Top 7 # Xem Nhiều Nhất Xem Bài Thơ Lượm Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Soạn Bài: “Lượm” Thơ (Tố Hữu)

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

Nhà thơ Tố Hữu (tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành) sinh năm 1920 tại Thừa Thiên – Huế, mất năm 2002 tại Hà Nội.

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, từ sáu, bảy tuổi Tố Hữu đã học và tập làm thơ. Ông giác ngộ cách mạng trong thời kì Mặt trận Dân chủ và trở thành người lãnh đạo Đoàn thanh niên Dân chủ ở Huế. Ông bắt đầu đăng thơ trên báo từ những năm 1937-1938. Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam. Năm 1942, Tố Hữu vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1945, ông lãnh đạo khởi nghĩa ở Huế. Sau Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu trở thành nhà lãnh đạo tư tưởng, văn nghệ của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng trở thành nhà thơ lớn của nền văn học cách mạng Việt Nam.

Tác phẩm đã xuất bản: Từ ấy (thơ, 1946); Việt Bắc (thơ, 1954); Gió lộng (thơ, 1961); Ra trận (thơ, 1972); Máu và hoa (thơ, 1977); Một tiếng đờn (thơ, 1992); Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973); Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981); Nhớ lại một thời (hồi kí, 2000).

Nhà thơ đã được nhận: Giải Nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam (1954 – 1955); Giải thưởng văn học ASEAN (1996); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, năm 1996).

1. Bài thơ kể và tả về Lượm bằng lời của người chú. Câu chuyện kể về cuộc gặp gỡ của hai chú cháu ở thành phố Huế trong “ngày Huế đổ máu”, sự hy sinh anh dũng của Lượm khi làm nhiệm vụ và hình ảnh sống mãi của Lượm.

Theo đó, có thể chia bài thơ thành ba phần.

– Từ đầu đến “cháu đi xa dần…”: Cuộc gặp gỡ ở Huế.

– Tiếp đến “hồn bay giữa đồng…”: sự hy sinh anh dũng của Lượm khi làm nhiệm vụ liên lạc.

-Còn lại: Lượm sống mãi với non sông đất nước.

2. Hình ảnh Lượm được miêu tả từ khổ thơ thứ hai đến khổ thơ thứ năm. Về trang phục: cái xắc xinh xinh, ca lô đội lệch. Đó là trang phục cho các chiến sĩ liên lạc thời chống Pháp.

Lượm tự hào, bởi công việc của mình.

– Cử chỉ nhanh nhẹn: Cái chân thoăn thoắt, tinh nghịch, hồn nhiên Cháu cười híp mí, miệng huýt sáo vang.

– Lời nói tự nhiên, chân thật (Cháu đi liên lạc. Vui lắm chú à. Ở đồn Mang Cá. Thích hơn ở nhà).

Hình ảnh Lượm nhỏ nhắn, vui tươi, hồn nhiên, chân thành rất dễ yêu, dễ mến.

Các yếu tố nghệ thuật từ lý, so sánh, nhịp điệu đã góp phần khắc họa chính xác và sinh động hình ảnh Lượm, chú bé liên lạc.

3.Nhà thơ hình dung chuyến đi công tác cuối cùng của Lượm rất nguy hiểm, khó khăn: Mặt trận, đạn bay vèo vèo. Nhiệm vụ cấp bách, Lượm rất bình tĩnh vượt qua khó khăn.

Bọn giặc đã giết hại Lượm, đã bắn trúng em trên đồng quê vắng vẻ. Lượm đã ngã xuống như một thiên thần bé nhỏ:

Hình ảnh Lượm thật dũng cảm khiến cho mọi người thương mến, cảm phục.

Trong đoạn thơ này có khổ thơ được cấu tạo đặc biệt gồm một câu thơ (thông thường nỗi khổ có bốn câu). Câu thơ này lại được ngắt làm hai dòng (Ra thế/Lượm ơi!…) Khổ thơ và câu đặc biệt này diễn tả lòng đau xót tiếc thương như dồn nén lại, như đứt đoạn ra trước tin hy sinh đột ngột của Lượm.

4. Trong bài thơ, người kể chuyện đã gọi Lượm bằng nhiều từ xưng hô khác nhau: Cháu, chú bé, Lượm, Chú đồng chí nhỏ, cháu, chú bé. Tác giả thay đổi cách gọi vì quan hệ của tác giả và Lượm vừa là chú cháu, lại vừa là đồng chí,vừa là của một nhà thơ với một chiến sĩ đã hy sinh. Trong đoạn thơ sau cùng, tác giả gọi Lượm là “Chú bé” vì lúc này Lượm không còn là người cháu riêng của tác giả. Lượm đã là của mọi người, mọi nhà, Lượm đã thành một chiến sĩ nhỏ hy sinh vì quê hương, đất nước.

Sự đan xen các mối quan hệ như thế khiến cho tình cảm của tác giả thêm thắm thiết và sâu sắc, gắn bó. Bài thơ vì thế càng thêm cảm động.

5*.Câu thơ “Lượm ơi còn không?” như một câu hỏi đầy đau xót về sự hy sinh của Lượm. Sau câu thơ ấy, tác giả lập lại hai khổ thơ đầu với hình ảnh Lượm hồn nhiên vui tươi. Sự lập lại có dụng ý khẳng định Lượm không chết, Lượm không mất. ở trên đã có khổ thơ nói về sự hóa thân của Lượm:

Đến đây một lần nữa, tác giả khẳng định Lượm sống mãi trong lòng mọi người, sống mãi cùng non sông, đất nước.

Bài thơ gồm mười lăm khổ (khổ thứ bảy gồm hai dòng thơ, khổ thứ 13 chỉ gồm một dòng thơ). Khi đọc bài thơ, cần lưu ý:

– Đoạn 1 đọc theo giọng kể (trung bình, chậm);

– Đoạn 2 và 3 đọc tiết tấu nhanh hơn khi đọc đoạn 1;

– Đoạn 4 đọc theo giọng đối thoại (tươi vui, thể hiện tính cách hồn nhiên);

– Hai câu đầu đoạn 5 giọng kể, câu thứ ba đọc giọng cao hơn, và câu cuối (“Cháu đi xa dần”) đọc chậm và ngừng nghỉ cách đoạn lâu hơn các đoạn trước;

– Ba câu đầu đoạn 6 đọc giọng kể, câu thứ tư đọc giọng trầm và chậm hơn, chuẩn bị tâm thế xúc động;

– Đoạn 7 gồm hai dòng thơ, mỗi dòng hai chữ, đọc chậm (nhịp 1/1), biểu lộ sự đau xót, cuối đoạn ngừng nghỉ lâu, thể hiện tình cảm lắng đọng;

– Đoạn 8, 9, 10 đọc giọng kể, thể hiện sự hồi tưởng – đặc biệt câu “Đạn bay vèo vèo” ngắt nhịp 2/1/1 mạnh và dứt khoát, câu “Nhấp nhô trên đồng” đọc chậm;

– Đoạn 11 câu đầu ngắt 1/1/2 và đọc nhấn mạnh ở chữ “lòe”, câu thứ hai ngắt 2/2 đọc chậm, các câu còn lại đọc chậm kết hợp giọng hồi tưởng;

– Đoạn 12 tiếp tục đọc chậm, giọng bồi hồi miêu tả sự hi sinh anh dũng của Lượm, cuối câu thứ tư ngừng nghỉ lâu hơn các đoạn trước;

– Đoạn 13 (“Lượm ơi, còn không ?”) ngắt 2/2 và đọc giọng trầm, tha thiết, cuối câu ngừng nghỉ lâu;

– Đoạn 14 đọc giọng tươi vui, tái hiện hình ảnh Lượm hồn nhiên, nhí nhảnh… với ý nghĩa khẳng định: Lượm hi sinh nhưng bất tử.

3. Viết một đoạn văn khoảng mười dòng miêu tả chuyến đi liên lạc cuối cùng và sự hi sinh của Lượm.

Gợi ý: Khi viết cần chú ý miêu tả kĩ các chi tiết:

– Lượm chuẩn bị cho chuyến đi liên lạc cuối cùng như thế nào?

– Hành động, ý chí của Lượm khi gặp gian nguy thể hiện ra sao?

– Khi ngã xuống vì bị trúng đạn của kẻ thù, Lượm đã làm gì? Ý nghĩa của hành động ấy?

– Nhân vật Lượm để lại trong em niềm thán phục ra sao?

Kể Lại Nhân Vật Lượm Dựa Vào Bài Thơ Lượm Của Tố Hữu

Dựa vào bài thơ “Lượm” của Tố Hữu em hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện về Lượm

Sau hai năm, tôi được chuyển công tác về Hà Nội. Một hôm, tôi nhận được mật báo của Trung ương ra cột cờ Bắc kì để lấy thư của chú bé liên lạc. “Trời ơi, sao anh bạn này lại giống Lượm đến thế, chẳng phải Lượm đã hồi sinh”. Ngỡ ngàng quá, tôi nhìn chằm chằm vào chú bé. Trên đường về, trong lòng tôi bỗng trào lên một cảm xúc bâng khuâng khó tả, có cái gì đó vừa nghẹn ngào, vừa đau đớn. Hình ảnh Lượm với bao nhiêu kỷ niệm chợt ùa về trong tâm trí tôi.

Ngày ấy, chiến tranh ở Huế đang rất ác liệt. Đường phố vắng tanh, dân đi chạy loạn, khói sung nghi ngút, khắp nơi chỉ nghe thấy tiếng bom đạn nổ. Tôi vừa về từ Hà Nội, đi qua phố hàng Bè tình cờ gặp Lượm. Chú bé có dáng người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn. Chú đi thoăn thoắt, các bước chân đều nhua. Vừa đi, Lượm vừa lắc lư cái đầu, hết nghiêng sang bên này lại nghiêng sang bên kia. Đeo chéo người là cái xắc nhỏ xinh của Lượm. Tuy bé thế thôi nhưng trong chiếc túi ấy chứa rất nhiều mật thư và tài liệu quan trọng. Lượm còn nghịch ngợm đội chiếc ca lô lệch về một bên. Chú bé vừa đi vừa huýt sáo trông rất yêu đời. Nhìn từ xa, chú như con chim chích, đang tung tăng trên đường vàng. Lượm say mê kể cho tôi nghe về côngg việc liên lạc

– Cháu đi liên lạc, vui lắm chú à! Ở đồn Mang Cá thích hơn ở nhà. Cháu có thêm bao nhiêu là bạn mới. Các anh, các bạn đều yêu thương, giúp đỡ cháu.

Chắc chú bé đang vui lắm, thích thú lắm nên cười híp mí, má đỏ như trái bồ quân. Rồi, Lượm chào tôi và tiếp tục công việc của mình.

Một hôm, tháng sáu, tôi nhận được một bức thư từ quê nhà gửi lên. Tôi như chết lặng không kìm nổi nước mắt của mình. Thật không tin, mới ngày nào tôi còn tâm sự, trò chuyện với Lượm mà bây giờ….Không hiểu sao, trong lòng tôi bỗng trào lên những cơn sóng dữ dội. Tôi đau đớn quá! Lượm không chỉ là một người đồng chí mà còn là một người bạn, một người cháu.

Hầu như ngày nào cậu bé cũng đi liên lạc và luôn hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Một hôm, câu nhận được một mật thư của cấp trên yêu cầu chuyển gấp. Chú nhanh chónh bỏ lá thư vào xắc, lên đường đi ngay. Với thân hình nhỏ bé và kinh nghiệm của những lần đưa thư trước, chú đồng chí nhỏ chạy nhanh thoăn thoắt như một mũi tên qua làn mưa đạn. Hiểu được tầm quan trọng của bức thư, Lượm không sợ hiểm nghèo tránh được tất cả những viên đạn của giặc. Qua mặt trận là cánh đồng lúa đang thời con gái xanh mơn mởn, câu bé miệng huýt sáo vang chân nhảy tung tăng trên con đường quê vắng vẻ. tưởng rằng đã hết nguy hiểm thì bỗng lòe chớp đỏ, Lượm ngã xuống. Hóa ra, một viên đạn lạc đã trúng phải người em, Lượm nằm trên lúa, tay nắm chặt bống, dường như không muốn bỏ ra.Chú bé ra đi không hề dâu đớn mà vô cùng thanh thản như là chìm trong giấc ngủ. Hương lúa thoang thoảng nâng đỡ hồn em trở về cõi vĩnh hằng.

Đọc xong bức thư mà tôi vẫn còn chưa hết sửng sốt, bàng hoàng “Lượm ơi, còn không?” Trong tâm trí tôi, bỗng hiện lên hình ảnh chú bé Lượm ngày nào. Tôi vẫn còn nhớ dáng người loắt choắt, cái xắc xinh xinh đeo bên người. Tôi sẽ không bao giờ quên được chú đồng chí nhỏ với ca lô đội lệch, miệng huýt sáo vang như con chim chích nhảy trên đườ vàng…

Đỗ Đức Việt Long – Trường THCS Giảng Võ

Cảm Nhận Về Bài Thơ “Lượm” (2)

Lượm vào năm 1949, in trong tập thơ Việt Bắc. Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc hình ảnh Lượm, một em bé thiếu nhi hy sinh vì nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nhà thơ Tố Hữu sáng tác bàivào năm 1949, in trong tập thơ. Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc hình ảnh Lượm, một em bé thiếu nhi hy sinh vì nhiệm vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Lượm là bài thơ tự sự – trữ tình kể về cuộc đời ngắn ngủi nhưng rất anh dũng của chú bé liên lạc, hồn nhiên, nhí nhảnh, yêu đời, dũng cảm đã ngã xuống để bảo vệ sự bình yên cho chính mảnh đất quê hương mình. Hình ảnh nhân vật Lượm xuyên suốt trong bài thơ.

Trong năm khổ thơ đầu, bằng cái nhìn trìu mến thân thương, tác giả đã miêu tả một chú bé rất đáng yêu:

Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh.

Ca nô đội lệch

Mồm huýt sáo vang

con chim chích

Nhảy trên đường vàng…

Nhắc đến Lượm, người đọc nhớ đến hai khổ thơ này, bởi đây là hai khổ thơ đầy ấn tượng về một chú bé liên lạc nhỏ nhắn, xinh xinh, nhanh nhẹn hồn nhiên, nhí nhảnh vui tươi. Những từ láy loát choắt, xinh xinh, thoăn thoát, nghênh nghênh được dùng rất gợi hình gợi cảm, cùng với thể thơ bốn chữ và nhịp thơ nhanh, tạo âm hưởng vui tươi, nhí nhảnh rất phù hợp với một chú bé như Lượm. Một hình ảnh so sánh đẹp như con chim chích – nhảy trên đường vàng… gợi lên trước mắt chúng ta một chú bé hồn nhiên yêu đời. Thật thú vị! Nhà thơ Lê Đức Thọ cũng có bài thơ Em bé liên lạc, ông cũng hình dung em như một con chim non vui tươi ở những câu kết:

Ngày mai trên quãng đường trắng

Có em bé lại dẫn đường bên anh.

Miệng cười chân bước nhanh nhanh,

Như con chim nhỏ trên cành vui tươi.

Có lẽ không còn hình ảnh nào có thể thay thế cho được hình ảnh con chim nhỏ và chỉ có hình ảnh này mới thể hiện được vẻ đẹp trẻ thơ của chú bé liên lạc. Bao trùm lên tất cả là cái tình của nhà thơ, cái nhìn trìu mến, thân thương của tác giả đối với chú bé. Phải yêu quý Lượm lắm thì mới miêu tả Lượm hay đến như vậy!

Người đọc yêu biết bao cái cười híp mí, má đỏ bồ quân của chú, nhưng càng yêu hơn niềm vui được tham gia kháng chiến của chú bé:

Cháu đi liên lạc Vui lắm chú à

Ở đồn Mang Cá

Thích hơn ở nhà!

Nhà thơ miêu tả Lượm vui như con chim sổ lồng. Cái ý đi làm liên lạc thích hơn ở nhà, đúng là niềm vui của con chim sổ lồng. Đó là niềm vui chung của cả thế hệ trẻ sau Cách mạng tháng Tám, chứ không riêng gì của chú bé Lượm.

Đáng yêu hơn là tiếng chào: Thôi chào đồng chí vừa tinh nghịch dí dỏm, lại vừa đứng đắn nghiêm trang, bởi em đã tham gia kháng chiến như mọi người, như chú của em vậy. Trong tiếng chào ấy ta thấy vang lên một niềm tự hào kiêu hãnh rất trẻ con, và rất đáng yêu của Lượm.

Ấn tượng của cuộc gặp gỡ vẫn còn giữ nguyên vẹn nét đẹp đẽ, vui tươi, ấm áp trong lòng tác giả, thì bỗng nhiên có tin Lượm hy sinh. Câu thơ bốn tiếng được ngắt làm hai dòng, bị gãy đôi như một tiếng nấc:

Ra thế

Lượm ơi!

Đó là nỗi sửng sốt, xúc động đến nghẹn ngào. Và nhà thơ hình dung ngay ra cảnh tượng chú bé hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ:

Một hôm nào đó

Như bao hôm nào

Chú đồng chí nhỏ

Bỏ thư vào bao

Vụt qua mặt trận

Đạn bay vèo vèo

Thư để “thượng khẩn”

Sợ chi hiểm nghèo?

Để rồi lại nghẹn ngào gọi em một lần nữa:

Bỗng loè chớp đỏ

Thôi rồi Lượm ơi!

Chú đồng chí nhỏ

Một dòng máu tươi!

Lượm đã hy sinh anh dũng như một chiến sĩ thực thụ, ở trên nhà thơ còn gọi em bằng cháu, và ở đây khi kể lại cảnh Lượm hy sinh. Tố Hữu đã gọi chú bằng những lời xưng hô trang trọng: Chú đồng chí nhỏ và có tới hai lần gọi như thế. Việc làm của em, sự hy sinh cao đẹp của em khiến em xứng đáng được nhà thơ gọi như thế. Phải chăng đó là lòng cảm phục của một cán bộ cách mạng đối với một em thiếu nhi anh hùng.

Nhưng rồi cuối cùng, tình cảm công dân ấy lại quay về tình chú – cháu. Nhà thơ lại gọi Lượm bằng tiếng cháu thân thương khi miêu tả cái chết đẹp đẽ cua em giữa đồng lúa quê hương:

Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng…

Cánh đồng quê hương như vòng nôi, như vòng tay của mẹ, ấm êm dịu dàng đón em vào lòng. Em chết mà tay vẫn nắm chặt bông lúa, quê hương và hương lúa vẫn bao bọc quanh em như ru em vào giấc ngủ đẹp của tuổi thơ anh hùng. Em chết mà hồn bay giữa đồng, vừa thiêng liêng vừa gần gũi biết bao! Không yêu mến, xót thương, cảm phục Lượm thì không thể miêu tả một cái chết hồn nhiên và lãng mạn đến như thế! Đó là cái chết của những thiên thần nhỏ bé. Thiên thần nhỏ bé ấy đã bay đi để lại bao tiếc thương cho chúng ta, như Tố Hữu đã nghẹn ngào, đau xót gọi em lần thứ ba bằng một câu thơ day dứt: Lượm ơi còn không?

Câu thơ đứng riêng thành một khổ thơ, như một câu hỏi xoáy sâu vào lòng người đọc. Nếu không có cái tình với Lượm thì nhà thơ làm sao lại day dứt thế được!

Câu hỏi ngân vang ấy, tưởng chừng như không có câu trả lời, nhưng chính tác giả đã trả lời bằng hai khổ thơ cuối khép lại bài thơ:

Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh

Ca lô đội lệch

Mồm huýt sáo vang

Như con chim chích

Nhảy trên đường vàng.

Hai khổ thơ cuối láy lại khổ thơ thứ hai và khổ thơ thứ ba như một điệp khúc để khẳng định Lượm vẫn còn sống mãi với quê hương đất nước, sống mãi trong lòng tác giả. Bài thơ hết nhưng ý thơ lại mở ra vẫn còn tiếp nối mãi trong lòng người đọc hình ảnh một chú bé liên lạc hồn nhiên mà dũng cảm, đáng yêu và đáng cảm phục. Lượm vẫn còn sống mãi trong lòng chúng ta như bài ca bất diệt về tuổi thơ trong sáng đã hiến dâng đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc.

Với thể thơ bốn chữ, một thể thơ dân gian truyền thống phù hợp với lối kể chuyện có nhịp kể nhanh. Với cách ngắt đôi câu thơ đột ngột, và nghệ thuật tách câu thơ thành một khổ thơ riêng rất độc đáo, kết hợp với cách sử dụng câu hỏi tu từ, câu cảm thán… Lượm thật sự là một bài thơ hay, cảm động về một tấm gương bé bỏng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Bài Số 27: Kể Chuyện Chú Bé Lượm Dựa Vào Bài Thơ Lượm Của Nhà Thơ Tố Hữu

Bài số 27: Kể chuyện chú bé Lượm dựa vào bài thơ Lượm của nhà thơ Tố Hữu

Ngày Huế bắt đầu kháng chiến, tôi có dịp trở về quê hương yêu dấu. Trong lần về quê ấy, tôi đã tình cờ gặp và quen một chú bé liên lạc đáng yêu có cái tên rất giản dị – chú bé Lượm ở phố Hàng Bè.

Lượm đã để lại cho tôi những ấn tượng rất thú vị ngay từ giây phút đầu tiên. Đó là một chú bé nhỏ nhắn, lúc nào bên hông cũng có cái xắc xinh xinh đựng công văn, giấy tờ cần chuyển. Cái mũ ca lô rất xinh được chú bé tinh nghịch đội lệch sang một bên. Chú còn gây ấn tượng đối với tôi bằng sự vui vẻ, hồn nhiên với những điệu sáo miệng rất vang, với bước chân nhanh nhẹn. Tôi hình dung chú như một con chim chích nhỏ bay giữa cánh đồng quê. Chú vui vẻ kể cho tôi về công việc của mình.

– Cháu đi liên lạc vui lắm, chú ạ!. Ở đồn Mang Cá, cháu thấy thích và thú vị hơn cả ở nhà.

Nói rồi cháu lại cười híp mí, cái cười hồn nhiên, vui vẻ làm đôi má đỏ màu bồ quân, thật đáng yêu. Tinh nghịch, cháu gọi tôi là đồng chí, chào tôi và đi xa dần trên con đường chuyển công văn.

Tôi đi kháng chiến mang theo nỗi nhớ quê hương và cả nỗi nhớ chú bé liên lạc đáng yêu ấy, lòng vẫn thầm mong ngày độc lập, tôi trở về gặp lại người thân và cả bé Lượm hồn nhiên ngày nào. Nhưng mong ước ấy chưa thành hiện thực thì thật đau đớn khi một hôm tôi nghe tin dữ về Lượm. Chú đã hi sinh trên đường đi liên lạc. Một người bạn kể tôi nghe về sự hi sinh của Lượm, giọng rưng rưng xúc động:

– Hôm ấy cũng như mọi ngày, nhận thư “Thượng khẩn”, chú bé bỏ ngay vào xắc. Phải vượt qua mặt trận lúc đang có chiến sự thật nguy hiểm nhưng vì nhiệm vụ, Lượm không sợ, chú vui vẻ lên đường. Qua con đường làng, đến cánh đồng, chú bé đi giữa bạt ngàn lúa đang thì trỗ đòng đòng, chiếc mũ ca lô nhấp nhô lúc ẩn, lúc hiện bạt ngàn lúa. Nhưng rồi thật đột ngột, thật bất ngờ. “Bỗng loè chớp lửa” viên đạn của kẻ thù đã trúng vào chú bé. Dòng máu đỏ từ ngực chú loang dần, loang dần tấm áo mỏng. Lượm ngã xuống trên cánh đồng quê hương, tay chú vẫn nắm chặt những bông lúa còn thơm mùi sữa. Lượm hi sinh trên đường đi liên lạc, ngay trên đồng lúa quê hương. Kể đến đây người bạn tôi nghẹn lại, mắt rưng rưng, tim tôi cũng như có ai bóp chặt. Đau đớn, xót xa thương Lượm, căm thù kẻ xâm lược. Giá không có chiến tranh, không bom đạn thì chú bé hồn nhiên ấy đang được vui chơi, đang được học hành, được chăm sóc trong vòng tay yêu thương của gia đình. Đất nước khói lửa, chú phải cùng cha anh chiến đấu vì bom đạn kẻ thù đã không buông tha ngay cả một chú bé, Lượm của chúng ta đã anh dũng hi sinh, hiến dâng tuổi trẻ của mình cho đất nước. Nhưng các bạn cũng như tôi, chúng ta đều biết rằng, sự hi sinh của Lượm không vô nghĩa, chú ngã xuống trên cánh đồng quê, quê hương thân yêu ôm ấp, vỗ về giấc ngủ bình yên. Và hơn thế, người dân xứ Huế quê tôi không quên chú, thường nhắc về chú với tình yêu thương và niềm tự hào. Lượm hi sinh nhưng hồn chú vẫn “bay giữa đồng”, bay giữa quê hương để đón ngày hoà bình.

Câu chuyện về Lượm tôi kể cho các bạn nghe chỉ là một trong vô vàn những câu chuyện cảm động về thiếu niên Việt Nam anh hùng. Nhưng câu chuyện về Lượm góp phần làm sáng thêm tên tuổi thế hệ trẻ Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Và với tôi, kỉ niệm về Lượm, ấn tượng về Lượm còn đẹp mãi.

Theo chúng tôi