Top 8 # Xem Nhiều Nhất Xuất Xứ Của Bài Thơ Cảnh Khuya Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Tìm Xuất Xứ Bài Thơ ‘Cảnh Khuya’ Của Bác Hồ

Tìm xuất xứ bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ

(VH&ĐS) Tháng 12/2013, trở lại các tỉnh Việt Bắc để xác minh một số tài liệu và thu thập thêm tư liệu về Bác Hồ thời kỳ Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và thời kỳ Bác trở lại chiến khu Việt Bắc lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Người ngồi đó với cây chì đỏ – vạch đường đi từng bước, từng giờ (thơ Tố Hữu).

Đến Việt Bắc không thể không đến ATK Định Hoá. Và, đến ATK Định Hoá, không thể không đến đồi Khau Tý – một di tích lịch sử văn hoá được bảo tồn nguyên vẹn. Mỗi lần đến là một lần xúc động.

Trên đường lên Chiến khu Việt Bắc (ATK) Bác Hồ và những đồng chí cùng đi đã đến xã Điểm Mặc, huyện Định Hóa ngày 20/5/1947, đúng như dự định. Tại đây những ngày đầu Bác ở bản Quyên, nhà Chủ tịch xã Ma Đình Trường, sau đó chuyển lên ở lán trên đồi Khau Tý, thôn Nà Tra. Đồi Khau Tý, tiếng địa phương gọi là đồi Cây Thị. Lán được dựng theo đúng với kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc Định Hóa, mái lợp lá cọ, sàn lát ván, vách dựng bằng liếp nứa. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng (được Bác Hồ đặt tên trong số 8 đồng chí) kể trong cuốn Những năm tháng bên Bác “Chúng tôi làm riêng cho Bác một cái “lầu”. Tầng trên để Bác ngủ và làm việc ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, như vậy tránh được thú dữ và không khí ẩm thấp của núi rừng. Gọi là “lầu” nhưng thật ra nó bé lắm. Bác giao hẹn: Chiều cao có thể giơ tay với được, còn chiều ngang thì đưa tay sang phải sang trái vừa chạm đến, để tiện lấy các vật dùng treo trên vách. Bác bảo làm như vậy đỡ tốn công sức, dễ giữ bí mật. Trên sàn chỉ cần một chiếc bàn con để Bác ngồi làm việc, xem sách báo là đủ”.

Định Hóa được chọn làm trung tâm ATK vì đây là vùng địa hình núi non hiểm trở, địch không thể dùng xe cơ giới tấn công, mà ta thì lại sẵn các đường nhỏ xuyên rừng nối liền với các vùng Tây Bắc, vùng trung du, vùng đồng bằng. Năm 1906, nhà chí sĩ ái quốc Phan Bội Châu đã từ Quảng Châu (Trung Quốc) tìm về Định Hóa khảo sát, định xây dựng vùng này thành căn cứ địa chống Pháp.

Thu Đông 1947, thực dân Pháp tập trung binh lực, huy động hơn một vạn quân tinh nhuệ gồm cả Hải, Lục, Không quân mở một đợt tấn công quy mô, chia hai gọng kìm khép chặt Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến. Trong vòng vây trùng điệp bốn bề của địch, Bác và Trung ương chỉ đạo sáng suốt các cơ quan và đơn vị bộ đội di chuyển và thực hiện phương châm vừa đánh vừa tránh địch ở các địa bàn Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang.

Một tối cuối thu đầu đông, Bác cho mời đồng chí Ma Đình Kháng – Chủ tịch huyện Định Hóa đến lán Bác ở. Hai Bác cháu chuyện trò trong lán dưới tán lá cổ thụ giữa những khóm hoa rừng, xa xa tiếng suối đổ đều đều từ phía chân đồi vọng lại. Bác hỏi đồng chí Kháng về việc vạch kế hoạch tác chiến của huyện khi địch đánh tới đây thì thế nào và Bác sẽ chuyển đi đâu. Đồng chí Kháng báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ, chi tiết về kế hoạch đã được chuẩn bị chu đáo. Tận khuya, dưới ánh trăng vàng, Bác tiễn đồng chí Kháng ra về, trở lại giữa rừng khuya trăng sáng, vẻ trầm ngâm, hứng thơ đến với Bác.

Luật sư Phan Anh cũng cho biết: Trong những ngày cực kỳ gay go, khó khăn của những tháng, năm đầu ở Việt Bắc, Bác đã phân tích và chỉ rõ những thuận lợi và những khó khăn của ta và địch. Bác phán đoán những hoạt động của các cánh quân của Pháp, Bác vẽ trên đất về đường tiến, đường lui của địch và của ta và giảng giải cặn kẽ: Chúng bao vây ta với thế gọng kìm ta phải luồn ra ngoài gọng kìm ấy để không mắc vào tròng của chúng. Khi địch rút lui ta lại về chỗ cũ. Luật sư cũng kể lại: chính trong những ngày gay go ấy, sau hôm gặp Bác ở Tràng Xá, ông nhận được thư của Bác, kèm theo một đoạn thơ:

Đêm khuya nhân lúc quan hoài

Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, gió lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Nước nhà đang gặp lúc gay go

Trăm việc ngàn công đều phải lo

Giúp đỡ anh em nên gắng sức

Sức nhiều thắng lợi lại càng to.

Từ sự kiện Bác trò chuyện với đồng chí Ma Đình Kháng và lời kể của luật sư Phan Anh cho ta biết được hoàn cảnh để có 10 câu thơ trên, giúp ta hiểu thêm Bác và thơ Bác. Mặc dù trong những giờ phút đương gặp lúc gay go với lo nỗi nước nhà, Bác vẫn có lúc quan hoài, vẫn có thơ, vẫn có nụ cười dí dỏm Lên câu thơ thẩn chờ ai họa vần.

Luật sư Phan Anh rất cảm động và xúc động khi đọc những câu thơ của Bác nên đã ứng tác họa vần:

Họa vần xin gửi cho ai

Đường xa sẻ tấm quan hoài nước non

Quanh quanh dòng suối cảnh đường xa

Trời có trăng và núi có hoa

Trăng sáng bao la trời đất nước

Hoa thơm phảng phất vị hương nhà

Nước nhà đang gặp bước gay go

Lái vững chèo dai ta chẳng lo

Vượt sóng, dựng buồm, ta lựa gió

Thuận chiều, ta mở cánh buồm to.

Sau này, năm 1967 Nxb Văn học làm sách Thơ – Hồ Chủ tịch, những người biên tập chỉ đưa bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Ở câu thứ hai của bài thơ bốn câu này chữ gió được thay bằng chữ bóng.

Quả là bốn câu thơ với đầu đề Cảnh khuya diễn đạt trọn vẹn một tứ thơ hay, độc đáo, bất ngờ. Có thể nói được rằng, bốn câu thơ trên hoàn toàn đủ các yếu tố, thành phần của một bài thơ tứ tuyệt hoàn chỉnh, hiểu và cảm nó trọn vẹn như những bài thơ tứ tuyệt khác vậy. Bài thơ Cảnh khuya giúp ta hiểu rõ vì sao đêm khuya Bác chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, đồng thời hé mở một tâm hồn lớn, một bản lĩnh thi nhân tràn đầy sức sống và nhạy cảm trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Dù bề bộn đến đâu, trong lúc lo chăm công nghìn việc cho kháng chiến, cho dân, cho nước, Người vẫn dành một khoảng tâm hồn mình cho thiên nhiên thơ mộng cho trăng cho hoa – tâm hồn thi nhân của Người lúc nào cũng rộng mở vẫn không hề quên những việc nước, việc dân. Những cái mâu thuẫn tưởng như đối ngược lại thống nhất trong con người Bác, thật là kỳ diệu. Bài thơ đã đi vào các thế hệ bạn đọc và ở lại trong lòng bạn đọc cùng với thời gian năm tháng.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà, Tấm quan hoài nước non của Bác là từ lán Bác ở và làm việc trên đồi Khau Tý. Đồi này, lán này vẫn được lưu giữ. Ai đã từng đặt chân đến lán Khau Tý không thể không ngước nhìn cây đa cổ thụ cao to xum xuê cành lá giữa những khóm hoa rừng không thể không xúc động nhất là khi nhìn cây dâm bụt Bác trồng từ năm 1947 vẫn xanh tươi, tràn trề sức sống. Trong tĩnh lặng, xa xa dưới chân đồi Khau Tý, dòng suối Nà Tra róc rách, róc rách chảy như tiếng hát xa. Nhà văn Hoàng Quảng Uyên khi đến thăm nơi này, đã rất xúc động, cảm xúc dâng trào, đột xuất có một mong muốn, một đề xuất: “Sáu mươi năm rồi, quá khứ hiện tại đan dệt. Trong mối liên tưởng đa chiều chợt dâng ước muốn nho nhỏ – giá chi dựng ở nơi đây một tấm bia đề bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ làm gần lại khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và mơ, để du khách đến đây sẽ không chỉ được thăm nơi đầu tiên Bác Hồ ở khi trở lại chiến khu Việt Bắc mà còn thăm nơi đầu tiên của nhà thơ Hồ Chí Minh, nơi nhà thơ sáng tác bài Cảnh khuya trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, thả hồn ngẫm ngợi trong sự hòa quyện giữa lịch sử và thơ. Sáng trong và linh thiêng”(1).

Lê Xuân Đức

(1) Báo Văn nghệ số 03 ngày 20-1-2007.

Xuất Xứ Bài Thơ Thăm Lại Pác Bó

Ngày 19-2-1961, sau Tết Nguyên đán Tân Sửu, Bác Hồ trở lại thăm Cao Bằng – nơi 20 năm trước Người đã vượt biên giới Việt – Trung về Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (29-1-1941) để lãnh đạo kháng chiến. Tuy vừa đi ô tô một đoạn đường dại quốc lộ 4 gập gềnh, khúc khuỷu từ Lạng Sơn lên, người mệt mỏi, sáng ngày 20-2-1961, Bác Hồ vẫn tranh thủ đi thăm Pác Bó. Ngày ấy, từ ngã ba Đôn Chương vào Pác Bó chưa có đường ô tô như ngày nay, chỉ có đường mòn cách xa 8 km, trời lại vừa mới mưa phùn nên đường lầy trơn rất khó đi.

Để bảo đảm an toàn cho Bác, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã chuẩn bị sẵn và đề nghị Bác đi ngựa – Bác chấp thuận. Hai chiến sĩ biên phòng lo Bác ngồi trên lưng ngựa không vững bèn chạy theo hai bên để đỡ Bác. Bác gạt đi: “Các chú khỏi lo. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Bác làm gì có xe ô tô để đi. Nếu đi công tác chặng đường gần thì đi bộ, chặng đường xa mới có ngựa cưỡi. Bác cưỡi ngựa thạo rồi”.

Sau hai mươi năm, ngày 20-2-1961, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng). Được gặp lại Người, bà con Pác Bó vô cùng xúc động. Ảnh: Người thăm lại suối Lê-nin (Pác Bó).

Vào đến bản Pác Bó, Bác và các đồng chí cùng đi thẳng vào hang Cốc Bó rồi mới quay ra gặp gỡ bà con dân bản. Từ bản Pác Bó vào khu vực hang Cốc Bó, ngựa không sao đi nổi, Bác phải chống gậy đi bộ. Năm ấy Bác đã bước sang tuổi 71, sức khỏe đã giảm nhiều, lại thêm phần xúc động khi trở lại thăm chốn xưa, nên đến đầu nguồn suối Lê-Nin, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đề nghị Bác không leo núi dốc để thăm lại hang Cốc Bó nữa. Ngước nhìn lên phía hang nằm ở lưng chừng núi, Bác bùi ngùi nói:

-Thôi, đành vậy. Nhờ các chú lên thăm hang giúp Bác. Xem nhũ đá Bác tạc tượng ông Các Mác, dưới chân ông có tượng vượn người, và trên vách hang, bác có viết bằng chữ nho bằng than củi “Ngày mùng tám tháng hai, năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt” là ngày Bác vào ở hang có còn giữ được không?

Trong khi chờ đợi đoàn người lên thăm hang, Bác thong dong đi thăm lại những phiến đá Bác kê thay bàn thế để ngồi làm việc, thăm gốc cây ổi thường ngày Bác vẫn hái lá đun uống thay chè (trước đây chỉ với tay tầm ngang đầu là hái được từng nắm lá), nay đã trở thành một cây ổi cổ thụ vươn cao hàng chục mét, gốc đã tróc vỏ trơ lõi sần sùi, thăm phiến đá nhẵn bóng dưới gốc cây si già, khi thư giãn Bác thường ngồi câu cá bên bờ suối… gợi nhớ biết bao kỷ niệm của một thời hoạt động bí mật gian truân.

Từ trên hang xuống, đồng chí Lê Quảng Ba, người từng dẫn đường cho Bác từ Trung Quốc vượt biên giới về Pác Bó và đã được sống gần gũi với Bác suốt thời gian ở Pác Bó, năm ấy là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương, thưa với Bác:

-Thưa Bác, đường lên hang trơn trượt, cỏ mọc đôi đoạn phủ cả lối đi. Còn trong hang, tượng ông Mác, tượng vượn người, dòng chữ nho Bác viết trên vách đều còn nguyên vẹn. Duy chỉ có những tấm phản kê làm giường cho Bác nằm thì đã mục nát cả.

Bác xúc động nói:

-Bà con Pác Bó tốt quá. Trước đây, nếu không được bà con đùm bọc, cưu mang thì làm sao Bác sống qua được những ngày cách mạng còn đen tối. Nay đã 20 năm qua đi, lại vẫn giữ gìn, bảo vệ cả cái hang Bác ở. Hôm nay, Bác rất vui. Bây giờ còn ít phút, Bác và các chú ta cùng làm một bài thơ. Chủ đề là tức cảnh thăm lại hang Cốc Bó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt – Các chú có đồng ý không?

Mọi người vỗ tay hưởng ứng, Bác liền chỉ tay vào đồng chí Hồng Kỳ, lúc ấy là Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng:

-Chú là Bí thư, chú xướng câu mở đầu.

Đồng chí Hồng Kỳ lắc đầu, gãi tai, cười trừ:

-Thưa Bác, cháu là Bí thư nhưng cháu rất là bí thơ. Cháu không biết làm thơ đâu ạ!

Bác phê bình khéo:

-Đáng lẽ chú là Bí thư thì phải giỏi làm thơ mới đúng. Thơ cũng là vũ khí cách mạng. Có khi cán bộ nói cả buổi mà quần chúng không nghe ra, nhưng chỉ đọc mấy vần thơ thì ai cũng hiểu. Thôi được, tha cho chú. Vậy, Bác chỉ định người khác vậy.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào đồng chí Tố Hữu:

-Đồng chí Lành vậy – Chú là nhà thơ mà.

Đồng chí Tố Hữu cũng lắc đầu cười:

-Dạ, ở đây Bác là người có tuổi hơn cả. Xin kính lão đắc thọ, mời Bác khai thơ trước ạ!

Bác cười to:

-Các chú khôn thật, định dồn Bác vào chân tường đấy phỏng? Được, Bác sẽ khai thơ vậy.

Suy nghĩ giây lát, Bác đọc hai câu mở bài:

Hai mươi năm trước ở hang này

Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây

Đấy, Bác mở đến nửa phần bài thơ. Bây giờ đến lượt các chú làm hai câu thơ cuối.

Mọi người vỗ tay hoan hô. Rồi mỗi người thêm một ý, góp một câu, cuối cùng Bác kết luận:

Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu

Non sông gấm vóc có ngày nay

Thế là bài thơ hoàn thành. Thực ra bài thơ là “Không đề”, về sau này khi xuất bản mới đặt tên bài thơ là Thăm lại Pác Bó.

Lê Hồng Bảo Anh

Tâm Trạng Của Bác Trong Bài Thơ Cảnh Khuya

Đề bài: Bài thơ Cảnh Khuya thể hiện rõ tâm trạng của Bác. Em hãy viết bài văn miêu tả tâm trạng của bác trong bài thơ Cảnh khuya

Mở bài Tâm trạng của Bác trong bài thơ Cảnh khuya

Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, Hồ Chí Minh đã rất nhiều lần viết về trăng, hình ảnh mặt trăng, ánh trăng xuất hiện trong nhiều trang thơ của người nhằm thể hiện những nội dung tư tưởng khác nhau. Bài thơ Cảnh khuya là một bài thơ như thế, viết về trăng Hồ Chí Minh thể hiện được xúc cảm trước thiên nhiên tươi đẹp, đồng thời qua đó thể hiện được tâm trạng của người thi sĩ, người chiến sĩ trong đêm trăng.

Thân bài Miêu tả Tâm trạng của Bác trong bài thơ Cảnh khuya

Bài thơ Cảnh khuya được Hồ Chí Minh sáng tác năm 1948- đây là giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc Việt Nam.Lúc này thì Hồ Chí Minh đang ở căn cứ địa Việt Bắc để chỉ huy trực tiếp cho kháng chiến. Trong một đêm trăng đẹp, người đã viết lên bài thơ Cảnh khuya:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

Ở trong hai câu thơ đầu, Bác đã mở ra một khung cảnh tuyệt sắc của núi rừng Việt Bắc tại thời khắc đêm khuya. Bức tranh được vẽ ra với đầy đủ màu sắc, âm thanh và đường nét. Tiếng suối được Hồ Chí Minh so sánh với âm thanh của tiếng hát xa, trong không gian mênh mông, hùng vĩ của núi rừng vang lên âm thanh suối chảy mà trong cảm nhận của người thì nó du dương, truyền cảm như tiếng hát xa của người nghệ sĩ vọng lại.

Ta có thể thấy đây là sự liên tưởng vô cùng độc đáo, Bác đã tạo được sự liên kết giữa âm thanh thiên nhiên với âm thanh của con người. Trong thơ ca Trung đại ta cũng từng bắt gặp một sự so sánh tương tự trong bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi, có khác đó là Nguyễn Trãi so sánh tiếng suối với tiếng đàn cầm:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

Hình ảnh cũng hiện lên vô cùng sống động với hình ảnh của ánh trăng khuya soi sáng xuống tán cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ in bóng lên những khóm hoa “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”, cách liên tưởng độc đáo của người cũng làm cho hình ảnh bỗng sống động, gợi ra những liên tưởng chân thực cho người đọc.

“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Đến đây, bức tranh tâm trạng được mở ra với những lo lắng, suy tư của một vị lãnh tụ, một người chiến sĩ cách mạng. nếu trong hai câu thơ trên ta thấy được một người thi sĩ rung động trước cảnh sắc tuyệt mĩ của thiên nhiên thì đến đây ta lại thấy được những nét suy tư, lo lắng của con người dành hết tâm huyết, dành hết cuộc đời cho dân, cho nước, đó chính là người chiến sĩ vĩ đại Hồ Chí Minh “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.

Kết luận bài văn Tâm trạng của Bác trong bài thơ Cảnh khuya

Như vậy, bài thơ Cảnh khuya được đan lồng hài hòa hai bức tranh thơ, đó là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp trong đêm khuya và bức tranh tâm trạng của chính Hồ Chí Minh, tuy hai mà một, những bức tranh ấy đều làm nổi bật lên vẻ đẹp con người Hồ Chí Minh, một vẻ đẹp đáng trân trọng

TỪ KHÓA TÌM KIẾM CẢNH KHUYA CANH KHUYA BÀI THƠ CẢNH KHUYA HỒ CHÍ MINH Theo chúng tôi

Phân Tích Bài Thơ “Cảnh Khuya” Của Hồ Chí Minh

Đề bài: Phân tích bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh

Tác giả Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà văn, nhà thơ mà người còn là một nhà lãnh tụ đại tài của dân tộc Việt Nam. Người đã sáng tác rất nhiều bài văn bài thơ hay gây được tiếng vang lớn trong nền cách mạng của nước ta. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp người đã dùng tài năng thơ ca văn chương của mình là vũ khí chiến đấu sắc bén. Bên cạnh đó, người cũng sáng tác nhiều bài thơ ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên của nước ta vô cùng đặc sắc như bài “Cảnh khuya”

Tiếng suối trong như tiếng hát xaTrăng lồng cổ thụ bóng lồng hoaCảnh khuya như vẽ người chưa ngủChưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Bài thơ được chủ tịch Hồ Chí Minh viết những năm người hoạt động ở Việt Bắc, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng cam go quyết liệt, sau những giờ phút đàm đạo việc quân người lại ngắm trăng sao, bầu bạn với những vần thơ để giải tỏa những căng thẳng,

Trong câu thơ đầu tiên tác giả Hồ Chí Minh đã gợi lên trong lòng người đọc một cánh rừng hoang sơ thiên nhiên vô cùng hoang dã, nhưng lại đẹp như một bức tranh thủy mặc nơi tiên cảnh:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Tác giả Hồ Chí Minh đã vô cùng tinh tế khi mà so sánh tiếng suối với tiếng hát, bằng cảm nhận từ thính giác đặc biệt của mình. Tác giả Hồ Chí Minh không chỉ lắng nghe bằng đôi tai mà lắng nghe bằng cả tâm hồn của mình, thể hiện một trái tim vô cùng đa cảm.

Tiếng suối chảy trong veo ngọt lành, tinh khiết đó chính là món quà vô cùng quý báu của thiên nhiên và núi rừng Việt Bắc bạn tặng cho những người chiến sĩ bộ đội, những người đã không ngại hy sinh gian khổ xông pha nơi trận mạc để bảo vệ mảnh đất quê hương.

Không chỉ có vậy tiếng suối trong veo róc rách đó tựa những tiếng hát thánh thót của một cô thôn nữ, vùng biên cương. Một khúc hát trữ tình vô cùng sâu lắng, làm say đắm lòng người.

Tiếng hát đó có sức mạnh vô cùng to lớn nó có khả năng lan tỏa mạnh mẽ khiến cho những con người dù ở xa tới đâu cũng có thể nghe thấy được, cảm nhận được giai điệu say đắm của nó.

Nó cũng chính là tiếng hát vang lên trong đêm tối tĩnh lặng bởi nếu không nó sẽ bị hòa vào những âm hưởng khác, những tạp âm khác của cuộc sống, con người khó có thể cảm nhận được nữa.

Sự đặc biệt trong những câu thơ của tác giả Hồ Chí Minh là một âm thanh vô cùng tự nhiên đó chính là tiếng suối chảy lại được so sánh với một âm thanh của con người nó chính là tiếng hát, thể hiện sự sâu lắng, tinh tế của tác giả Hồ Chí Minh trong nghệ thuật so sánh.

Cảnh khuya càng đêm càng tĩnh lặng, yên ắng tới nhường nào, dường như tác giả có thể nghe được hết những âm thanh đặc biệt tinh tế long lành đó.

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Trong câu thơ này tác giả Hồ Chí Minh sử dụng điệp từ “lồng” để thể hiện sự ấn tượng của câu thơ. Tạo nên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, tinh tế tựa như chốn bồng lai tiên cảnh. Chính từ đó làm cho câu thơ trở nên vô cùng duyên dáng hữu tình ánh trăng mênh mông lan tỏa bao trùm ánh sáng của mình lên cảnh vật Việt Bắc lên những nhánh hoa, cành cây làm cho không gian trở nên tinh khiết, lung linh sắc màu.

Tác giả đã sử dụng từ “lồng” thể hiện cho sự đồng điệu của cảnh sắc thiên nhiên và ánh trăng, làm cho câu thơ trở nên đan xen hòa quyện vào nhau một cách vô cùng dễ thương duyên dáng.

Chính trong thời khắc hiếm có đó ánh mắt người nghệ sĩ của tác giả thật tài tình để có thể nắm bắt được hồn thơ vô cùng sinh động sáng tác ra những câu thơ làm lay động lòng người.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Trong không gian bao la trong veo vô cùng yên ắng tĩnh lặng càng làm cho hình ảnh con người cụ thể là tác giả trở nên cô quạnh, trong đêm tối tác giả cảnh đẹp càng làm cho tác giả cảm thấy vô cùng thao thức khó ngủ.

Bởi con người lúc này đã hòa mình vào với thiên nhiên, tác giả cất lời thơ thể hiện tình cảm yêu quê hương đất nước là những phút lãng du tâm hồn gửi gắm vào mây núi đất trời

Tác giả chưa ngủ vì người còn đang mang nặng một nỗi buồn nỗi sầu cho quê hương đất nước, khi quê nhà đang trong thời kỳ nô lệ, đêm tối.

Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc càng ngày càng trở nên cam go quyết liệt, khiến cho tác giả Hồ Chí Minh càng ngày càng trở nên khó ngủ trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

Bài thơ khép lại với câu thơ cuối đã nói lên hết tâm tư của tác giả khi mà người còn trăn trở, lo lắng những nỗi buồn của dân tộc, của sự nghiệp giải phóng đất nước. Bài thơ “Cảnh khuya” khiến cho người ta cảm nhận được tâm trạng của tác giả trước thời cuộc, người chưa bao giờ có những giây phút nghỉ ngơi trọn vẹn vì trái tim người đã dành trọn cho dân cho nước.

Thảo Nguyên