Top 9 # Xem Nhiều Nhất Xem Bài Thơ Con Cò Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Phân Tích Bài Thơ “Con Cò”

I. Tác giả – Tác phẩm

Tác giả

– Chế Lan Viên (1920-1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, nhưng lớn lên ở Bình Định.

– Trước Cách mạng tháng Tám, 1945, Chế Lan Viên đã nổi tiếng trong phong trào Thơ mới với tập “Điêu tàn” (1937). Với hơn 50 năm sáng tác, có nhiều tìm tòi ở những tập thơ gây được tiếng vang trong công chúa, Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ hiện đại Việt Nam thế kỷ XX.

– Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

2. Tác phẩm:

a. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Con cò” sáng tác năm 1962, in trong tập “Hoa ngày thường – Chim báo bão” (1967) của Chế Lan Viên.

b. Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật:

* Giá trị nội dung:

Khai thác hình tượng con cò trong những câu hát ru, bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru trong cuộc đời mỗi con người.

* Giá trị nghệ thuật:

Bài thơ thành công trong việc vận dụng sáng tạo ca dao, có những câu thơ đúc kết được những suy nghĩ sâu xa.

c. Tìm hiểu mạch cảm xúc trữ tình và bố cục của bài thơ

* Mạch cảm xúc trữ tình: được phát triển theo ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò, bắt đầu từ hình ảnh con cò trong ca dao theo lời ru của mẹ đi vào tiềm thức trẻ thơ, rồi đến hình ảnh con cò mang ý nghĩa biểu tượng cho sự nâng niu chăm chút của mẹ dành cho con suốt cuộc đời, và cuối cùng là những cảm nhận sâu sắc về tình mẫu tử và ý nghĩa lời ru qua hình ảnh con cò.

* Bố cục: 3 phần.

Khổ I – hình ảnh con cò qua lời ru đến với mỗi con người thuở thơ ấu, con cò là biểu tượng cho cuộc đời lam lũ của mẹ.

Khổ II – hình ảnh con cò đi vào tiềm thức tuổi thơ trở nên gần gũi và sẽ theo con trong suốt chặng đường đời.

Khổ III – từ hình ảnh con cò suy nghĩ về lời ru và lòng mẹ, con cò là biểu tượng cho tấm lòng yêu con của mẹ.

II. PHÂN TÍCH BÀI THƠ

Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò:

Hình tượng con cò bao quát toàn bộ bài thơ được khai thác từ trong ca dao truyền thống và được tác giả phát triển, xây dựng thành ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, và ý nghĩa của lời hát ru trong cuộc đời mỗi con người.

Hình ảnh con cò qua những lời ru hát đầu đến với tuổi ấu thơ:

– Khổ I – là hình ảnh của những người phụ nữ nông dân vất vả, cực nhọc nhưng giàu đức hy sinh và những câu ca dao dùng làm lời hát ru.

Con cò bay lả bay la

Bay từ  Cổng phủ bay ra cánh đồng

Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa phủ bay về Đồng Đăng…

Đây là những cánh cò bay lả bay la dọc theo chiều dài của những cánh đồng lúa xanh tít tắp, bay về những mái nhà tranh bình yên. Hình ảnh con cò gợi cuộc sống xưa cũ từ làng quê đến phố xá, thong thả, bình yên, ít biến động. Cuộc sống ấy là quê hương thân yêu với cánh cò trải rộng. Hình ảnh con cò là nét rất riêng, rất duyên dáng, dịu dàng, đặc trưng cho làng quê Việt Nam. Con cò ấy phải chăng là hồn của quê hương, mà mẹ gửi vào giấc ngủ của đứa con.

– Hình ảnh con cò trong lời ru cảu mẹ còn là “Con cò ăn đêm, con cò xa tổ, cò gặp cành mềm, cò sợ xáo măng”. Đó là hình ảnh cánh cò vất vả, lam lũ trong ca dao:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Hay

Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non.

Đó là cánh cò tần toả, là hình ảnh của người mẹ, người phụ nữ nhọc nhằn, vất vả, lặn lội kiếm sống nuôi chồng, nuôi con. Đây không còn là con cò trắng bình yên vô tư lự mà đã trở thành biểu tượng của những người nông dân vất vả, cực chẳng đã, thậm chí còn vất vả hơn khi cò gặp cành mềm.

– Qua những lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đến với tâm hồn tuổi thơ ấu một cách vô tư. Đây chính là sự khởi đầu của con đường đi vào thế giới tâm hồn mỗi con người, của những lời ru, lời ca dao dân ca, qua đó là cả điệu hồn dân tộc. Ở tuổi ấu thơ, đứa trẻ chưa thể hiểu và chưa cần hiểu nội dung ý nghĩa của những lời ru này “Con chưa biết con cò con vạc. Con chưa biết những cành mềm mẹ hát”. Chúng chỉ cần được vỗ về trong âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru để đón nhận bằng trực giác vô thức tình yêu vô bờ bến và sự che chở của người mẹ: “Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân”.

– Nhịp 2 và vẫn đóng mở ngân vang, xen kẽ nhau trong từng dòng thơ kết hợp với biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh đã tạp nên vẻ đẹp cho câu thơ, làm cho ý thơ thêm sâu sắc. Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh thanh bình của cuộc sống, bằng giấc ngủ say nồng của trẻ thơ.

Hình ảnh con cò đi vào trong tâm hồn trẻ thơ cùng với âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru trở nên gần gũi và sẽ theo con trong suốt chặng đường đời:

– Từ lời ru của mẹ, con cò bước ra làm quen với đứa con bé bỏng. Thế rồi cò trở thành người bạn thân thiết, gần gũi.

+ Khi còn ở trong nôi “Con ngủ yên thì cò cùng ngủ. Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi”.

+ Khi con đi học “Mai khôn lớn con theo cò đi học. Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân”.

+ Và khi con đã trưởng thành “Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ. Trước hiên nhà, và trong hơi mát câu văn”.

– Như vậy, con cò đã trở thành người bạn đồng hành thân thiết hơn bất cứ người bạn nào. Cánh cò không mệt mỏi bay qua mọi không gian và thời gian, luôn ở bên con từ trong nôi, từ mái trường, từ hiên nhà, từ câu văn. Cánh cò ấy dường như tung tay theo từng ước mơ, khao khát của con. Như vậy, hình ảnh con cò là biểu tượng về lòng mẹ, là sự dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng, bền bỉ của mẹ và mẹ mong cho con có tâm hồn yêu quê hương.

Hình ảnh con còn là biểu tượng cho tấm lòng yêu con của người mẹ, theo con suốt cuộc đời:

– Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ, nhà thơ đã khái quát một quy luật tình cảm có ý nghĩa sâu sắc và bền vững: “Con dù đã lớn vẫn là con của mẹ. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”. Câu thơ giàu chất trí tuệ, triết lý. Triết lý của trái tim. Điệp từ “dù”, “vẫn” đã khẳng định tình mẫu tử là bền chặt, sắt son. Có gì cao hơn núi, có gì sâu hơn biển, và có gì bao la bằng lòng mẹ yêu con.

– Phần cuối bài thơ trở lại với âm hưởng lời ru và đúc kết hình tượng con cò trong những lời ru ấy “Một con cò thôi. Con cò mẹ hát. Cũng là cuộc đời. Vỗ cánh qua nôi”. Đúng vậy, chỉ một con cò trong lời ru của mẹ thôi mà ẩn chứa bao bài học, bao ý nghĩa về cuộc đời. Bài học ấy, ý nghĩa ấy đến với con thật nhẹ nhàng sâu lắng, qua âm điệu thiết tha của những lời ru. Không có lời ru, cuộc đời con thiệt thòi, nghèo nàn biết mấy.

2. Nghệ thuật của bài thơ

– Thể thơ tự do nhiều câu mang dáng dấp của thể thơ 8 chữ nên cảm xúc được thể hiện một cách linh hoạt.

– Cấu trúc các đoạn thường bắt đầu bằng những câu thơ ngắn, nhiều chỗ có cấu trúc giống nhau, có chỗ cấu trúc lặp lại hoàn toàn gợi âm điệu của lời ru.

– Giọng điệu suy ngẫm có cả tính triết lý làm cho bài thơ không chỉ cuốn người đọc vào điệu ru êm ái, mà hướng nhiều hơn vào sự suy ngẫm, phát hiện.

– Sáng tạo hình ảnh thiên về ý nghĩa biểu tượng nhưng cũng rất gần gũi, quen thuộc mà vẫn có khả năng hàm chứa ý nghĩa mới. Hình ảnh con cò được phát triển, mở rộng qua mỗi khổ nhưng vẫn giữ được tính liên kết, thống nhất.

– Bài thơ thành công trong việc vận dụng sáng tạo ca dao, có những câu thơ đúc kết được những suy nghĩ sâu xa.

Con Cò Lặn Lội Bờ Ao

Nói tới đồng ruộng nước, nói tới lũy tre xanh, nói tới con trâu trên luống cầy, không thể nào không thể nói tới một hình bóng quen thuộc, một hình bóng thân thương, một hình bóng thanh lịch, một hình bóng vật tổ thiêng liêng của tộc Việt, đó là con cò. Trong các loài chim, con cò có lẽ là loài chim đi vào đời sống của người Việt Nam sâu đậm nhất. Sâu đậm đến độ mở miệng ra ví von, mở miệng ra hát là nhắc đến cò. Sâu đậm đến độ trong ca dao Việt Nam có rất nhiều bài nói về con cò, trong dân ca có riêng một điệu hát mang tên là điệu hát Cò lả.

Cái cò bay bổng bay cao, Bay từ Cửu phủ bay vào Đồng Đăng. Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh. Ai lên xứ Lạng cùng anh, Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em, Tay cầm bầu rượu nắm nem, Mảng vui quên hết lời em dặn dò. Gánh vàng đi đổ sông Ngô, Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.

Sâu đậm đến độ có rất nhiều bài ca dao, đồng dao mở đầu bằng hình ảnh con cò, nhiều khi dùng cò như chỉ là một cách để dẫn nhập, vào đề mà thôi, ví dụ như:

Cái cò là cái cò Kỳ, Anh cơm nhà dì, uống nước nhà cô… Đêm nằm thì ngáy o o, Chưa ra đến chợ đã lo ăn quà. Hàng bánh, hàng bún bầy ra, Củ từ, khoai nước cùng là cháo kê. Ăn rồi cắp đít ra về, Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào. -Chả này bà bán làm sao? Ba đồng một gắp thì nào tôi mua. Nói dối rằng mua cho chồng, Về đến quãng đồng ngả nón ra ăn, Ăn rồi đau quặn, đau quăn. Đem tiền đi bói ông thầy. Bói ra quẻ này, những chả cùng nem… -Thầy bói nói dối đã quen, Nào tôi ăn chả, ăn nem bao giờ.

Tại sao hình bóng con cò lại đi vào huyết mạch, hơi thở của người Việt Nam?

Trước hết cò là biểu tượng của ao đầm Lang Việt

Con cò là hình ảnh, là biểu tượng của ao đầm, đồng ruộng. Một trong những hình ảnh đẹp nhất là hình ảnh con cò trắng như bông bay liệng la đà trên ruộng lúa mêng mông, bát ngát, trải rộng ra mãi tận chân trời, mà ta gọi là “ruộng thẳng cánh cò bay”:

Con cò là loài chim sống ở bờ nước, gần cận nhất, gắn bó nhất và thân thiết nhất với nhà nông trồng lúa nước. Con cò với dáng đẹp thanh cao, thoát tục. Cò lạng bay vút lên không trung rồi thả mình trong gió, mỏ dài, cổ dài, thân thon nhỏ, chân dài, tất cả duỗi thẳng theo một đường thẳng, liệng la đà trên sóng gió. Con cò sát cánh với nhà nông trong việc đồng ruộng. Cứ đầu mùa mưa tức đầu mùa xuân ở đất Bắc, cò lại bay về đồng nước báo cho nhà nông biết mùa trồng lúa bắt đầu. Có loài cò “gọi mưa” giống như cóc ếch, khi cất tiếng kêu gọi mưa là nhà nông biết trời sắp đổ cơn mưa…Rồi đến cuối thu, mùa lúa chín, mùa gặt hái, cò lại rủ nhau cất cánh bay đi. Ngày ngày nhà nông sáng tinh mơ ra đồng khi bầy vạc đi ăn đêm bay về tổ buông những tiếng kêu trong vắt trên không trung lúc ban mai, giống như tiếng hạc trong truyện Kiều mà Nguyễn Du đã mô tả: ” trong như tiếng hạc bay qua” và mãi tới chạng vạng tối nhà nông mới trở về nhà khi đàn cò đi ăn ban ngày gọi nhau bay về tổ, gõ nhịp mỏ rộn ràng trong cái tĩnh lặng của hoàng hôn. Trên cánh đồng, con cò đi theo sau luống cầy bầu bạn cùng nhà nông trong lúc cầy sâu cuốc bẫm . Con cò trên bờ ruộng bắt sâu bọ, cào cào, châu chấu, cua cáy… giúp nhà nông một tay trong việc bảo vệ mùa màng. Con cò trên mình trâu, bắt ruồi bọ, ve vắt, săn sóc cho con trâu, người bạn đồng lao đồng tác với nhà nông. Con cò là hình ảnh của cần cù, siêng năng, chịu khó, chịu khổ, tự túc, tực cường, chỉ biết trông cậy vào sức mình, chỉ biết tự lực cánh sinh để lo cho bản thân, cho con cái, cho gia đình, cho dòng tộc, đất nước giống như những người nông dân Việt Nam:

Hàng ngày bên bờ sông rộng, sóng to, cò cần cù lặn lội kiếm ăn:

Những lúc mưa to, gió lớn cây quả cong queo thu hình, con ốc nằm co nghỉ ngơi, con tôm vui đùa vùng vẫy đánh đáo trong vũng nước bùn thì lại là lúc cò phải dầm mưa đi kiếm ăn:

vì những lúc mưa to gió lớn cá tôm mới vào bờ kiếm thức ăn từ mặt đất trôi xuống và vì những lúc này nhờ nước đục, cò thấy cá tôm mà cá tôm lại không thấy cò, cho nên những lúc trời mưa to gió lạnh là lúc cò mới dễ kiếm ăn, như ta thấy qua câu “đục nước béo cò”. Cũng cần biết thêm là cò chỉ là loài chim sống ở bờ nước, không bơi lội dưới nước, nên không có chất dầu nhờn làm cho lông không bị ướt như loài vịt. “Nước đồ đầu vịt” không ướt nhưng mưa trút xuống đầu cò, thân cò thì cò bị ướt sũng và trở thành “cò bợ mắc mưa”. Vì thế trong cảnh mưa to gió lớn, người ướt sũng nước mưa mà cò cũng phải đi kiếm ăn chẳng khác gì người nông dân làm ruộng trong mưa gió. Tóm lại con cò là biểu tượng của ao đầm, đồng ruộng nước, của người nông dân cần mẫn Việt Nam (cũng nên biết ruộng nước có gốc từ ao đầm, ruộng chiêm là ruộng thấp cò nhiều nước có gốc là ruộng chằm tức đầm ao).

Con cò là biểu tượng cho người phụ nữ đồng ruộng Việt Nam

Qua văn học dân gian ta thấy con cò mẹ mang hình bóng của người phụ nữ Việt Nam cao đẹp, tuyệt vời:

Giống như người đàn bà Việt Nam một đời tần tảo, vất vả ngược xuôi, dù núi cao, dù sông rộng, dù biển khơi, dù nắng lửa, mưa dầu, dù phong ba, bão tố, cò vẫn lặn lội đi kiếm ăn lo cho chồng con. Cụ Tú Xương cũng đã so sánh vợ mình với hình ảnh con cò:

gặp những lúc đất nước chinh chiến, loạn ly, người phụ nữ Việt ngoài việc thay chồng nuôi mẹ, nuôi con còn phải thăm nuôi cả chồng đi lính trấn giữ biên cương:

Cũng như những tấm lòng mẹ Việt Nam, cò mẹ hy sinh tất cả đời mình cho con:

dù ngay cả trong đêm tối, không phải là lúc cò đi kiếm ăn, mà nhiều khi cũng phải liều thân đi tìm mồi cho con nên cò mẹ đã “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”:

dù ngay cả lúc biết mình sắp chết trong nồi sáo măng, cò mẹ cũng còn nghĩ đến đàn con thơ dại trong trắng, cò mẹ muốn được chết trong sạch nên cầu xin người “Có sáo thì sáo nước trong” vì “sáo nước đục đau lòng cò con”.

Ngoài việc nuôi dưỡng, mẹ cò cũng một đời lo lắng chăm sóc cho con ăn học nên người:

Nhiều khi vì mẹ cò thương con quá mà cò con đâm ra nhõng nhẽo:

Mẹ là tất cả, thiếu mẹ là thiếu tất cả. Những khi cò mẹ phải đi làm nghĩa vụ công dân như đắp đàng, vét sông, cò con thiếu ăn, thiếu sự chăm sóc, thấy bơ vơ, trở thành tuyệt vọng:

Cái có là cái cò vàng, Mẹ đi đắp đàng, con ở với ai? Con ở với bà, bà không có vú, Con ở với chú, chú là đàn ông. Thôi con chết quách cho xong.

Tóm lại mẹ cò mang hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam xinh đẹp, yểu điệu “phất phơ hai giải yếm đào gió bay” nhưng đảm đang, kiêu hùng. Giữa cuộc đời đầy mưa sa gió táp, khi “lên thác xuống ghềnh”, lúc “bãi xa, sông rộng, sóng to”, khi binh đao khói lửa, hai cái giải yếm đào đó vẫn một đời tận tụy cùng cực lo cho chồng, cho con, cho nhà, cho nước.

Cò là tiếng hát của đồng lúa xanh “thẳng cánh cò bay”:

Cò không phải chỉ là hình ảnh cần cù làm việc, hình ảnh kham khổ của đời sống chân lấm tay bùn, của lòng mẹ bao la mà cò còn là tiếng hát tuyệt vời của đồng xanh Việt Nam. Cò đã đi vào tiếng hát của dân dã Việt Nam, của đồng ruộng Việt Nam qua cả một thể điệu đặc thù gọi là điệu hát Cò lả.

Cò có đàn, có bầy, tiếng hát Cò lả là tiếng hát đúm, hát đàn, tiếng hát của tập thể nam nữ, của xóm làng, của đồng ruộng, tiếng hát “linh đình”, tiếng “hát cho lăn lóc đá, cho rung rinh trời”:

Một đàn cò trắng bay tung, Bên nam bên nữ ta cùng hát lên. Hát lên một tiếng linh đình. Cho lăn lóc đá, cho rung rinh trời. Hát lên một tiếng linh đình, Cho loan sánh phượng, cho mình sánh ta. Cất lên một tiếng la đà, Đàn ông hát trước, đàn bà hát sau.

Cò lúc nào cũng được mời đến tham dự, chia xẻ với giọng hát, câu hò:

Cò được khích lệ, được khuyên đừng ngại làng khen chê, chẳng ai cười lời hát của kẻ quê mùa đồng ruộng:

Hình ảnh cò, tiếng hát cò lả gắn liền với tiếng hát giao duyên, tiếng hát nên vợ nên chồng:

Và cò cũng được mời nghe những lời hát gìn giữ đạo lý gia đình:

Qua những câu ca dao trên, ta thấp thoáng thấy đó là lời của phái nữ, của “chúng chị” mời chào cò, tức là hình bóng của phái nam, tham dự vào đám hát đúm. Cò mang một biểu tượng cho phái nam, mặt trời, chương trình sẽ trình bầy trong lần tới.

Con cò là biểu tượng của đồng lúa, của người nông dân, của người phụ nữ Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa cũng vẫn cất tiếng hát lên, tiếng hát vang vọng đồng xanh, tung lên đến tận trời cao, tiếng hát bay bổng, la đà, tiếng hát mang trên đôi cánh cò “bay lả bay la” tung ra khắp bốn phương trời của đồng xanh sông nước. Dù trong cảnh huống nào của cuộc đời đi nữa, mà vẫn còn cất lên được tiếng hát, thì tiếng hát đó cũng vẫn là tiếng hát hạnh phúc trong cảnh huống đó. Con cò là biểu tượng cho hùng tính, cho phái nam:

Như ta đã biết qua những điệu hát cò lả, hát đúm, hàt đàn, cò thấp thoáng mang hình bóng phái nam được “chúng chị” phái nữ mời chào rủ hát chung:

Thật vậy, cò là còn biểu tượng cho phái nam, cho hùng tính, cho dục tính phái nam. Từ cò biến âm với “cồ” là đực ví dụ như gà cồ là gà sống. Từ cò lấp láy với “kè” như ta thấy qua từ lấp láy điệp nghĩa “cò kè”. Kè là cái cọc, cái nọc đóng ở bờ nước như đóng kè, đổ kè. Kè biến âm với cừ cũng có nghĩa là cái cọc đóng ở bờ nước như đóng cừ. Cò và kè biến âm với “ke” như ta thấy qua từ láy “cò ke”. Ke là que là nọc. Câu nói “cò kè bớt một thêm hai” ngày nay có nghĩa là trả giá có nguồn gốc nguyên thủy là ngày xưa con người tính toán, trả giá bằng những cái thẻ, cái que có khắc dấu và người xưa ký giao kèo bằng cách bẻ đôi một cái que, một cái “kèo” rồi mỗi người giữ một mảnh để làm bằng. Theo từ điển Việt-Bồ-La của giáo sĩ Đắc Lộ cổ ngữ Việt “ke” là bộ phận sinh dục đàn ông. Như thế con cò là con cồ, con kè, con cừ, con ke, con que mang ý nghĩa cái giống phái nam. Cò biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam thấy rõ qua câu:

Câu “cơm no cò đói” hay “bụng no cò đói” cùng nghĩa với câu:

Cò vì thế cũng dùng chỉ các cơ phận có hình nọc nhọn ví dụ như cò súng.

. Cò biểu tượng cho dục tính phái nam:

Cò là biểu tượng cho dục tính phái nam nên thường được nói tới trong chuyện lấy vợ, chuyện chăn gối:

.Cò biểu tượng cho đực, cho phái nam, cho dòng nọc, dòng cha, dòng Việt, trong khi trai sò biểu tượng cho phái nữ, cho dòng nòng, dòng mẹ, dòng nước, dòng Bộc như ta thấy qua câu:

Qua câu “U ơi, u lấy vợ hai cho thầy” ta cũng thấy cò mang biểu tượng cho cường dương, hình ảnh cò cường dương này thường thấy qua việc các ông muốn lấy vợ bé:

Cò là biểu tượng cho cường dục nên cũng biểu tượng cho sinh con đẻ cái như ta thường thấy ở Tây phương dùng hình ảnh con cò tha cái tã bọc đứa trẻ sơ sinh bay đến nhà nào là biểu tượng báo cho biết nhà đó vừa mới sinh con. Cò là biểu tượng của dục tính phái nam nên ngoài loại cò cường dương thích lấy vợ hai, vợ bé cũng có loại cò suy dương, liệt dương mang hình ảnh của cò bợ, cò mắc mưa, cò rù, cò quăm. Cò biểu tượng cho hùng tính, cường dương ứng với loài cò cứng, cò lạng, cò lả trong thiên nhiên. Người Anh Mỹ gọi là cò cứng là cò “stork”. Theo tầm nguyên ngữ học Tây phương từ stork có gốc từ cổ ngữ Anh ‘stearc’, có nghĩa là cứng, stork liên hệ với Anh ngữ hiện kim “stiff” là cứng. Cò cứng, cò lả, cò lạng, cò liệng có cánh rất dài nên có thể bay vút lên rất cao trong không trung và rồi thả mình trên cánh gió liệng la đà không cần vỗ cánh. Cò lả, cò lạng, cò liệng có hình dáng cứng khi bay CỔ DÀI VÀ CỨNG DUỖI THẲNG HÀNG với thân và đuôi, không bao giờ thấy cổ rụt lại tựa vào vai cánh. Loại cò thứ hai khi bay cổ rụt lại tựa vào vai cánh, cổ có hình chữ S, đây là loại cò quăm. Loại cò quăm chỉ bay chứ không biết liệng nghĩa là lúc nào cò cũng phải vỗ cánh, Anh ngữ gọi là cò ‘heron’. Chỉ cần nhìn cò bay ta có thể nhận biết con cò thuộc loài cò lả, cò lạng, cò cứng hay cò quăm không biết liệng. Cổ ngữ quăm biến âm với quắm, khoằm có nghĩa là cong queo. Cò quăm là cò cổ cong queo như ta thấy qua câu:

Cây mắm cò quăm, cây xú cò queo, Thắt lưng cho chặt mà theo anh về, Ăn cơm với cá mòi he, Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

Ở đây cần giải thích câu “Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời”. Hòn Gay, Cẩm Phả là hai mỏ than lớn ở miền Bắc, lấy chồng Cẩm Phả làm phu mỏ than phải đun xe than suốt đời. Củ ấu với cái gai nhọn cong queo cũng được ví với cò quăm như ta thấy qua câu đố về củ ấu như sau:

Cò cứng biểu tượng cho hùng tính, cường dương trong khi cò quăm cong queo mang biểu tượng cho suy dương, liệt dương . Mấy ông cò quăm suy dương thường hay giận cá chém thớt nghĩa là thường hay đánh vơ:

để ý ta thấy các ông cò quăm hay đánh vợ vào lúc chập tối cho nên mới được dân gian khuyên là “có đánh thì đánh sớm mai, chớ đánh chập tối”. Tại sao cò quăm lại hay đánh vợ vào lúc chập tối? Xin thưa là vì mỗi khi đêm về là đem về nỗi lo âu, buồn rầu cho cò quăm. Cò quăm ghen tương, thấy thiếu tự tin, thấy bất lực, thấy lo ngại chuyện chăn gối nên hay gây sự và đánh vợ vào lúc chập tối và nhiều khi cố ý làm như vậy để nếu vợ “chẳng cho nằm” lại càng mừng vì được yên thân. Chắc có người thắc mắc là tại sao lại có sự tréo cẳng ngỗng là con cò vừa là biểu tượng của nam tính vừa là biểu tượng cho phụ nữ Việt Nam. Xin thưa không có gì là nghịch lý cả. Phụ nữ Việt Nam là con cháu của Thái dương thần nữ Âu Cơ nên đều là dương nữ, đều là những anh thư, liệt nữ cả. Có tác giả đã cho rằng tên Âu Cơ là từ Hán Việt phiên âm từ “U Cò” hay “O Cò”. U Cò Âu Cơ đẻ ra các nàng cò Việt “Phất phơ hai giải yếm đào gió bay”. Lịch sử Việt cũng cho thấy phụ nữ Việt đầy hùng tính, dương tính, là những anh thư, liệt nữ như hai bà Trưng, bà Triệu…

Ngày nay phụ nữ Việt cũng không thua kém gì nam nhi, trong gia đình vẫn là những nội tướng…

Cò là chim Việt, vật tổ của Lang Việt.

Các chim tổ phía Nọc, Lửa, Mặt Trời, Nọc thái dương của Đại tộc Việt đều là những loài chim mang dương tính có tên có nghĩa là nọc, cọc, que, vọt (nói chung là vật nhọn)… tức là CHIM VIỆT vì Việt có một nghĩa là vọt (roi, nọc), vớt (con dao cán dài), hiểu theo nghĩa Hán Việt thì Việt là rìu, một thứ vật nhọn sắc (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), ví dụ ở Cõi Tạo Hóa ta có chim biểu là chim cắt, chim rìu tức Chim Việt tạo hóa; ở Cõi Trời đất dương thế gian là con Gà qué (gà trống); qué là que, nọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc), Gà là Chim Việt Cõi Đất dương thế gian vì tuy là loài chim nhưng gà sống nhiều trên mặt đất. Ở Cõi Đất âm bên bờ nước là con Cò. Cò là loài chim lội nước chứ không phải là loài chim nước. Cò biến âm với cồ (đực), cu, với cổ (cây, trụ); cổ người là cây trụ cắm đầu vào thân người, ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời (Bàn là phiến đá bằng, bàn thạch, bằng như mặt bàn và Cổ là cây Trụ). Cò là Chim Việt của vùng Đất âm có nước, ao đầm (nên nhớ cò là loài chim lội nước, sống ở bờ nước, vùng đất có nước chứ không phải là loài chim nước, sống dưới nước); chim biểu thật sự của Cõi Nước âm là con Cốc. Con cốc có mỏ mang dương tính nhọn như mũi phi tiêu, có loài dung mỏ đâm cá vì thế dân dã Âu Mỹ còn gọi tên là “darter” (“chim phi tiêu”). Từ Cốc biến âm với cọc… Con cốc mang âm tính nhiều hơn cò vì chân cốc có màng, bơi lội và lặn hụp dưới nước được. Con cốc thường có mầu đen là mầu của nước thái âm. Như thế con Cốc biểu tượng dương của nước thái âm. Cốc là chim biểu của nước-dương của Lạc Long Quân. Cốc là Chim Việt Cõi Nước. Vì thế Cò nhìn chung là chim biểu, chim tổ của những tộc sống ở vùng đất âm có nước như ao đầm (Đoài thế gian), sông ngòi nhưng mang dương tính nhiều nghĩa là dương của âm tức thiếu âm, nguyên thể của khí gió tức Đoài vũ trụ. Nhìn chung Cò là chim biểu Khôn dương, bầu trời, gió của vùng đất âm có nước, ao đầm Đoài thế gian. Cò mang khuôn mặt dương trội cồ, cu nên nghiêng nhiều về phía chim biểu Khôn dương khí gió, mang khuôn mặt tiêu biểu cho Khôn dương, khí gió, Đoài vùng đất âmcó nước (cần phân biệt ao đầm là bọc nước ấm, dương là Đoài thế gian, trong khi bọc khí gió dương là Đoài vũ trụ), chim biểu của Đoài Hùng Vương trong khi cò nước, cò đêm, con vạc là chim biểu của tộc sống vùng sông nước mang âm tính nhiều của dòng Lạc Long Quân của đại tộc cò Hùng Vương tức Hùng Vương ngành Lạc Long Quân. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, vì Tổ Hùng Vương có một khuôn mặt bầu Vũ Trụ, bầu Trời, Khí Gió nên mới được Thần Sấm Dông Gió Phù Đổng Thiên Vương giúp đánh dẹp giặc Ân. Như thế cò mang khuôn mặt chính biểu tượng cho Khôn dương khí gió phải là chim biểu của Tổ Hùng Vương sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ (xem Chim Lạc hay Cò Lang).

Con cò, con vạc con nông, Ba con cùng béo, vặt lông con nào, Vặt lông con cốc cho tao, Hành răm mắm muối cho vào mà thuôn.

Con cò, con vạc, con nông cả ba đều là vật tổ dù cho “ba con cùng béo” nhưng vì là chim tổ nên kiêng kỵ không “vặt lông” làm thịt mà lại vặt lông con chim cốc.Cò là chim tổ của Lang Việt cho nên trong các loài chim, con cò khi chết, cò là loài chim duy nhất được làm đám ma chôn cất đàng hoàng và vong linh con cò được thờ phượng:

Đám ma cò là một loại đám ma trọng thể, một thứ “quốc táng” có đầy đủ bốn tộc Người Việt mặt trời rạng ngời của liên bang Văn Lang tham dự:

Cò là chim Việt sống ở bờ nước thuộc họ Việt mặt trời thái dương nên khi chết được chim bổ cu, bổ cắt là chim biểu của họ Việt mặt trời thái dương đứng ra làm chủ lễ chọn ngày lành, giờ tốt, cử đám ma: “bổ cu mở lịch xem ngày làm ma” là vậy. Trong đám ma cò có đủ mặt đại diện của các tộc khác đến tham dự như cà cuống là con cá cuống là con nọc nước là đại diện của tộc cha nước, mặt trời nọc nước; ếch nhái là đại diện của tộc mẹ lửa thái dương, mặt trời nữ thái dương ngành lửa thái dương; chim chích là chim nọc nhọn đại diện tộc núi nọc và chim chào mào đại diện tộc gió. Cũng cần biết thêm là cái mào lông, cái bờm lông biểu tượng cho gió. Bờm biến âm với buồm liên hệ với gió. Con bướm là con bờm, con buồm, con “gió” , con “bay”. “Thằng Bờm có cái quạt mo”. Cái quạt biểu tượng cho gió cho nên thằng bé có cái quạt gió có tên là thằng Bờm. Con chim chào mào có bờm lông trên đầu nên là chim biểu của người Mặt trời gió Hùng vương. Đám ma cò Lang Việt có: Mặt trời-Lửa bổ cu ứng với Mặt trời Lửa, Ánh sáng Đế Minh, đội lốt thần mặ trờ Viêm Đế ở cõi tạo hóa và bố tộc: Mặt trời núi chim chích Kinh Dương vương, Mặt trời Lửa-Nước cà cuống Lạc Long Quân. Mặt trời Lửa Thái dương thần nữ Âu cơ Ếch nhái và Mặt trời gió Hùng vương chim chào mào.

Theo duy dương, thời phụ quyền cực đoan phái nữ bị gạt ra ngoài chính trường, Ếch nhái Âu cơ bị loại ra, thay thế bằng chim di tức chim lửa vì thế mới có một bài hát khác như sau:

Con cò chết rũ trên cây, Bổ cu mở lịch xem ngày làm ma, Cà cuống uống rượu la đà, Chim di ríu rít nhẩy ra chia phần. Chào mào thì đánh trống quân, Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao…

Dị bản này cho thấy Bổ cu là chim biểu của toàn họ Việt mặt trời Thái dương ứng với Viêm Đế, cà cuống là biểu tượng của Mặt trời Việt-nước ứng với Lạc Long Quân, chim di là biểu tượng cho Mặt trời Việt lửa Đế Minh, chào mào là biểu tượng cho Mặt trời Việt-gió Hùng vương và chim chích là biểu tượng của Mặt trời Việt núi Kinh Dương vương và ếch nhái Âu cơ bị loại bỏ ra ngoài.

Vì cò là chim tổ của Lang Việt nên bài ca dao về đám ma cò này cũng được lưu truyền rộng rãi ở miền Trung và miền Nam Việt Nam nhưng bài hát có sửa đổi đôi chút theo sắc thái địa phương. Ở miền Trung bài ca dao này được hát như sau:

Ở đây cần phải giải nghĩa từ “mắc dò”. Từ “dò” biến âm với “rọ”, “giỏ” là cái bẫy chim. Con cò mắc dò mà chết là con cò mắc vào bẫy chim mà chết. Qua bài hát này ta thấy người đứng làm chủ lễ đám ma cò là con quạ, chim biểu của mặt trời lặn, một khuôn mặt của Lạc Long Quân. Ở đây ta còn thấy cả xóm cả làng để tang cho cò: Xóm làng chạy đến lăng xăng, Mua ba thước vải buộc khăn cho cò.

Vào tới miền Nam bài hát đám ma cò lại được hát như sau:

qua bài hát này ta thấy con quạ của ngành mặt trời nước Lạc Long Quân đứng ra “mua nếp làm chay”, chim bổ cu, bổ cắt là chim biểu của tộc Mặt trời lửa Đế Minh “đánh trống ba ngày”, con ngỗng là chim biểu của một tộc Mặt trời gió Hùng vương “gọi bầy mâm ra”, con cộc, con cốc, chim biểu của tộc Mặt trời-nước, một khuôn mặt dòng nước của Lạc Long Quân “ăn cá ngâm nga” và con cà cưỡng tức con sáo đá, chim biểu của tộc Mặt trời núi đá Kinh Dương vương “phải ra ăn mày”. Dị bản ở miền Nam này lại cho con ngỗng gió là chim biểu của một tộc Hùng Vương và con chim cộc, chim cốc, chim thằng cộc là một loài chim nước được chọn là chim biểu cho một khuôn mặt nước của tộc mặt trời nước Lạc Long Quân. Ở miền Nam còn có một dị bản khác nữa như sau:

qua bài này ở đây ta thấy con diều hâu biểu tượng cho lửa, mặt trời lửa ứng với Đế Minh, hậu thân của Viêm Đế đứng ra “xúc nếp làm chay”, con tú hú là chim biểu của Mặt trời gió Hùng vương “đánh trống ba ngày”, con bìm bịp biểu tượng cho Mặt trời nước Lạc Long Quân (bìm bịp kêu thì lụt) “bầy mâm ra” và con quốc, là loài chim nước mỏ ngắn thuộc họ nhà gà là chim biểu của Mặt trời Đất âm Non dòng An Dương vương, thuộc dòng Thái dương thần nữ Âu cơ. Theo truyền thuyết thì khi Thục Đế chết vì tiếc thương nước nên hồn đã nhập vào con chim cuốc có tiếng kêu khắc khoải. Chim cuốc Thục Đế là chim biểu của Thục Phán An Dương vương thuộc dòng mẹ Âu cơ cho nên câu cuối của bài hát mới cố ý nhắc tới mẹ chim cuốc: “Mẹ nó đi chợ đường xa chưa về”. Qua bài hát đám ma cò từ Bắc chí Nam cho thấy các loài vật tổ của bốn tộc Việt Mặt trời Lửa, Việt Mặt trời Núi, Việt mặt trời Nước và Việt Mặt trời Gió của liên bang Văn Lang, họ Hồng Bàng mặt trời thái dương có đủ mặt đến chăm lo mai táng cho cò. Điều này hiển nhiên cho thấy con cò là chim biểu của đại tộc Việt. Bằng chứng cụ thể nhất, kiên cố nhất là hình ảnh cò còn ghi khắc lại trên sử đồng Đông Sơn. Trên nhiều trống đồng, tiêu biểu nhất là trên trống đồng Ngọc Lũ còn ghi khắc hình cò bay vòng quanh mặt trời rạng ngời thái dương. Tác giả Đào Duy Anh theo bước chân của các học giả Pháp Finot và Goloubev (Gô-Lu-Bép) trước đây gọi con chim trên trống đồng Ngọc Lũ là chim Lạc và cho rằng chim Lạc là một loài chim ngỗng trời ở Giang Nam là vật tổ của Lạc Việt. Theo tôi, con chim trên trống đồng Ngọc Lũ I có mỏ được khắc rất cường điệu dài bằng cả chiều dài thân người, cổ dài duỗi thẳng, bay ở tư thế liệng, đây chính là cò lả, cò lang, cò trắng, cò Lang Việt chim biểu của Hùng Vương. Đây chính là con Cò Việt bay quanh mặt trời Việt rạng ngời ở tâm trống. Qua cổ sử hình bóng cò cũng thấy qua tên gọi kinh đô của nước Văn Lang là Bạch Hạc thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay, qua địa danh Hạc Trì có nghĩa là Ao Cò . Cũng cần nói thêm là từ hạc chỉ chung loài cò và loài sếu chứ không hẳn chỉ riêng con sếu hạc. Bạch Hạc phải hiểu là Con Cò Trắng. Hạc Trì phải hiểu là Ao Cò. Ao phải đi đôi với Cò, Ao không đi đôi với Hạc vì con hạc kiếm ăn trên đất cạn. Tóm lại con cò là chim Việt, chim tổ của Lang Việt của Hùng Vương có mạng khí vũ trụ.

Sự tranh chấp giữa phụ quyền và mẫu quyền qua hình bóng con cò:

Ta đã thấy cò là chim biểu của họ Việt mặt trời thái dương dòng nọc, dòng cha và trai, sò, hến là biểu tượng cho mặt trời nòng nước, dòng nòng, dòng mẹ. Khi phụ quyền thoán đoạt mẫu quyền, thống trị ngành mẹ một cách quá đáng, thì ngành nòng nổi dậy. Sự tranh giành, tranh chấp quyền hành này thấy rõ qua hình bóng cò trong văn học dân gian. Văn học dân gian nhiều khi là một thứ sử miệng, “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Thật vậy mẫu quyền chống đối lại chế độ phụ quyền cực đoan, thấy rõ qua câu:

Tôm là biểu tượng cho dòng mẹ, dòng nước. Cò là biểu tượng dòng cha. Cái tôm phản ứng “quặp lại”, mà “ôm cái cò”. Trai sò cũng là biểu tượng cho dòng mẹ, dòng nước, ta cũng thấy có sự tranh chấp giữa dòng cò cha và dòng trai sò mẹ qua câu:

hoặc qua hình ảnh rắn, lươn là biểu tượng của dòng mẹ, dòng nước. Lươn dòng mẹ cũng chiến đấu chống lại cò dòng cha:

Cái cò là cái cò con, Mẹ đi xúc tép, để con coi nhà, Mẹ đi lặn lội đồng xa, Mẹ xà chân xuống phải mà con lươn. Ông kia có cái thuyền nan, Chở vào ao rậm xem lươn bắt cò, Ông kia chống gậy lò dò, Đi vào bụi rậm xem cò bắt lươn. Con cò cắp cổ con lươn, Con lươn cũng cố quấn quanh cổ cò. Hai con, cò kéo, lươn co. Con lươn tụt xuống con cò bay lên.

Và ta cũng thấy trong cùng một đại tộc họ nhà cò vạc đã có những phân hóa, chia rẽ, đã có những sự hãm hại, vu oan giá họa cho nhau, đã có những sự giết hại lẫn nhau như con cò đã bị con vạc, con nông đổ ngờ là dẫm lúa của nhà nông nên cò đã bị nhà nông chất vấn đích danh trong bài ca dao sau đây:

(lưu ý ở đây dùng từ ” Cái cò” vì cò ở đây là cò mẹ bằng chứng thấy qua nhóm từ “Mẹ con nhà nó”… ở dưới).

Tóm lại qua hình bóng cò trong văn học dân gian ta đã thấy có sự tranh quyền giữa mẫu hệ và phụ hệ, giữa Hùng Vương ngành lửa Mẹ Kì Dương Vương với An Dương vương ngành mặt trời nước Cha.

Cò trong tình yêu đôi lứa

Cò là biểu tượng cho dục tính phái nam, Cò lả là tiếng hát của đồng xanh thẳng cánh cò bay, là tiếng hát giao duyên, tiếng hát “đẹp cốm, tươi hồng”, tiếng hát “nên vợ nên chồng” thì hiển nhiên hình bóng cò phải có trong tình yêu đôi lứa.

Hình bóng cò trong thương nhớ:

Một đàn cò trắng bay quanh, Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta. Mình nhớ ta như cà nhớ muối, Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng. Mình về mình nhớ ta chăng?

Hình bóng cò trong ướm hỏi, thả tình:

hình bóng cò trong ỡm ờ:

Con cò lặn lội bờ ao, Ăn sung sung chát, ăn đào, đào chua. Ngày ngày ra đứng cổng chùa. Trông ra Hà Nội xem vua đúc tiền. Ruộng tư điền không ai cầy cấy, Liệu cô mình ở vậy được chăng? Mười hai cửa bể anh cũng đóng đăng, Cửa nào lắm cá, anh quăng chài vào.

Hình bóng cò trong ve vãn, tán tỉnh:

nói chuyện giăng ca là nói chuyện trai gái huyên thuyên.

Hình bóng cò trong gạ gẫm, phỉnh gạt:

Đêm khuya nghe vạc cầm canh, Nghe chuông dóng sáu, nghe anh khuyên nàng Anh khuyên, nàng đã hồ nghe, Trách con gà trống te te gáy dồn…

Hình bóng cò trong yêu thương:

Hình bóng cò trong tiếc nuối, có một chàng nuôi một nàng cò con bé bỏng đến khi nàng khôn lớn nàng cất cánh bay đi:

Hình bóng cò trong dang dở:

Tóm tắt lại cò là biểu tượng của Lang Việt ao đầm, ruộng nước, là hình ảnh cao đẹp, kiêu hùng của người phụ nữ Việt “phất phơ hai giải yếm đào gió bay”, là tiếng hát của đồng xanh thẳng cánh cò bay, cò là biểu tược cho hùng tính, cho mặt trời rạng ngời, cò là con chim Việt, con chim Lang ở bờ ao đầm, là vật tổ của Lang Việt của đại tộc Việt. Đây là lý do tại sao hình bóng cò đi vào huyết mạch, vào hơi thở của người Việt ngày nay.

(Trích trong Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

NGUYỄN XUÂN QUANG

Phân Tích Bài Thơ “Con Cò Mà Đi Ăn Đêm”

Ca dao, dân ca vốn là một phần không thể nào thiếu với người dân lao động của nước ta. Nó là người bạn thân thiết đồng hành cùng người nông dân trên cánh đồng bát ngát hình ảnh con cò con vạc là những hình ảnh vô cùng quen thuộc.

Hình ảnh cánh cò đối với người nông dân trở thành người bạn tri kỷ thân thiết. Trong ca dao, cánh có là hiện thân của người nông dân lao động chất phác, hiền lành, siêng năng, trong công việc ruộng nương đồng áng của mình.

Bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm” mượn hình ảnh tiếng kêu cảu con cò khoi lâm nạn để nói lên tâm trạng nỗi lòng của người dân lao động khi họ bị chèn ép bức bách nhưng họ vẫn muốn chết vinh còn hơn sống nhục.

C on cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi! ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Đọc bài ca dao ta có thể cảm nhận đây là hình ảnh của một bài cao dao ngụ ngôn ẩn ý độc đáo thể hiện lý tưởng sống của con người. Những con cò vì cuộc sống khó khăn, vì mưu sinh mà phải vất vả đi tìm kiếm thức ăn vào buổi tối không may gặp nạn, nhưng nó vẫn không nửa lời van xin tha mạng mà chỉ muốn mình được chết thanh bạch giữ được tâm hồn thanh cao, thanh danh của mình.

Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ở đây nhân vật gặp nạn là con cò, đồng thời con cò trong bài ca dao, cũng là hình ảnh trọng tâm của toàn bài ca dao. Nhưng thực chất nó chính là hình ảnh của người nông dân lao động trong hoàn cảnh éo le, cay đắng của đời mình. Họ mong muốn được chết một cách trong sạch chứ không muốn sống nhục nhã.

Con cò vì muốn mưu sinh mà phải lặn lội mò cua bắt tép vào ban đêm, vì họ nghèo muốn kiếm miếng cơm manh áo nuôi gia đình để tồn tại, Người đọc cảm thấy vô cùng xúc động nghẹn ngào với những câu mở đầu thể hiện một con cò chăm chỉ, thương yêu người thân gia đình mình.

Ông ơi! ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Từ ông được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thể hiện cho giai cấp cầm quyền, những người có quyền lực có thể giúp đỡ thân phận của chú cò. Những người này là tầng lớp trên đại diện cho tầng lớp bóc lột của chếđộ cũ.

Từ ông được nhắc lại đến ba lần, hai từ tôi được điệp lại như một nốt nhấn bi thảm của bài ca. Con cò như một người nông dân lao động bị áp bức bóc lột vô cùng nặng nề, thảm cảnh của chú cò chính là cuộc sống cùng cực của người nông dân lao động khốn khổ.

Ông ơi! ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thi xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con Lời cầu xin của chú cò hoàn toàn

Lời khẩn cầu của còn có hoàn toàn không vì nhu cầu ham sống sợ chết mà muốn thể hiện tấm lòng trinh bạch, muốn có một cái chết trong sạch, không bị vấy bẩn. Rõ ràng trong lời phân trần này con cò không sợ chết mà con cò muốn đem cái chết để thể hiện tấm lòng trinh bạch, trong sạch của mình khi lỡ chân rơi vào ngõ cụt của cuộc sống.

Con cò đi ăn đêm nhưng con cò không phải kẻ làm việc gì trái với lương tâm mà con cò vô cùng lương thiện. Hình ảnh con cò trong bài ca dao là hình ảnh ẩn dụ thể hiện hình ảnh người nông dân một nắng hai sương, vất vả lam lũ trên đồng để tìm kiếm sự mưu sinh.

Nhưng không may cho con cò đã bị cảnh bất hạnh éo le xảy chân ngã xuống ao, hoạn nạn, khiến cho con cò con gặp phải cuộc sống bất trắc. Nhưng trước lúc ra đi chú cò vẫn thể hiện rõ tấm lòng của mình muốn van xin cho mình một cái chết trong sạch. Con cò trong bài ca dao thể hiện tình cảm ” đói cho sạch rách cho thơm “

Qua bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm” tác giả dân gian đã nêu lên một triết lý sống nhân sinh tuyệt đẹp ca ngợi tâm hồn nhân hậu, thật thà trong sáng của người nông dân lao động, thà chết vinh còn hơn sống nhục.

Trong cuộc sống con người có những lúc chúng ta gặp khó khăn gặp những bất trắc nhưng chính lẽ sống cao đẹp, tâm hồn cao quý của con người mới là điều khiến cho chúng ta cần phải gìn giữ.

Đọc xong bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm” chúng ta càng cảm thấy nể phục những người nông dân lao động. Tuy cuộc sống vô cùng vất vả nhưng họ vẫn giữ tâm hồn trinh bạch, sống trong sạch giữ gìn đạo đức của mình. Thể hiện tinh thần đáng quý gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, đói cho sạch rách cho thơm của người xưa.

Đông Thảo

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Con Cò Hay Nhất

BÀI VĂN SỐ 1 CẢM NHẬN CỦA EM VỀ BÀI THƠ CON CÒ

Trong các bài thơ của Chế Lan Viên, có lữ bài thơ con cò là một trong những bài thơ có giọng văn thâm trầm và ưu tư đến thế. Tình mẫu tử thiêng liêng chẳng thể nói hết thành lời, nhưng sẽ được gửi gắm trọn vẹn qua lời ru tiếng hát.

Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên hình ảnh một người mẹ tần tảo nuôi con đứa con bé bỏng còn đang bế trên tay. Mẹ kể cho con về cuộc đời cò, cuộc đời lam lũ bay hết mọi nơi chốn nẻo đường, từ Cổng Phủ ra Đồng Đăng để mưu sinh:

“Cò một mình cò phải kiếm lấy ăn

Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ”

Con còn quá bé nhỏ để nhận thức được mọi việc, con còn đang trong vòng tay chở che, lo lắng của mẹ. Mẹ chăm cho con từ bữa ăn ngon, đến giấc ngủ ngọt lành bên nôi vỗ về yên ấm. Sau này, mong con sẽ hiểu được mẹ kiếp thân cò, chấp nhận chịu vất cả khó nhọc để nuôi con, dẫu cho có bao trắc trở, mẹ luôn muốn trao cho con mình những điều tốt đẹp.

Sau này khi bước ra với cuộc đời, con sẽ hiểu về cuộc sống, con sẽ đi học đến trường rồi sẽ trở thành một người công dân cống hiến cho xã hội. Sẽ có những lúc khó khăn vấp ngã, đầy nỗi buồn, những lúc gặp “cành mềm”, con hoang mang và sợ hãi. Những “cò ơi, chớ sợ”, bởi mẹ đã “sẵn tay nâng”, mẹ luôn chở che cho con, lo lắng và nên con mỗi ngày, có tình thương của mẹ con sẽ vững bước tới tương lai.

Mẹ hóa thành cánh cò, bên con, thương con. Cò đưa giấc hồng qua giấc ngủ, cò bên con khi con đến trường đi học, đồng hành cùng con mỗi nước trưởng thành. Mẹ hỏi:

Rồi mẹ tự trả lời, mẹ mong con sẽ trở thành thi sĩ, một thi sĩ có tâm hồn cao thượng và tấm lòng đẹp đẽ biết bao nhiêu, con sẽ tung bay cánh khắp nơi, lời văn con gửi vào từng thế hệ. Con sẽ bay xa, bay hoài không nghỉ, bay về tương lai đẹp đẽ của con. Nỗi niềm mong mỏi của mẹ chỉ mong con khôn lớn trưởng thành, dẫu con có nơi đâu “Cò sẽ tìm con/ Cò mãi yêu con”, bởi tình mẫu tử là thiêng liêng bất diệt, mọi khoảng cách địa lý không thể làm nhòa tình yêu thương của mẹ, dẫu có là lên rừng hay xuống bể.

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con “

Với mẹ, con luôn bé bỏng và vẫn mãi là con của mẹ. Dù con với người khác có lớn đến đâu, với mẹ con vẫn mãi là đứa con mà mẹ muốn chở che, chia sẻ, đứa con mà mẹ đã dành cả cuộc đời mình nuôi dưỡng, lo lắng và yêu thương.

Toàn bài thơ là lời mẹ ru con bên cánh nôi, lời tâm tình của một người mẹ tần tảo, hy sinh vì con. Con hãy ngủ ngoan, “Cho cả cuộc đời/ Vỗ cánh qua nôi”, “Cho cả sắc trời / Đến hát/ Quanh nôi”…

Bài thơ con cò của Chế Lan Viên là một lời ru thật lòng và giản dị, nơi đó tình mẫu tử thiêng liêng đẹp đẽ hiện lên. Đưa bạn đọc đến một miền cảm xúc đầy dư vị, đẹp đẽ, ngọt ngào.

Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi nổi tiếng nhất của nền thơ ca Việt Nam hiện đại, ông sinh ra và lớn lên ở vùng đất Quảng Trị. Trước cách mạng tháng tám ông được xếp vào hàng những gương mặt tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới, với phong cách thơ độc đáo trong quyển “Điêu tàn”, khiến cả làng văn học phải nể phục bởi khi đó tuổi đời của ông còn khá trẻ, Hoài Thanh đã nhận xét trong “Thi nhân Việt Nam” là: “Quyển Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”. Sau cách mạng, thơ Chế Lan Viên đã có nhiều sự thay đổi tích cực hơn, hướng về xây dựng nền thơ ca cách mạng, ông khai thác nhiều đề tài về con người và kháng chiến, với nhiều tác phẩm có giá trị cao. Thơ của ông mang một vẻ đẹp trí tuệ, nhiều triết lý sâu sắc được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng – triết lý “chất suy tưởng triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa”

Bài thơ “Con cò” được Chế Lan Viên sáng tác vào năm 1962, được in trong tập “Hoa ngày thường, chim báo bão”. Nhan đề này vừa mang ý nghĩa tả thực vừa là nghĩa ẩn dụ, gợi lên một hình ảnh đẹp và gần gũi, thân thương với con người Việt Nam, hình ảnh quen thuộc của những cánh cò trắng phau nơi đồng quê bát ngát, hình ảnh cánh cò trong ca dao, trong lời ru của bà, của mẹ đã trở thành biểu tượng đẹp cho nhân cách sáng ngời của những người phụ nữ xưa, tình mẫu tử thủy chung, tình yêu thương theo con. Cảm hứng sáng tác tác bao trùm toàn bài là cảm hứng ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng và ý nghĩa của lời ru trong cuộc đời của mỗi con người.

Trước hết, con cò là hình ảnh tượng trưng cho người nông dân, người phụ nữ trong cuộc sống lao động thường ngày, tuy vất cả, chịu cực khổ mọi bề nhưng ẩn sâu bền trong lớp vỏ xù xì, gai góc ấy lại là những đức tính phi thường, đáng quý. Trong dân gian, chúng ta thường quen thuộc với những câu ca dao:

“Cái cò đi đón cơn mưa

Tối tăm mù mịt ai đưa, cò về?

Cò về đến gốc cây đề,

Giương cung anh bắn cò về làm chỉ

Cò về thăm bác thăm dì,

Thăm cô xứ Bắc thăm dì xứ Đông”.

Con cò vốn đã là hình ảnh quen thuộc của người nông dân Việt Nam. Màu lông trắng phau của con cò hoà lẫn với màu trắn của những chiếc nón đội đầu nhấp nhô trên cánh đồng lúa, ngày ngày cày cấy, chăm sóc cây lúa. Với tư tưởng trọng nam khinh nữ đã tồn tại và thấm sấu trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ, người phụ nữ không thoát khỏi số phận long đong lận đận, với nhiều bi kịch khác nhau, nhưng đều có chung kết cục bi thảm. Cứ như vậy lời hát đau thương dần theo lời ca buồn mà đi vào tâm hồn những đứa trẻ.

“Con ngủ yên thì cò cũng ngủ

Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi

Mai khôn lớn con theo cò đi học

Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân”

Cánh cò trong lời ru của mẹ đã dần dần trở thành người bạn đồng hành trên mỗi bước đường con đi, theo con từ tận giấc ngủ, trong mỗi giấc mơ, từ lúc con bắt đầu biết ước mơ, biết ươm mầm tương lai rồi sau đó lại cùng con thực hiện vào đời.

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”

Câu hát nhẹ nhàng, tình cảm, thấm đẫm yêu thương của mẹ. Giống như con cò là thông điệp là món quà tinh thần mẹ trao gửi cho con mãi mãi, bên cạnh con, thay mẹ chăm sóc con, mẹ cũng yên tâm hơn. Bài thơ không chỉ ca ngợi tình mẫu tử mà còn là món quà tốt đẹp nhất mà bất cứ người mẹ nào cũng muốn gửi gắm.