Top 2 # Xem Nhiều Nhất Xuất Xứ Của Bài Thơ Cảnh Ngày Hè Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Tìm Xuất Xứ Bài Thơ ‘Cảnh Khuya’ Của Bác Hồ

Tìm xuất xứ bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ

(VH&ĐS) Tháng 12/2013, trở lại các tỉnh Việt Bắc để xác minh một số tài liệu và thu thập thêm tư liệu về Bác Hồ thời kỳ Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và thời kỳ Bác trở lại chiến khu Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Người ngồi đó với cây chì đỏ – vạch đường đi từng bước, từng giờ (thơ Tố Hữu).

Đến Việt Bắc không thể không đến ATK Định Hoá. Và, đến ATK Định Hoá, không thể không đến đồi Khau Tý – một di tích lịch sử văn hoá được bảo tồn nguyên vẹn. Mỗi lần đến là một lần xúc động.

Trên đường lên Chiến khu Việt Bắc (ATK) Bác Hồ và những đồng chí cùng đi đã đến xã Điểm Mặc, huyện Định Hóa ngày 20/5/1947, đúng như dự định. Tại đây những ngày đầu Bác ở bản Quyên, nhà Chủ tịch xã Ma Đình Trường, sau đó chuyển lên ở lán trên đồi Khau Tý, thôn Nà Tra. Đồi Khau Tý, tiếng địa phương gọi là đồi Cây Thị. Lán được dựng theo đúng với kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc Định Hóa, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, vách dựng bằng liếp nứa. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng (được Bác Hồ đặt tên trong số 8 đồng chí) kể trong cuốn Những năm tháng bên Bác “Chúng tôi làm riêng cho Bác một cái “lầu”. Tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí ẩm thấp của núi rừng. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải sang trái vừa chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ”.

Định Hóa được chọn làm trung tâm ATK vì đây là vùng địa hình núi non hiểm trở, địch không thể dùng xe cơ giới tấn công, mà ta thì lại sẵn các đường nhỏ xuyên rừng nối liền với các vùng Tây Bắc, vùng trung du, vùng đồng bằng. Năm 1906, nhà chí sĩ ái quốc Phan Bội Châu đã từ Quảng Châu (Trung Quốc) tìm về Định Hóa khảo sát, định xây dựng vùng này thành căn cứ địa chống Pháp.

Thu Đông 1947, thực dân Pháp tập trung binh lực, huy động hơn một vạn quân tinh nhuệ gồm cả Hải, Lục, Không quân mở một đợt tấn công quy mô, chia hai gọng kìm khép chặt Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Trong vòng vây trùng điệp bốn bề của địch, Bác và Trung ương chỉ đạo sáng suốt các cơ quan và đơn vị bộ đội di chuyển và thực hiện phương châm vừa đánh vừa tránh địch ở các địa bàn Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang.

Một tối cuối thu đầu đông, Bác cho mời đồng chí Ma Đình Kháng – Chủ tịch huyện Định Hóa đến lán Bác ở. Hai Bác cháu chuyện trò trong lán dưới tán lá cổ thụ giữa những khóm hoa rừng, xa xa tiếng suối đổ đều đều từ phía chân đồi vọng lại. Bác hỏi đồng chí Kháng về việc vạch kế hoạch tác chiến của huyện khi địch đánh tới đây thì thế nào và Bác sẽ chuyển đi đâu. Đồng chí Kháng báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ, chi tiết về kế hoạch đã được chuẩn bị chu đáo. Tận khuya, dưới ánh trăng vàng, Bác tiễn đồng chí Kháng ra về, trở lại giữa rừng khuya trăng sáng, vẻ trầm ngâm, hứng thơ đến với Bác.

Luật sư Phan Anh cũng cho biết: Trong những ngày cực kỳ gay go, khó khăn của những tháng, năm đầu ở Việt Bắc, Bác đã phân tích và chỉ rõ những thuận lợi và những khó khăn của ta và địch. Bác phán đoán những hoạt động của các cánh quân của Pháp, Bác vẽ trên đất về đường tiến, đường lui của địch và của ta và giảng giải cặn kẽ: Chúng bao vây ta với thế gọng kìm ta phải luồn ra ngoài gọng kìm ấy để không mắc vào tròng của chúng. Khi địch rút lui ta lại về chỗ cũ. Luật sư cũng kể lại: chính trong những ngày gay go ấy, sau hôm gặp Bác ở Tràng Xá, ông nhận được thư của Bác, kèm theo một đoạn thơ:

Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, gió lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đang gặp lúc gay go

Trăm việc ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ anh em nên gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to.

Từ sự kiện Bác trò chuyện với đồng chí Ma Đình Kháng và lời kể của luật sư Phan Anh cho ta biết được hoàn cảnh để có 10 câu thơ trên, giúp ta hiểu thêm Bác và thơ Bác. Mặc dù trong những giờ phút đương gặp lúc gay go với lo nỗi nước nhà, Bác vẫn có lúc quan hoài, vẫn có thơ, vẫn có nụ cười dí dỏm Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần.

Luật sư Phan Anh rất cảm động và xúc động khi đọc những câu thơ của Bác nên đã ứng tác họa vần:

Họa vần xin gửi cho ai

Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa

Trời có trăng và núi có hoa

Trăng sáng bao la trời đất nước

Hoa thơm phảng phất vị hương nhà

Nước nhà đang gặp bước gay go

Lái vững chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió

Thuận chiều, ta mở cánh buồm to.

Sau này, năm 1967 Nxb Văn học làm sách Thơ – Hồ Chủ tịch, những người biên tập chỉ đưa bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Ở câu thứ hai của bài thơ bốn câu này chữ gió được thay bằng chữ bóng.

Quả là bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya diễn đạt trọn vẹn một tứ thơ hay, độc đáo, bất ngờ. Có thể nói được rằng, bốn câu thơ trên hoàn toàn đủ các yếu tố, thành phần của một bài thơ tứ tuyệt hoàn chỉnh, hiểu và cảm nó trọn vẹn như những bài thơ tứ tuyệt khác vậy. Bài thơ Cảnh khuya giúp ta hiểu rõ vì sao đêm khuya Bác chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, đồng thời hé mở một tâm hồn lớn, một bản lĩnh thi nhân tràn đầy sức sống và nhạy cảm trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Dù bề bộn đến đâu, trong lúc lo chăm công nghìn việc cho kháng chiến, cho dân, cho nước, Người vẫn dành một khoảng tâm hồn mình cho thiên nhiên thơ mộng cho trăng cho hoa – tâm hồn thi nhân của Người lúc nào cũng rộng mở vẫn không hề quên những việc nước, việc dân. Những cái mâu thuẫn tưởng như đối ngược lại thống nhất trong con người Bác, thật là kỳ diệu. Bài thơ đã đi vào các thế hệ bạn đọc và ở lại trong lòng bạn đọc cùng với thời gian năm tháng.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, Tấm quan hoài nước non của Bác là từ lán Bác ở và làm việc trên đồi Khau Tý. Đồi này, lán này vẫn được lưu giữ. Ai đã từng đặt chân đến lán Khau Tý không thể không ngước nhìn cây đa cổ thụ cao to xum xuê cành lá giữa những khóm hoa rừng không thể không xúc động nhất là khi nhìn cây dâm bụt Bác trồng từ năm 1947 vẫn xanh tươi, tràn trề sức sống. Trong tĩnh lặng, xa xa dưới chân đồi Khau Tý, dòng suối Nà Tra róc rách, róc rách chảy như tiếng hát xa. Nhà văn Hoàng Quảng Uyên khi đến thăm nơi này, đã rất xúc động, cảm xúc dâng trào, đột xuất có một mong muốn, một đề xuất: “Sáu mươi năm rồi, quá khứ hiện tại đan dệt. Trong mối liên tưởng đa chiều chợt dâng ước muốn nho nhỏ – giá chi dựng ở nơi đây một tấm bia đề bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ làm gần lại khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và mơ, để du khách đến đây sẽ không chỉ được thăm nơi đầu tiên Bác Hồ ở khi trở lại chiến khu Việt Bắc mà còn thăm nơi đầu tiên của nhà thơ Hồ Chí Minh, nơi nhà thơ sáng tác bài Cảnh khuya trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, thả hồn ngẫm ngợi trong sự hòa quyện giữa lịch sử và thơ. Sáng trong và linh thiêng”(1).

Lê Xuân Đức

(1) Báo Văn nghệ số 03 ngày 20-1-2007.

Bài Thơ “Cảnh Ngày Hè” Của Nguyễn Trãi

I. Mở bài

Nguyễn Trãi – anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, là người có những đóng góp rất lớn đối với lịch sử văn hoá, văn học, đặc biệt là đóng góp về thơ văn. Nguyễn Trãi để lại nhiều bài thơ Nôm có giá trị. Thơ của ông thể hiện một tấm lòng suốt đời vì dân vì nước, một nhân cách cao đẹp, một tâm hồn trong sáng, luôn dành cho con người và thiên nhiên một tình cảm tha thiết. Thơ của Nguyễn Trãi còn là nỗi niềm tâm sự của một con người tài năng, đức độ, hết lòng vì nước vì dân và  luôn trĩu nặng tình đời. “Cảnh ngày hè” nằm trong tập thơ “Quốc âm thi tập” là một bài thơ như thế.

II. Thân bài

Khái quát

Quốc âm thi tập có một cấu trúc chỉnh thể với 4 phần. Trong đó phần vô đề gồm toàn bộ những bài thơ không có tựa đề, được chia thành các nhóm : ngôn chí, mạn thuật, trần tình, thuật hứng, tự thán, bảo kính cảnh giới… Chùm thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) có 61 bài. Những vần thơ trong Bảo kính cảnh giới, nhất là bài 43 luyến láy du dương, có chút vui điểm vào cuộc đời đầy u uất của thi nhân Nguyễn Trãi. Bài thơ viết bằng chữ Nôm, thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, câu thất ngôn xen lục ngôn, diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên và niềm khát khao cao đẹp của nhà thơ.

2. Phân tích câu 1

Được tổ chức theo kiểu một bài thất ngôn bát cú nhưng bài thơ lại mở đầu bằng một câu thơ thất luật, ngắt nhịp tự do, tự nhiên như lời nói thường ngày :

Rồi/ hóng mát/ thuở ngày trường

Khởi hứng bằng một tâm thế của một con người an nhàn hưởng thụ (thiên nhiên). Bài thơ có lẽ được làm trong một lần Nguyễn Trãi về ở Côn Sơn. Rũ sạch bụi lầm của chốn phồn hoa đô hội, con người đến với thiên nhiên tự do, tự tại, giản dị không gò ép. Phải chăng, vì thế mà câu thơ cũng vuột ra khỏi cái khuôn khổ của thơ luật để giản dị, nhẹ nhàng như chính con người và cuộc sống chốn sơn lâm. Từ rồi (có bản chép là rỗi) kết hợp với ngày trường cộng hưởng với nhịp thơ kéo giãn thời gian của một ngày. Cảm giác thư thái cũng theo đó mà ngân nga.

3. Phân tích câu 2,3,4

Nguyễn Trãi không phải người không biết giới hạn. Có nhiều lần ông đã bày tỏ ý nguyện “công thành thân thoái”. Nếu phải viện đến lí do thì có lẽ nhiều người sẽ nghĩ đến sự gắn bó rất chân thành của tác giả với thiên nhiên. Những bức tranh thiên nhiên mà tác giả đã say sưa nét vẽ như ở trong bài thơ này đã chứng tỏ một điều cuộc sống đâu phải cứ giàu có thì sang trọng :

Hoè lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Tán hòe tỏa bóng mát, che rợp sân, ngõ, vườn nhà, “giương” lên như chiếc ô, chiếc lọng căng tròn. Mỗi từ ngữ là một nét vẽ màu sắc tạo hình gởi tả sức sống của cảnh vật đồng quê trong những ngày hè: lục, đùn đùn, tán, rợp giương. Ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và hình tượng. Cây hòe vốn được trồng nhiều ở làng quê: vừa làm cảnh, vừa cho bóng mát. Hòe nở hoa vào mùa hè, màu vàng, làm dược liệu, làm chè giải nhiệt. Trong văn học, cây hòe thường gắn liền với điển tích “giấc hòe” (giấc mộng đẹp), “sân hòe” (chỉ nơi cha mẹ ở ). Truyện Kiều có câu: “Sân hòe đôi chút thơ ngây – Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình”.

Câu 3 nói về khóm thạch lựu ở hiên nhà trổ hoa rực rỡ: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”. Thức tiếng cổ chỉ màu vẻ, dáng vẻ. Trong cành lá xanh biếc, những đóa hoa lựu như chiếc đèn lồng bé tí phóng ra, chiếu ra, “phun” ra những tia lửa đỏ chói, đỏ rực. Chữ “phun” được dùng rất hình tượng và thần tình.“Truyện Kiều” cũng có câu: “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Từ hoa lựu “phun thức đỏ”, đến hình ảnh “đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” là cả một quá trình sáng tạo ngôn ngữ thi ca của các thế hệ thi sĩ dân tộc qua 5 thế kỷ từ “Quốc âm thi tập” đến “Truyện Kiều”. Vẻ đẹp ngôn ngữ thi ca được trau chuốt như ngọc quý sẽ ánh lên màu sắc huyền diệu là như thế đó!

Câu 4 nói về sen: “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. “Tiễn” là ngát (tiếng cổ). Sen hồng nở thắm ao làng, hương thơm tỏa ngát. Sen là biểu tượng cho cảnh sắc mùa hè làng quê ta. Sen trong ao làng đã “tiễn mùi hương” gợi không cảnh làng quê thanh bình, không khí thanh cao thoát tục. Nguyễn Trãi đã chọn hòe, thạch lựu, sen hồng (hồng liên) để tả và đưa vào thơ. Cảnh sắc ấy đẹp và bình dị. Nhà thơ đã gắn tâm hồn mình với cảnh vật mùa hè bằng một tình quê đẹp và cảm nhận vẻ đẹp của nó bằng nhiều giác quan.

4. Phân tích câu 5,6

Hè rất đẹp, rộn ràng trong khúc nhạc làng quê. Ngoài tiếng cuốc, tiếng chim tu hú, tiếng sáo diều còn có tiếng ve, tiếng cười nói “lao xao” của đời thường:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Sau khi tả hòe màu “lục”, lựu “phun thức đỏ”, sen hồng đã “tiễn mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng quê. Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân dã đầy muối mặn và mồ hôi. Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp. Hòa điệu với tiếng lao xao chợ cá là tiếng ve vang lên rộn rã, nhịp nhàng. “Cầm ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm. “Dắng dỏi” nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng, ngân dài vang xa. Ngôi lầu buổi xế chiều trở nên náo động rộn ràng. Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dương) là một nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè nơi thôn dã

5. Phân tích câu 7,8

Trở về “Côn sơn quê cũ” Ức Trai đã từng bồi hồi “trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn”, giờ đây ông lại thả hồn mình trong khúc ca dân dã “cầm ve” buổi chiều tà cuối hè. Tiếng ve lúc hoàng hôn thường gợi nhiều bâng khuâng, vì ngày tàn, màn đêm đang dần dần buông xuống. Nhưng với Ức Trai, nó đã trở thành “cầm ve” nhặt khoan trầm bổng, dắng dỏi vang xa, làm cho khung cảnh làng quê một buổi chiều tà bỗng rộn lên bao niềm vui cuộc đời. Làm theo thể thất ngôn bát cú nhưng kết cấu đề, thực, luận, kết xem ra không phải là lựa chọn hợp lí để tiếp cận bài thơ này. Bài thơ có thể được chia theo bố cục 6/2. Trên là vẻ đẹp của thiên nhiên và âm thanh cuộc sống, dưới là ước vọng của nhà thơ :

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương.

Ở đây, tác giả đã mượn điển tích để nói lên khát vọng của mình. Câu thơ cuối sáu chữ ngắn gọn, nhịp 3/3 thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài – tác giả khát khao đem tài trí thực hành tư tưởng yêu nước, thương dân, và đó cũng chính là tưởng chủ đạo của bài thơ. Tuy tác giả đón nhận cảnh ngày hè với tư thế ung dung trong một ngày nhàn rỗi nhưng ông vẫn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Cảm nhận cảnh ngày hè nhưng tác giả vẫn quan tâm tới cuộc sống của nhân dân. Thế nên ông nghe thấy âm thanh tấp nập, lao xao của làng chài. Ông quan tâm tới nhân dân, lo cho dân cho nước. Chính vì vậy, ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn. Với cây đàn đó, Nguyễn Trãi có thể mang tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước. Không có một lòng yêu quê hương, đất nước sâu đậm, ông không thể có một ước muốn như vậy. Không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể cảm nhận được hết vẻ đẹp mùa hè nơi một làng chài quê hương thanh bình. Và, không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể viết nên bài thơ “ Cảnh ngày hè” làm xúc động lòng người như vậy.

Câu thơ cuối cùng tương ứng với câu đầu, vượt ra khỏi luật Đường. Nhịp thơ 3/3 ngắn gọn, dứt khoát, thể hiện ước vọng chân thành của Nguyễn Trãi, mong sao ở mọi nơi, cuộc sống thanh bình no ấm sẽ đến với mọi người.

Câu nói của người xưa “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ) thật hợp với cuộc đời Nguyễn Trãi. Một cuộc đời trọn tình, vẹn nghĩa với nước với dân.

6. Nhận xét về nghệ thuật

Bài thơ thành công ở nghệ thuật sử dụng từ ngữ: Miêu tả cảnh ngày hè, tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, từ láy giàu sức gợi hình tượng và gợi cảm như đùn đùn, giương, phun, đỏ, tiễn, lao xao, dắng dỏi. Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động. Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhận cảnh ngày hè của nhà thơ bộc lộ rõ tình yêu sự sống sinh sôi, cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người. Nhịp điệu và tiết tấu bài thơ giàu sức gợi tả: Bức tranh ngày hè sinh động không những được gợi tả bằng hình ảnh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của sự vật mà còn thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu. Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 – 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất ngôn bát cú. Nhưng bài thơ có một số điểm khác so với thất ngôn bát cú Đường luật : Câu 1 và câu 8 chỉ có sáu chữ nên chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 và câu 7 thành liên như thể thơ Đường luật. Bài thơ còn đa dạng hơn về nhịp điệu : Câu 1 : 1 / 2 / 3; Câu 2 : 4 / 3; Câu 3 : 3 / 4; Câu 4 : 3 / 4; Câu 5 : 2 / 2 / 3; Câu 6 : 2 / 2 / 3; Câu 7 : 3 / 4; Câu 8 : 3 / 3. Mạch cảm xúc của bài thơ: từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn .

III. Kết bài

Có thể thấy cảnh và tình trong bài thơ được kết hợp thật  hài hoà. Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ. Cảnh gợi cảm xúc, cảm xúc chi phối cái nhìn và tái hiện cảnh vật. Bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết và tấm lòng yêu nước thương dân của Ức Trai. Đó chính là lí tưởng nhân nghĩa cao đẹp trong cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi.

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Cảnh Ngày Hè

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Cảnh Ngày Hè

Cảm nhận của em về bài thơ Cảnh Ngày Hè – Thiên nhiên luôn là khởi nguồn cảm xúc bất tận trong các thi nhân. Và nhà thơ Nguyễn Trãi cũng không nằm ngoài số đó. Ông đã có một bài thơ rất nổi tiếng đó làbài Cảnh ngày hè. Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bài số 43 trong trùm thơ Bảo kính Cảnh giới của Quốc âm thi tập. Bài thơ Cảnh ngày hè đã cho ta thấy được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và tấm lòng yêu nước thương dân của tác giả.

Câu thơ đầu tiên Nguyễn Trãi đã viết:

Rồi hóng mát, thưở ngày trường

Từ câu thơ này đã cho ta thấy được hình ảnh của thi nhân lúc này. Với một bậc khai quốc công thần luôn có gắng tận trung, tận lực giúp vua, giúp nước; với một người thân không nhàn mà tâm cũng không nhàn như Nguyễn Trãi thì khoảng thời gian ” ngày trường” rỗi rãi đúng là khoảng thời gian đặc biệt hiếm hoi, đáng quý. Đây cũng là hoàn cảnh lí tưởng để nhà thơ đến với thiên nhiên và yêu say cảnh đẹp.

Hòe lục đùn đùn, tán rợp trương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

Nếu như những nhà thơ xưa khi miêu tả mùa thường chú ý tới tả cảnh hình sắc, như Nguyễn Du từng có một câu thơ tả về mùa hè như: “Dưới trăng quyên đã gọi hè – Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”. Thì Nguyễn Trãi lại khác, ông không chỉ miêu tả mùa hè qua cảnh sắc mà đồng thời qua từng cảnh sắc đó lại miêu tả rõ rệt sức sống của mùa hè. Tác giả gợi tả những hình ảnh rất đặc trưng của mùa hè như: Hoa thạch lựu, tán hòe xanh, hương sen thơm ngát. Nhà thơ cảm nhận không gian mùa hè bằng cả thị giác và khứu giác. Qua từng hình ảnh ta còn có thể cảm nhận được bước di chuyển của mùa hè. Bên cạnh đó, cảnh vật còn có sự kết hợp hài hòa giữa đường nét, màu sắc, hương thơm và trạng thái: màu lục của lá hòe làm nổi bật màu đỏ của hoa thạch lựu, ánh mặt trời buổi chiều như rắc vàng lên những tán lá hòe, hương sen thơm ngát bao trùm cảnh vật. Sự vật dường như cũng mang theo một nội lực, một sức sống mạnh mẽ, căng trào, muốn bứt phá để trổ dáng, khoe sắc, tỏa hương. Động từ “đùn đùn, phun, tiễn” khiến cho mọi vật như đang di chuyển làm nên không khí của ngày hè nhộn nhịp, tươi vui. Không chỉ vậy nhà thơ còn cảm nhận mùa hè qua cuộc sống của người dân làng chài:

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

Đây chính là bức tranh về cuộc sống cuối ngày của con người đã được thi nhân thâu tóm lại. Ngày gần hết nhưng cuộc sống của con người vẫn chưa dừng lại, không mang cảm giác ảm đạm mà ngược lại còn vui tươi, hối hả. Nghệ thuật đảo ngữ: “lao xao chợ cá”, “dắng dỏi cầm ve” đã giúp nhấn mạnh không khí nhộn nhịp của chiều hè nơi làng chài. Tiếng người mua kẻ bán lao xao văng vẳng đến từ chợ cá làng chài, tiếng ve “dắng dỏi” như tiếng đàn vang dội, râm ran khiến cho không khí trong lầu rộn rã. Sức sống của thiên nhiên như hòa chung với sức sống của con người. Qua cảm nhận của tác giả, bức tranh thiên nhiên ngày hè hiện lên thật sống động. Nó có sự hài hòa giữa đường nét và màu sắc, âm thanh. Hài hòa giữa cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống của con người. Cảnh được đón nhận từ gần đến xa, từ cao đến thấp. Cấu trúc ý tứ thơ đăng đối vô cùng hài hòa. Trong bài Tự thán 4, Nguyễn Trãi tự nhận: “Non nước cùng ta đà có duyên”, thi nhân đến với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh: thời chiến, thời bình, lúc buồn, lúc vui, lúc bận rộn, khi thư nhàn. Nguyễn Trãi luôn căng mở mọi giác quan, rộng mở tâm hồn đề đón nhận mọi vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người.

Bài thơ không chỉ đơn thuần miêu tả về khung cảnh thiên nhiên, con người trong tiết trời mùa hè mà đó còn là những tâm tư, nỗi lòng mong muốn của nhà thơ dành cho nhân dân. Hai câu kết của bài chính là tấm lòng yêu thương nhân dân của ông. Như chúng ta đều biết Nguyễn Trãi là một người thân không nhàn mà tâm cũng không nhàn. Ngay trong chính lúc nghỉ ngơi ông cũng không ngừng suy nghĩ lo cho dân, vì dân:

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ, khắp đòi phương.

Đó là một ước mong, khát vọng cao đẹp về một cuộc sống thái bình, hạnh phúc, ấm no cho muôn dân. Câu thơ cuối tuy chỉ có 6 tiếng ngắn gọn nhưng lại là câu thơ dồn nén cảm xúc của cả bài. Tứ thơ vận động từ bức tranh thiên nhiên đến bức tranh cuộc sống của con người rồi kết tụ lại ở khát vọng của nhà thơ. Qua khát vọng này ta nhận thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi đó chính là tư tưởng nhân nghĩa – điểm kết tụ của hồn thơ Ức Trai – là lí tưởng hoài bão một đời ôm ấp, canh cánh bên lòng của Nguyễn Trãi.

Bài thơ Cảnh ngày hè với ngôn ngữ giản dị nhưng lại giàu sức biểu cảm, hình ảnh thơ gần gũi đã ghi dấu ấn trong lòng người đọc. Qua bài thơ này ta càng thêm yêu quý và cảm phục tâm hồn của nhà thơ Nguyễn Trãi.

Họa Tâm

Từ khóa tìm kiếm:

cảm nhận bài thơ cảnh ngày hè

cam nhan bài thơ cảnh ngày hè

cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên con người cảnh ngày hè

cảm nhận về bài thơ cảnh ngày hè

cảm của em về bài thơ cảnh ngày hè

Cảm nhận của em về bài thơ cảnh ngày hè

Cảm Nhận Bài Thơ Cảnh Ngày Hè

Đề bài: Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè.

Cảm nhận bài thơ Cảnh Ngày Hè – Nguyễn Trãi là một nhà thơ lớn không chỉ của riêng văn học trung đại mà còn cả nền văn học Việt Nam. Ông đã để lại rất nhiều bài thơ hay và giá trị. Một trong số đó chính là bài thơ Cảnh Ngày Hè.

Bài thơ được trích trong tập thơ chữ Nôm Quốc âm thi tập. Tập thơ gồm 254 bài thơ và bài thơ Cảnh Ngày Hè là bài số 43 chứa chan những khát vọng hướng đến cuộc đời, nhân dân. Bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian Nguyễn Trãi về ở ẩn tại Côn Sơn. Là bức tranh mùa hè của miền qua và đồng thời nói lên tâm trạng, giãi bày nỗi niềm, tâm sự của chính tác giả. Điều này được thể hiện ở ngay câu thơ đầu:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Vì tâm hồn còn vướng bận nên Nguyễn Trãi quan niệm trở về với thiên nhiên là cách tốt nhất để thanh lọc tâm hồn:

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Có thể nói cảnh ngày hè trong con mắt của nhà thơ trở nên rực rỡ, nhiều hình ảnh, nhiều màu sắc. Qua tâm hồn, tình cảm của ông thì nó trở nên đầy sức sống trái ngược với chốn quan trường thiếu sinh khí. Câu thơ mặc dù miêu tả cảnh nhưng trong cảnh lại có sự vận động của cảnh vật. Điều này được thể hiện qua những từ như: “Đùn đùn”, “phun”, “tiễn”. Có thể thấy sức sống của cảnh vật như trỗi dậy, từ những cảnh vật không thể di chuyển được nhưng lại có sự vận động và được miêu tả một cách tinh tế đem lại nhiều xúc cảm cho người đọc. Cây hòe thì những tán lá “đùn đùn” lan rộng, tỏa bóng mát cho những ngày hè nắng chói chang. Rồi những cây thạc lựu “phun” thức đỏ. Đây là một loài cây không thể không nhắc đến vào những ngày hè, một trong những loại cây tượng trưng cho mùa hè. Màu đỏ của thạch lựu như hòa chung với nắng hè khiến nó càng trở nên chói chang, gay gắt với cùng tông màu nóng. Bên cạnh đó khi nói về làng quê, nói về tâm hồn thanh thản không thể không nhắc tới một loài hoa, đó chính là hoa sen. Nguyễn Trãi đã sử dụng tên gọi cổ của loài sen đó chính là “hồng liên”, ở đây sen không chỉ có một bông mà đó là cả một ao sen. Mùa hè là mùa sen nở chính vì thế “tiễn” không phải là sự chia ly, tiễn biệt mà ngụ ý để nói hương thơm ngào ngạt của sen đang lan tỏa khắp không gian, bay theo từng cơn gió mùa hạ trên hồ. Tất cả hội tụ lại như một khung cảnh rộng lớn của một khu vườn nào đó, có ao, có cây muôn màu muôn vẻ dưới con mắt của một thi sĩ đa sầu, đa cảm.

Không chỉ cảm nhận cảnh vật bằng thị giác mà Nguyễn Trãi còn cảm nhận bằng thính giác qua việc lắng nghe những âm thanh của thiên nhiên:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Có thể thấy thiên nhiên không hề tĩnh lặng, hoang sơ mà thậm chí rất sôi động. Hình ảnh “chợ” được nhắc đến như một hình ảnh biểu trưng cho cuộc sống thái bình nơi thôn dã. Những chợ phiên họp để phục vụ nhu cầu cho người dân, chợ càng đông vui thì chứng tỏ đất nước càng thái bình, dân ấm no mà trái lại nếu chợ tiêu điều hoang vắng nghĩa là đất nước có chiến loạn hoặc nhân dân nghèo khổ. Tiếng ve là dặc trưng của mùa hè, gắn với “lầu tịch dương” giống như một bản nhạc mạnh mẽ, rạo rực vào buổi chiều tà. Qua đó cho thấy thiên nhiên trở nên sống động mà bản thân Nguyễn Trãi cũng đang háo hức muốn hòa cùng với thiên nhiên ấy.

Mặc dù lánh đời, mặc dù có những rung động trước thiên nhiên, cảnh vật nhưng trong thâm tâm ông vẫn giữ những mong mỏi lớn lao vẫn còn dở dang:

“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”

Nguyễn Trãi có sử dụng đến điển tích, điển cố về vua Nghiêu, vua Thuấn, thời đại thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có khúc đàn “Nam Phong” gảy lên ngợi ca sự giàu đủ, ấm no của nhân dân. Cho nên nhà thơ mới mượn nó để mong sao nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Bài thơ Cảnh Ngày Hè không chỉ khắc hoạn nét đẹp, vui tươi và sinh động của thiên nhiên trong ngày hè mà còn nói lên nỗi niềm, sự khắc khoải của Nguyễn Trãi. Mặc dù đã về chốn thôn dã ở ẩn, lánh đời nhưng vẫn canh cánh nỗi lo cho nhân dân,

Mai Du