Top 5 # Xem Nhiều Nhất Xuất Xứ Bài Thơ Tây Tiến Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Xuất Xứ Bài Thơ Thăm Lại Pác Bó

Ngày 19-2-1961, sau Tết Nguyên đán Tân Sửu, Bác Hồ trở lại thăm Cao Bằng – nơi 20 năm trước Người đã vượt biên giới Việt – Trung về Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (29-1-1941) để lãnh đạo kháng chiến. Tuy vừa đi ô tô một đoạn đường dại quốc lộ 4 gập gềnh, khúc khuỷu từ Lạng Sơn lên, người mệt mỏi, sáng ngày 20-2-1961, Bác Hồ vẫn tranh thủ đi thăm Pác Bó. Ngày ấy, từ ngã ba Đôn Chương vào Pác Bó chưa có đường ô tô như ngày nay, chỉ có đường mòn cách xa 8 km, trời lại vừa mới mưa phùn nên đường lầy trơn rất khó đi.

Để bảo đảm an toàn cho Bác, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã chuẩn bị sẵn và đề nghị Bác đi ngựa – Bác chấp thuận. Hai chiến sĩ biên phòng lo Bác ngồi trên lưng ngựa không vững bèn chạy theo hai bên để đỡ Bác. Bác gạt đi: “Các chú khỏi lo. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Bác làm gì có xe ô tô để đi. Nếu đi công tác chặng đường gần thì đi bộ, chặng đường xa mới có ngựa cưỡi. Bác cưỡi ngựa thạo rồi”.

Sau hai mươi năm, ngày 20-2-1961, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng). Được gặp lại Người, bà con Pác Bó vô cùng xúc động. Ảnh: Người thăm lại suối Lê-nin (Pác Bó).

Vào đến bản Pác Bó, Bác và các đồng chí cùng đi thẳng vào hang Cốc Bó rồi mới quay ra gặp gỡ bà con dân bản. Từ bản Pác Bó vào khu vực hang Cốc Bó, ngựa không sao đi nổi, Bác phải chống gậy đi bộ. Năm ấy Bác đã bước sang tuổi 71, sức khỏe đã giảm nhiều, lại thêm phần xúc động khi trở lại thăm chốn xưa, nên đến đầu nguồn suối Lê-Nin, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đề nghị Bác không leo núi dốc để thăm lại hang Cốc Bó nữa. Ngước nhìn lên phía hang nằm ở lưng chừng núi, Bác bùi ngùi nói:

-Thôi, đành vậy. Nhờ các chú lên thăm hang giúp Bác. Xem nhũ đá Bác tạc tượng ông Các Mác, dưới chân ông có tượng vượn người, và trên vách hang, bác có viết bằng chữ nho bằng than củi “Ngày mùng tám tháng hai, năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt” là ngày Bác vào ở hang có còn giữ được không?

Trong khi chờ đợi đoàn người lên thăm hang, Bác thong dong đi thăm lại những phiến đá Bác kê thay bàn thế để ngồi làm việc, thăm gốc cây ổi thường ngày Bác vẫn hái lá đun uống thay chè (trước đây chỉ với tay tầm ngang đầu là hái được từng nắm lá), nay đã trở thành một cây ổi cổ thụ vươn cao hàng chục mét, gốc đã tróc vỏ trơ lõi sần sùi, thăm phiến đá nhẵn bóng dưới gốc cây si già, khi thư giãn Bác thường ngồi câu cá bên bờ suối… gợi nhớ biết bao kỷ niệm của một thời hoạt động bí mật gian truân.

Từ trên hang xuống, đồng chí Lê Quảng Ba, người từng dẫn đường cho Bác từ Trung Quốc vượt biên giới về Pác Bó và đã được sống gần gũi với Bác suốt thời gian ở Pác Bó, năm ấy là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương, thưa với Bác:

-Thưa Bác, đường lên hang trơn trượt, cỏ mọc đôi đoạn phủ cả lối đi. Còn trong hang, tượng ông Mác, tượng vượn người, dòng chữ nho Bác viết trên vách đều còn nguyên vẹn. Duy chỉ có những tấm phản kê làm giường cho Bác nằm thì đã mục nát cả.

Bác xúc động nói:

-Bà con Pác Bó tốt quá. Trước đây, nếu không được bà con đùm bọc, cưu mang thì làm sao Bác sống qua được những ngày cách mạng còn đen tối. Nay đã 20 năm qua đi, lại vẫn giữ gìn, bảo vệ cả cái hang Bác ở. Hôm nay, Bác rất vui. Bây giờ còn ít phút, Bác và các chú ta cùng làm một bài thơ. Chủ đề là tức cảnh thăm lại hang Cốc Bó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt – Các chú có đồng ý không?

Mọi người vỗ tay hưởng ứng, Bác liền chỉ tay vào đồng chí Hồng Kỳ, lúc ấy là Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng:

-Chú là Bí thư, chú xướng câu mở đầu.

Đồng chí Hồng Kỳ lắc đầu, gãi tai, cười trừ:

-Thưa Bác, cháu là Bí thư nhưng cháu rất là bí thơ. Cháu không biết làm thơ đâu ạ!

Bác phê bình khéo:

-Đáng lẽ chú là Bí thư thì phải giỏi làm thơ mới đúng. Thơ cũng là vũ khí cách mạng. Có khi cán bộ nói cả buổi mà quần chúng không nghe ra, nhưng chỉ đọc mấy vần thơ thì ai cũng hiểu. Thôi được, tha cho chú. Vậy, Bác chỉ định người khác vậy.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào đồng chí Tố Hữu:

-Đồng chí Lành vậy – Chú là nhà thơ mà.

Đồng chí Tố Hữu cũng lắc đầu cười:

-Dạ, ở đây Bác là người có tuổi hơn cả. Xin kính lão đắc thọ, mời Bác khai thơ trước ạ!

Bác cười to:

-Các chú khôn thật, định dồn Bác vào chân tường đấy phỏng? Được, Bác sẽ khai thơ vậy.

Suy nghĩ giây lát, Bác đọc hai câu mở bài:

Hai mươi năm trước ở hang này

Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây

Đấy, Bác mở đến nửa phần bài thơ. Bây giờ đến lượt các chú làm hai câu thơ cuối.

Mọi người vỗ tay hoan hô. Rồi mỗi người thêm một ý, góp một câu, cuối cùng Bác kết luận:

Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu

Non sông gấm vóc có ngày nay

Thế là bài thơ hoàn thành. Thực ra bài thơ là “Không đề”, về sau này khi xuất bản mới đặt tên bài thơ là Thăm lại Pác Bó.

Lê Hồng Bảo Anh

Xuất Xứ Của Bài Thơ “Gửi Lời Chào Lớp Một”

Từ thập kỷ 80, bài thơ “Gửi lời chào lớp Một” đã được đưa vào sách giáo khoa và vẫn hiện hành với sách cải cách. Đã có những nhầm lẫn về xuất xứ bài thơ và cuối cùng cũng tìm ra xuất xứ tin cậy nhất. Xin tổng hợp các thông tin để chia sẻ với các bạn.

Bài thơ “Gửi lời chào lớp Một”

Lớp Một ơi! Lớp Một!

Gửi lời chào tiến bước!

Cố sẽ xa chúng em…

Cô sẽ luôn ở bên.

Lớp Một ơi! Lớp Một!

Gửi lời chào tiến bước!

Lời bình của nhà văn Phạm Khải

Nghi ngờ sách giáo khoa ghi sai tên tác giả

Ở SGK Tiếng Việt lớp 1 (tập 2) dưới bài thơ ghi tên tác giả là Hữu Tưởng. Người đưa nghi vấn đầu tiên về tác giả là nickname Tran Trung.

Trên trang cá nhân của mình, Tran Trung chia sẻ: “Internet thật là tuyệt! Nhờ nó mà tình cờ mình biết được bài thơ quen thuộc một thời Gửi lời chào lớp Một là lời bài hát trong bộ phim Liên Xô (cũ) Maruxia đi học, sản xuất năm 1948″.

Những độc giả khác truy tìm trên mạng thì thấy quả kịch bản của phim Maruxia đi học này có lời bài hát Nga tựa như bài thơ Gửi lời chào lớp Một trong SGK. Dòng trạng thái này của Tran Trung được nhiều bạn bè, cư dân mạng chia sẻ với nhiều câu hỏi.

Nickname Uyên Thảo Trần Lê cung cấp thêm thông tin: “Bài thơ này tôi nhớ học từ năm lớp 1 cách đây 50 năm, khi ấy người ta ghi là phỏng thơ”. Nickname Mai Anh cũng viết: “Bài này hồi mình học năm 1970 đã biết là của Nga mà”.

Qua tìm hiểu, được biết sau năm 1975, SGK lớp 1 có hai lần được sửa chữa. Lần chỉnh sửa thứ nhất là năm 1979, xuất bản năm 1981. Lần chỉnh lý thứ hai là năm 1989, xuất bản năm 1994. Sách Tiếng Việt lớp 1 được lưu hành hiện nay dựa trên bản chỉnh lý năm 1994.

Ý kiến các nhà làm sách giáo khoa

PGS.TS Đặng Thị Lanh, chủ biên của sách Tiếng Việt lớp 1 hiện hành, cho biết bản chỉnh lý sách Tiếng Việt lớp 1 năm 1994 dựa trên sách Tập đọc lớp 1 xuất bản năm 1981.

Lúc đó, sách vẫn đề tác giả bài thơ Gửi lời chào lớp Một là “theo Hữu Tưởng”. Còn với những bản gốc trước năm 1981, bà Lanh cho hay bà cũng không biết nên chưa có cơ hội đối chiếu.

“Tôi cũng không biết tác giả Hữu Tưởng là ai. Khi làm sách thì chúng tôi không thể gặp từng tác giả một. Chúng tôi chỉ trích lại theo nguồn (năm 1981) mà thôi” – bà Lanh nói.

Thạc sĩ Trần Mạnh Hưởng – người cùng tác giả Nguyễn Có được giao chỉnh lý sách Tiếng Việt lớp 1 năm 1989 – cũng xác nhận bài thơ Gửi lời chào lớp Một trong quyển Tiếng Việt lớp 1 hiện hành được trích lại từ sách Tập đọc lớp 1 năm 1981, ghi tác giả bài thơ là “theo Hữu Tưởng”, còn bản hiện hành để tên tác giả là Hữu Tưởng.

Theo ông Đào Duy Mẫn – nguyên phó vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, một đồng nghiệp cũ của ông Hữu Tưởng – thì ông Hữu Tưởng tên thật là Nguyễn Hữu Tưởng, nguyên viện phó Viện Khoa học – giáo dục trước đây, đã mất vào những năm 1980. Theo đánh giá của ông Mẫn thì tác giả Hữu Tưởng là một đồng nghiệp rất uy tín.

Như vậy, xung quanh tác giả bài thơ Gửi lời chào lớp Một đã có nhiều thông tin lẫn lộn – học sinh thuộc những năm 1970 cho biết bài thơ được phỏng theo một ca khúc Nga, học sinh từ năm 1981 đến nay hiểu là thơ của Hữu Tưởng.

Để giải quyết sự không rõ ràng này, chúng tôi Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Người làm sách cần phải tra cứu lại những bản sách trước sách Tập đọc năm 1981, xem lại bài thơ có giống như bài hát Nga đã nói không. Nếu có, cần phải chú thích lại cho rõ”.

Xuất xứ bài thơ theo tài liệu lâu nhất

Sau khi đọc bài viết “Gửi lời chào lớp Một: Thơ của ai?” (Tuổi Trẻ ngày 7/7/2015), ông Lê Khánh Hoài (bút danh Châu La Việt) đã nhận ngay ra đây là bản dịch của cha ông – nhà báo Lê Khánh Căn.

Tại Thư viện Quốc gia, ông Lê Khánh Hoài đã tìm thấy bản dịch truyện Ma-rút-xi-a đi học gồm hai tập do NXB Kim Đồng in năm 1959 với số lưu chiểu lần lượt là 6.379 và 6.511.

Ngay trang đầu tập truyện dịch (in lần đầu năm 1958), lời nhà xuất bản có ghi: “Xin giới thiệu với các em tập truyện Ma-rút-xi-a đi học của nhà văn Liên Xô E. Su-oác. Đây là một truyện rất quen biết của các em nhỏ Liên Xô, đã được quay thành phim lấy tên là Em nữ sinh lớp một… Lần tái bản này chúng tôi có lược bớt đi một số đoạn. Mong rằng sau này sẽ có dịp giới thiệu với các em toàn bộ cuốn truyện”.

Đáng chú ý là ở cuối tập hai của truyện có in toàn bộ bài thơ được dẫn dắt như sau:

“Toàn lớp hai “A” kéo ra đầy sân khấu. Các em hát: Lớp một ơi, lớp một!/Đón em vào năm trước;/Năm nay lên lớp hai,/Gửi lời chào tiến bước!/ Phấn, bảng, sổ gọi tên,/Theo chúng em cùng lên/Chúng em dần lớn mãi,/Bàn ghế cùng lớn thêm,/Chúng em chơi thân mật/Yêu thương cả mọi người,/Đứa bạn em yêu nhất/Cũng cùng lên lớp hai./Còn cô giáo thân mến/Cô sẽ xa chúng em?/Không, cô yêu chúng em/ Cô cũng lên lớp chứ./Thế là cùng vui vẻ,/Chúng em tiến bước đều,/Cùng cả trường cả lớp,/Cùng Tổ quốc thân yêu!…

Khánh Như trích dịch (theo bản Pháp văn Maroussia va à l’ecole của Nhà xuất bản Ngoại Văn Liên Xô)/ In 5.065c tại Nhà máy in Tiến Bộ – Hà Nội. Gửi lưu chiểu tháng 3-1959.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Khánh Hoài nói: “Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bố tôi làm bí thư Đoàn Trường Khải Định ở Huế, sau đó cùng với bác Trần Hoàn đi theo kháng chiến. Năm 1956, bác Tố Hữu cử ông sang làm Sở Báo chí trung ương. Năm 1957 ông về làm báo Nhân Dân với bút danh Hồng Chuyên. Với vốn tiếng Pháp của mình, ông đã dịch tập truyện Ma- rút- xi-a đi học do NXB Kim Đồng ấn hành.”

“Theo tôi nhớ, bản in lần đầu năm 1958 có ghi Lê Khánh Căn dịch. Đáng tiếc bản này tôi không tìm thấy nữa. Đến lần tái bản 1959, ông lấy tên con gái út mà ông yêu quý là Khánh Như để đặt bút danh. Đây là bản Thư viện Quốc gia còn lưu. Như vậy từ năm 1958-1959 đã có Ma-rút-xi-a đi học này rồi. Đến năm 1971, tập truyện tiếp tục được NXB Kim Đồng tái bản và dồn lại thành một tập”.

Về câu chuyện dư luận đang quan tâm, ông Khánh Hoài giải thích: “Theo như tôi tìm hiểu qua các bản in bài thơ Gửi lời chào lớp Một trong sách giáo khoa lớp 1, lần đầu tiên phần tác giả được ghi là Hữu Tưởng (theo quyển Ma- rút- xi-a đi học), lần in thứ hai chỉ đề là Theo Hữu Tưởng, lần ba chỉ còn Hữu Tưởng – lúc đó ông Hữu Tưởng đã mất rồi. Không hiểu sao lại ghi như vậy? Trong khi lẽ ra bài thơ này chính xác nhất phải viết là: “Dựa theo truyện Ma-rút-xi-a đi học của nhà văn Liên Xô E. Su-oác (Evgeny Shvarts – cũng là tác giả kịch bản bộ phim “Nữ sinh lớp một” – PV), bản dịch của Khánh Như, NXB Kim Đồng – 1959″.

Bản gốc bài hát

LỜI CHÀO LỚP MỘT

Đây là bài hát rút từ đoạn kết kịch bản phim “Nữ sinh lớp một” (Первоклассница – Режиссёр Илья Фрэз, Союздетфильм, 1948) của nhà văn, nhà soạn kịch Nga Evghenhi Lvovich Shvarts (Евгений Львович Швaрц, 1896 – 1958), tác giả của những truyện cổ tích tân biên nổi tiếng như “Phép lạ đời thường”, “Cái bóng”, “Lọ lem”, “Giết rồng”… Năm 1949, Shvarts công bố kịch bản “Nữ sinh lớp một” như một truyện vừa.

BigSchool: Như vậy, dưới bài thơ ở sách giáo khoa nên ghi: Dựa theo truyện “Ma-rút-xi-a đi học” của nhà văn Liên Xô Evgeny Shvarts – cũng là tác giả kịch bản bộ phim “Nữ sinh lớp một”. Vì ông Hữu Tưởng đã mất nên không hiểu ông đọc bản dịch của Khánh Như, NXB Kim Đồng – 1959 hay ông đọc thẳng bản tiếng Nga hay tiếng Pháp? Dù là cải biên hay phóng tác theo lời bài hát đã có, tác giả Hữu Tưởng vẫn đáng để chúng ta ghi nhận công của ông. Với những tác giả giáo khoa thì đây cũng là điều cần chú ý khi đưa các tác phẩm vào sách của mình.

Các bạn có thể xem và nghe bài hát này ở phần kết của video:

Nguồn: Báo Tuổi trẻ và FB của TS. Đỗ Hải Phong

Phân Tích Bài Thơ “Tây Tiến”

1. Mở bài:

– Dẫn dắt.

– Giới thiệu chung về Quang Dũng.

– Giới thiệu chung bài thơ ”Tây Tiến”.

2. Thân bài:

a. Đoạn 1: Thiên nhiên Tây Bắc và hình ảnh người lính trên con đường hành quân gian khổ

* Hai câu thơ mở đầu:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.”

– Câu 1: nhắc tới 2 danh từ – điểm về, nơi đến của nỗi nhớ.

+ Tây Tiến: Đoàn binh.

+ Ngắt nhịp 4/3.

+ Nhớ rừng núi: Không gian mênh mông của miền Tây.

* Bức tranh thiên nhiên vừa dữ dội, hoang vu, hiểm trở vừa thơ mộng, trữ tình của núi rừng

– Bức tranh thiên nhiên dữ dội, hoang vu, hiểm trở:

+  BPNT liệt kê nhắc tới một loạt các địa danh ở miền Tây ấn tượng, khó quên trong đời lính.

+ Sương rừng: ở Sài Khao, Mường Lát: tên đất lạ lẫm, gợi 1 vùng xa xôi, hẻo lánh, bản làng, vùng đất người lính đã đi qua.

+ Dốc núi, vực sâu (ba câu thơ tiếp)

+ Núi rừng qua nét vẽ ấn tượng:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

– Bức tranh thiên nhiên thơ mộng, trữ tình

+ Hình ảnh “hoa về trong đêm hơi” là hoa của thiên nhiên hay con người? Chỉ biết rằng nó gợi một cảm giác nhẹ nhàng, êm ả, đẩy lùi nỗi nhọc nhằn của người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân.

+ Mưa rừng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Cơm lên khói, mùa em thơm nếp xôi

+ Mùa em: mùa lúa chín; liên tưởng xao xuyến nồng nàn trước nụ cười rạng rỡ, ánh mát sóng sánh từ tình người miền Tây.

+ “Nhà ai”: vừa phiếm chỉ, vừa nghi vấn.

* Hình ảnh người lính Tây Tiến đi hành quân:

– Hồn nhiên, tinh nghịch: súng ngửi trời, cọp trêu người (chất lính).

– Kí ức về người lính trên đường hành quân:

“ Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.”

+ Anh bạn: gọi đồng đội tình cảm thân thiết, gắn bó.

+ Từ láy dãi dầu: vất vả, khó khăn, nhọc nhằn mà người lính phải đối mặt, vượt qua trên đường hành quân.

+ Không bước nữa, bỏ quên đời: Có thể hiểu là nghỉ ngơi buông mình vào giấc ngủ vô tư lự trẻ trung / có thể hiểu kiệt sức – xót xa / có thể hiểu là cái chết nhẹ nhõm quên đời.

b. Đoạn 2: Tình quân dân gắn bó thiên nhiên con người miền Tây với vẻ đẹp mĩ lệ

* Thiên nhiên và con người miền Tây hiện ra với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

– Không gian: ánh sáng lung linh của lửa đuốc, âm thanh réo rắt của tiếng đàn, cảnh vật và con người như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực.

– Nhân vật trung tâm: em với áo xiêm lộng lẫy (xiêm áo tự bao giờ), vừa e thẹn vừa tình tứ (e ấp), vừa duyên dáng trong điệu vũ xứ lạ (man điệu).

– Hai chữ kìa em: cái nhìn vừa ngạc nhiên vừa mê say, ngây ngất của các chàng trai Tây Tiến.

* Cảnh sông nước miền Tây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

– Con người:

+ Dáng người trên độc mộc: dáng hình mềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái trên những chiếc thuyền độc mộc.

+ Vẻ đẹp của con người hoà hợp với vẻ đẹp của thiên nhiên: những bông hoa rừng cũng “đong đưa”, làm duyên trên dòng nước lũ.

c. Đoạn 3: Hình tượng người lính Tây Tiến

* Chân dung hiện thực của người lính:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

– Vừa bi: Ngoại hình khác thường do hiện thực nghiệt ngã:

+ “không mọc tóc”: người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi giáp lá cà, người thì bị sốt rét đến rụng tóc.

+ “Quân xanh màu lá”: nước da xanh xao do ăn uống thiếu thốn, sốt rét, bệnh tật hành hạ.

– Vừa hùng: không né tránh hiện thực khốc liệt của chiến tranh nhưng qua cái nhìn lãng mạn:

+ “Đoàn binh không mọc tóc”: “đoàn binh” chứ không phải “đoàn quân”.

+ “Quân xanh màu lá” nhưng vẫn “dữ oai hùm”.

* Tâm hồn lãng mạn của người lính.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

-  “Mắt trừng”: cái nhìn nảy lửa đối với kẻ thù. Đôi mắt như thiêu đốt quân thù.

– “Gửi mộng qua biên giới”: chiến đấu dũng cảm nhưng cũng rất nhớ quê hương, gửi “mộng” cũng tức là gửi gắm hoài bão, lí tưởng, tâm hồn mình qua biên giới vì nhiệm vụ của người lính là bảo vệ biên giới nên họ luôn đề cao tinh thần trách nhiệm của mình.

– Nỗi nhớ trong giấc mơ:

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+ Nhớ người yêu, những cô gái Hà Thành duyên dáng, xinh đẹp.

+ Diễn tả đúng thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.

* Cái chết bi tráng và sự bất tử:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

– Miêu tả cái chết nhưng không bi luỵ:

+ Những từ Hán Việt cổ kính: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” .

+ Phủ định từ chẳng (khác với không-sắc thái trung tính) và cách nói hoán dụ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

– Hai câu thơ tiếp theo thấm đẫm tinh thần bi tráng:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”

+ Áo bào thay chiếu: sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, phải mai táng bằng chính chiếc áo các anh mặc hàng ngày.

+ Gọi áo các anh là áo bào: nghe trang trọng, thiêng liêng, thể hiện tình cảm yêu thương đồng đội.

d. Đoạn 4: Lời thề gắn bó với đoàn quân Tây Tiến và miền Tây Bắc

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

– Cách nói khẳng định: “Tây Tiến người đi không hẹn ước”.

– Đường lên Tây Tiến: thăm thẳm, chia phôi: nỗi xót xa khi đã xa đồng đội, khi nghĩ đến đường lên Tây Tiến xa xôi, vời vợi.

– Lời thề cùng Tây Tiến:

+ Mùa xuân ấy: thời điểm lịch sử không bao giờ trở lại.

                                (tâm hồn)   (thể xác)

3. Kết bài: Suy nghĩ, cảm xúc về bài thơ.

Dàn Ý Tây Tiến, Bài Phân Tích Tây Tiến Của Hsg Lớp 12

Bài viết chia hướng dẫn cách lập dàn ý bài Tây Tiến và bài văn mẫu phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng. Các em học sinh có thể tham khảo để học và làm bài tập được hiệu quả hơn.

I. Dàn Ý Tây Tiến – Quang Dũng

1. Mở bài phân tích Tây Tiến

a. Nỗi nhớ – mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ

“nhớ chơi vơi”: một nỗi nhớ vô hình vô định, lửng lơ giữa tầng không nhưng có sức ám ảnh đối với lòng người, làm cho lòng người trở nên hoang mang, day dứt như mất đi điểm tựa

b. Đoạn 1: Bức tranh thiên nhiên Tây Tiến

c. Đoạn 2: Đêm hội liên hoan và bức tranh Châu Mộc chiều sương

– Bức tranh Châu Mộc chiều sương: sử dụng các từ để hỏi “có thấy”, “có nhớ” để gợi về trong tâm trí những hình ảnh trong buổi chiều sương ấy

d. Đoạn 3: Hình ảnh những người lính Tây Tiến

– Vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

+ Cách nói giảm nói tránh “rải rác”, “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”: làm giảm đi sự đau thương và nhấn mạnh, làm nổi bật tinh thần quả cảm, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh

e. Đoạn còn lại: lời thề son sắt với Tây Tiến

II. Bài Viết Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến

1. Mở bài phân tích Tây Tiến – Quang Dũng

Mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên và những nét vẽ đầu tiên về người lính Tây Tiến trên chiến trường miền Tây.

Đoạn thơ đã gợi nhắc những địa danh quen thuộc – “Sài Khao”, “Mường Lát” – nơi chất chứa biết bao kỉ niệm trong những đêm hành quân giữa những màn sương dày đặc “sương lấp” và cái lạnh đến rợn người. Và để rồi trong nỗi nhớ về những địa danh ấy, hình ảnh những con dốc, những con đèo chông chênh, hiểm nguy lại ùa về. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Quang Dũng, câu thơ trúc trắc bởi hàng loạt thanh trắc “dốc”, “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” tạo ấn tượng sâu sắc về sự gồ ghề, cheo lao của những dốc, những đèo, nhịp thơ như bị gãy đứt gợi cảm tưởng đó là nhịp thở gấp gáp của người lính đã thấm mệt sau chặng đường hành quân cực nhọc, gian khổ. Ấy vậy mà, dẫu mệt mỏi trên bước đường hành quân song những người lính ấy vẫn đùa vui tếu táo “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Từ giúp chúng ta nhận ra một hình ảnh đậm chất lính, có cái tinh nghịch, có cái lãng mạn. Câu thơ vừa gợi độ cao của dốc núi vừa gợi nên hình ảnh người lính như đi trên mây, súng chạm đỉnh trời thật ngạo nghễ, dường như, những người lính như sánh ngang với cả vũ trụ rộng lớn. Thêm vào đó, để làm rõ thêm sự hiểm nguy, dữ dội của thiên nhiên Tây Tiến, tác giả còn miêu tả những âm thanh đến rợn người của “thác gầm thét”, “cọp trêu người”. Tất cả những điều đó quyện hòa vào nhau để vẽ nên một bức tranh thiên nhiên Tây Tiến hoang sơ, dữ dội. Bên cạnh đó, với một con mắt phóng khoáng và một tâm hồn nhạy cảm, tài hoa, thơ mộng của tác giả, thiên nhiên Tây Tiến còn hiện lên với vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình qua hình ảnh “hoa về trong đêm hơi”, “mưa xa khơi”.

Đồng thời, thái độ lạc quan, dũng cảm của những người lính Tây Tiến còn thể hiện qua những câu thơ.

Câu thơ với những thanh trắc “dãi”, “bước”, “gục”, “bỏ” đã làm nhịp thơ như chậm lại và phải chăng ẩn đằng sau đó chính là cách nhìn đơn giản, nhẹ nhàng của những người lính Tây Tiến về cái chết “bỏ quên đời” . Đây là cách nói giảm, nói tránh nhằm giảm nhẹ sự đau thương, mất mát của những người lính trước cuộc chiến tranh khốc liệt.

Và rồi, trong dòng xúc cảm của nỗi nhớ, những kỉ niệm về tình quân dân ấm áp với những đêm hội liên hoan ùa về

Không gian một đêm lửa trại ấm áp tình quân dân hiện lên thật đẹp, thật sinh động dưới ngòi bút tài hoa của Quang Dũng. Đó là đêm liên hoan với hình ảnh của những cô gái Lào thật đẹp, thật lộng lẫy xen lẫn chút e ấp trong trang phục của dân tộc mình “kìa em xiêm áo tự bao giờ”, “nàng e ấp” với ánh sáng thật lung linh của những bó đuốc và cả âm thanh du dương, dạt dào, bay bổng của tiếng khèn “khèn lên mạn điệu”.

Trong nỗi nhớ về đêm hội liên hoan ấy, hình ảnh về Châu Mộc chiều sương cũng hiện lên thật đẹp, thật thơ mộng.

Sử dụng những từ để hỏi “có thấy”, “có nhớ” lặp lại trong nhiều câu thơ, tác giả đã gợi về trong kí ức của mình một bức tranh Châu Mộc mới thật đẹp. Với việc sử dụng các hình ảnh “chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”, “dàng người trên độc mộc”, “dòng nước lũ hoa đong đưa” tác giả đã vẽ nên một bức tranh Châu Mộc chiều sương thật thơ mộng, hư ảo, duyên dáng, tình tứ, tất cả mọi cảnh vật dường như không còn vô tri vô giác nữa mà có điệu hồn của riêng mình.

Đặc biệt, trong nỗi nhớ ấy của nhà thơ, hình ảnh những người lính Tây Tiến hiện lên thật chân thực và rõ nét.

Trên bước đường hành quân giữa cái hiểm nguy của thiên nhiên và khắc nghiệt của thời tiết, những người lính Tây Tiến phải đối diện với những trận sốt rét kinh hoàng và có lẽ đó là lí do tóc họ đã rụng dần theo năm tháng. Tuy nhiên, ở đây, thay vì nói “tóc không mọc” tác giả Quang Dũng đã sử dụng cụm từ “không mọc tóc”. Với cách sử dụng từ ngữ độc đáo này, tác giả đã đã làm toát lên khẩu khí ngang tàn, cứng cỏi của những người lính Tây Tiến – họ không cần, không thèm mọc tóc. Dường như ở đây, tác giả đã biến cái bi lụy đáng thương trở thành cái hùng tráng, đáng trân trọng ở những người lính. Bên cạnh đó, tác giả đã đối lập vẻ tiều tụy bên ngoài với chí khí “giữ oai hùm” bên trong những người lính, làm cho hình tượng người lính toát lên vẻ bi tráng.

Đồng thời, hình tượng người lính còn hiện lên với vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn.

Nhớ về những người lính, tác giả không chỉ nhớ tới vẻ đẹp của họ trên bước dường hành quân mà ông còn nhớ tới cái chết bi tráng của họ.

Với việc sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh qua các từ ngữ “rải rác”, “chẳng tiếc đời xanh” tác giả đã làm giảm đi sự đau thương và nhấn mạnh, làm nổi bật tinh thần quả cảm, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Dường như, những người lính Tây Tiến đã ra đi trong tư thế bình thản, nhẹ nhàng, bởi họ ra đi khi đã thực hiện sứ mệnh của đời mình, góp sức mình cho Tổ quốc, cho đất mẹ yêu thương. Thêm vào đó, tác giả đã mượn hình ảnh thiên nhiên để làm nổi bật tầm vóc và sức mạnh của con người. Tác giả đã lí tưởng hóa cái chết của những người lính, làm cho cái chết ấy trở nên đẹp hơn, sang trọng hơn – “áo bào thay chiếu anh về đất”. Như vậy, cái chết của những người lính Tây Tiến mang nét buồn nhưng không sầu thảm, cái buồn ấy hòa trong vẻ đẹp bi tráng. Họ chết nghĩa là họ về với đất mẹ yêu thương. Và cái chết ấy của các anh được cả đất trời, thiên nhiên đưa tiễn “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” – một sự tiễn đưa lớn cho một cái chết lớn.

Nhớ về thiên nhiên, về những người lính Tây Tiến thật nhiều, để rồi bài thơ khép lại bằng một lời thề son sắt, một nỗi nhớ khôn nguôi của tác giả với Tây Tiến

“Mùa xuân ấy” không chỉ là mùa xuân của thiên nhiên, của đất trời mà còn là mùa xuân của những kỉ niệm – mùa xuân năm 1947 và là tuổi trẻ của những người lính. Bởi vậy, nhớ về mùa xuân ấy, tác giả vẫn còn vẹn nguyên một lời thề “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Đó là lời thề của những người lình Tây Tiến – lời thề sẽ luôn nhớ, luôn khắc ghi những ngày tháng đẹp nhất của đoàn quân Tây Tiến – một đoàn quân cứu nước đã đi vào lịch sử dân tộc như một bài ca không thể nào quên.

Tóm lại, bài thơ Tây Tiến đã khắc họa thành công hình tượng những người lính Tây Tiến trên cái nền thiên nhiên miền Tây vừa hiểm nguy, dữ dội vừa kì vĩ, thơ mộng. Đồng thời, qua đó cũng giúp chúng ta thấy rõ ngòi bút tài hoa và tâm hồn phóng khoáng, lãng mạn, đa tình của Quang Dũng.

dàn ý tây tiến

dàn ý bài tây tiến

phân tích tây tiến

tây tiến dàn ý

dàn bài tây tiến

dàn ý bài thơ tây tiến

dàn ý phân tích bài thơ tây tiến

Bình Luận Facebook

.