá buốt.

Bao tủi hận vẫn nghẹn ngào cố nuốt Thu hoang liêu trên suốt tháng năm dài Màu kỷ niệm đã nhuốm ánh vàng phai Nơi bến cũ có ai còn ngóng đợi ?

Đây nỗi niềm trong lòng ta vời vợi Thời gian trôi đâu đợi khách ngập ngừng Kìa sỏi đá mà sao thấy rưng rưng Ngỡ mộng lòng đã ngưng thành giọt lệ.

Nơi đô thành như tựa miền hoang phế Ngẫm cũng vì dâu bể bước chân đi Bao nhiêu năm giờ có được những gì ? Bao phù hoa cũng chỉ là gió thoảng.

Thu đâu chỉ mùa lá vàng lãng đãng Khi hồn ta quá vãng một thuở xưa Nơi tha hương buồn đếm mấy cho vừa Sầu giăng lối… đường thưa đầy lá trút.

Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Nhớ những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được… Chưa đánh roi nào đã khóc Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích…

Cách mạng bùng lên Rồi kháng chiến trường kỳ Quê tôi đầy bóng giặc Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)! Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời… Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

Hòa bình tôi trở về đây Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày Lại gặp em Thẹn thùng nép sau cánh cửa Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ – Chuyện chồng con… (khó nói lắm anh ơi)! Tôi nắm bàn tay, ngậm ngùi, nhỏ nhắn Em để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật Giặc bắn em rồi quăng mất xác Chỉ vì em là du kích em ơi! Đau xé lòng anh chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi

***

Когато бях дете и ходех на училище, обиквах родната страна със всяка страница на детската ми книга. Там пишеше : “Кой казва, че е трудно да пасеш биволи в гората, на полето ?” И закопнях за песните на птиците в гората. . . Понявга майка ме улавяше, когато край блатото подгонех пеперуда, вместо да ида в клас. Да бяхте чули как жално плачех, преди да са ме още били ! Едно момиченце в съседната ни къща ме гледаше и дяволито се усмихваше.

Покриха вражи сенки моята страна. Сбогувах се със майка и заминах. И, представете си, съседското момиче и то поело в горските усои. Веднъж случайно я видях по пътя. Тя пак тъй дяволито се усмихна, очите й блестяха черно-черни. Защо така привличаха очите й ? Не разменихме дума : аз бях в строй, но се обръщах дълго, много дълго. Над нас валеше. В мен блестеше слънце.

Мирът настъпи. Върнах се във къщи, в училище, в оризището при браздите. И пак видях съседката ни млада, която криеше главица зад пердето. Тя се усмихваше – потайна, дяволита. Когато я запитах един ден дали сърцето й все е свободно, “Въпросът ти е, знаеш, неудобен. . .” отвърна и главата си наведе. Цял разтреперан, пълнен с бяла нежност, аз хванах тънките й пръсти. Тя ги остави да почиват в ръцете ми горещи.

И връхлетя внезапно новината – така ужасна, че не смея да повярвам : Убили са те, сестро, о, любима ! Захвърлили те нейде във гората. Защо ли ? През войната ти си си била – ето твоя грях. Сърцето ми раздират остри пръсти. Не зная, жив ли съм, или съм вече прах. . .

Като дете обичах родната страна за птиците и пеперудите й. С тях ходех на училище в гората. Обичам днес страната си, защото всяка нейна шепа пръст съдържа малко от кръвта на моята любима.

Превел Стефан Гечев

– Bài thơ làm trong một giờ.

“Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

Nhà thơ Giang Nam

Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.

Tạo cảm hứng cho một đời

Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

Nguyễn Quang Sáng, Hoài Vũ, Giang Nam, Chim Trắng ở chiến trường Tây Ninh (năm 1974).

Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.