Top 2 # Xem Nhiều Nhất Xác Định Thể Thơ Của Bài Thơ Chiều Tối Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Giáo Án Bài Chiều Tối Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực

Soạn giáo án bài Chiều tối Ngữ văn lớp 11 theo phương pháp dạy học tích cực, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh. Thư viện bài giảng Ngữ văn lớp 10-11-12

– Giáo án, SGK Ngữ văn 11, tập 2 – Phiếu học tập

Chuẩn bị của học sinh: Chuẩn bị bài ở nhà theo các yêu cầu sau:

– Đọc lại các tác phẩm đã học trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh – Soạn bài theo hướng dẫn học bài/SGK Ngữ văn 11 tập 2. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

I. Hoạt động 1 – Khởi động Giáo viên yêu cầu học sinh ghi ra phiếu làm việc cá nhân:Nội dung: Kể tên các bài thơ đã học trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, nhớ lại một bài thơ mà học sinh yêu thích nhất.Cách tiến hành: Trong vòng 5 phút, học sinh kể tên các bài thơ và đọc thuộc một bài thơ mình yêu thích nhất. GV giới thiệu bài thơ “Chiều tối”.

– Học sinh kể đúng tên tên các bài thơ đã học trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh, đọc được một bài thơ mà học sinh yêu thích nhất.

1. I. Tìm hiểu chungHướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về văn bản

GV yêu cầu tất cả học sinh đọc lướt phần Tiểu dẫn và thực hiện các yêu cầu sau: – Nêu xuất xứ của bài thơ? – Tập thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào? – Tập thơ gồm bao nhiêu bài, hình thức văn tự của tập thơ? – Nêu hoàn cảnh sáng tác cụ thể của bài thơ “Chiều tối”?

Sau khi học sinh làm việc cá nhân, đặt câu hỏi, tổ chuyên gia tư vấn, GV nhận xét và chốt lại những kiến thức cơ bản. GV yêu cầu học sinh đọc văn bản, xác định thể loại và phân chia bố cục.

1. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác – Xuất xứ: Bài thơ số 31 trong tập thơ “Nhật kí trong tù” + Hoàn cảnh sáng tác: Tập thơ được sáng tác trong khoảng thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam (8/1942 – 9/1943). + Tập thơ gồm 134 bài thơ chữ Hán, hầu hết được viết theo lối thơ Đường luật. – Hoàn cảnh sáng tác cụ thể của bài thơ: Cảm hứng của bài thơ được gợi lên từ một buổi chiều muộn, trên đường chuyển lao của Hồ Chí Minh từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào cuối thu năm 1942.

2. Thể loại, bố cục – Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. – Bố cục: hai phần + Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên + Hai câu sau: Bức tranh cuộc sống

a. 1. Hai câu thơ đầuHướng dẫn học sinh tìm hiểu hai câu thơ đầu

Bản quyền bài viết này thuộc về https://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

GV yêu cầu học sinh làm việc cá nhân trong thời gian một phút (theo kĩ thuật trình bày một phút) và thực hiện yêu cầu: – Khát quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Học sinh trình bày. Giáo viên nhận xét, chốt lại những kiến thức cơ bản.

– Nội dung: Bức tranh chiều tối cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống của một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, tinh tế, đồng thời thể hiện được ý chí nghị lực phi thường của nhà thơ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.– Nghệ thuật: Bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh: vừa giàu tính cổ điển vừa mang sắc thái tinh thần hiện đại luôn hướng về sự vận động phát triển tới ánh sáng, tương lai.

III. Hoạt động 3 – Thực hành GV phát phiếu học tập cho học sinh. GV đặt câu hỏi: Qua bài thơ, em học tập được điều gì từ Hồ Chí Minh?

3. Thực hành – Phiếu học tập 2

IV. Hoạt động vận dụng và mở rộng (thực hiện ở nhà) GV yêu cầu học sinh sưu tầm thêm một số bài thơ có hình ảnh cánh chim, chòm mây trong thơ ca trung đại. Vẽ lại bức tranh chiều tối theo cảm nhận cá nhân.

4. Vận dụng và mở rộng

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Chiều Tối

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Chiều tối’ của Hồ Chí Minh

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Chiều tối” – Bác Hồ, vị cha già kính yêu của dân tộc. Khi nhắc đến Người, chúng ta ắt sẽ kính cẩn nghiêng đầu bằng một tấm lòng kính yêu và sự biết ơn vô hạn đối với những hy sinh lớn lao của Bác để đổi lấy sự tự do cho Tổ Quốc. Trong những năm tháng chiến tranh, Bác đã phải trải qua biết bao nhiêu gian khó, hiểm nguy, phải ngồi hết nhà tù này đến nhà tù khác. Suốt quãng thời gian ngồi tù, Bác đã sáng tác nên tập thơ “Nhật kí trong tù” nổi tiếng. “Chiều tối” là một bài nằm trong tập thơ ấy, thể hiện tinh thần lạc quan và khát khao chiến thắng kẻ thù của Bác giữa cuộc sống ngục tù đầy hiểm nguy.

“ Chiều tối” được sáng tác trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Nó không được viết trên những tờ giấy trắng tinh, phẳng phiu đặt trên mặt bàn mà được sáng tác giữa đường Bác bị giải từ nhà từ nhà lao Tĩnh Tây đén nhà lao Thiên Bảo.

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Dịch thơ

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Chiều tối là quãng thời gian cho sự trở về sau một ngày làm việc và lao động vất vả. Khoảng thời gian đố con người sẽ tìm về gia đình, để xum vầy, đoàn tụ và cùng nhau thưởng thức bữa cơm tối ấm áp, quay quần. Thế nhưng, buổi chiều, ánh nắng đã yếu ớt và chuẩn bị tắt hẳn, không gian trở nên dịu nhự hơn. Nó lại gợi lên cho ta một cảm giác xốn xang và cô đơn hơn bao giờ hết. Khi mà mọi thứ đang vội vã trở về, Bác cảm thấy hiu quạnh khi mình không có nơi để về, không có ai chờ đợi, ngóng trông. Cái không khí của buổi chiều tà thật buồn man mác. Ánh nắng chói chang bắt đầu lắng dần. Mặt trời dần dần chìm sâu vào dãy núi. Mặt trăng chuẩn bị lấp ló sau rặng tre đầu làng. Một khung cảnh nên thơ nhưng lại thấm đượm cảm giác cô đơn khó từ nào có thể diễn tả. Trên không trung, từng đàn chim nối đuôi nhau tìm về “chốn ngủ”. Sau một ngày miệt mài sải đôi cánh, tất cả đều đã mỏi, đã rụng rời và chúng cần được nghỉ ngơi. Từng cánh chim chao liệng trên bầu trời, dường như muốn gấp gáp nhưng lại không thể. Từng đôi cánh toát lên sự mệt mỏi cũng giống như đôi chân Bác đã rã rời sau những ngày chuyển lao. Chỉ cố đám mấy, vẫn nhẹ nhàng nhàng trôi lơ đãng. Chúng khong vội vàng, không gấp gáp mà bình thản một cách lạ thường. Chúng cứ thững thờ lê từng bước chậm rãi. Áng mấy trắng nổi bật trên nền trời vàng vọt, rang mỡ gà tạo nên một bức tranh thủy mặc vô cùng đẹp đẽ. Đám mây cô đơn trôi nhẹ chẳng khác gì sự cô đơn của Bác. Bước đi chậm chạp của mây làm cho bầu khoogn khí càng trở nên nhẹ nhàng, tính lặng. Phải yêu thiên nhiên lắm Bác Hồ mới có thể quên đi cái gong cùm nặng ịch trên cổ, quên đi cái đớn đau của đôi chân để có thể đắm chìm vào với cảnh sắc thiên nhiên, tận hưởng nó một cacsg trọn vẹn trong tư thế ung dung, tự tại và đầy lạc quan.

Giữa không gian yên bình của buổi chiều tối, bóng dáng con người xuất hiện, phá vỡ tất cả cái vẻ ảm đạm vốn có của nó. Bức tranh bỗng trở nên sinh động và ấm áp hơn.

Sơn tôn thiếu nữ ma bao túc

Bô túc ma hoàn lô dĩ hồng

Dịch thơ:

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng

Hình ảnh cô thiếu nữ và lò than như trở thành trung tâm của bức tranh. Trong bóng chiều tà, cô gái nhẹ nhàng, uyển chuyển theo vòng quay tròn của cối xay. Hoạt động của cô như phá vỡ cái sự tĩnh lặng, man mác trước. Đó là sự sống, là lao động vinh quang. Hình ảnh cô thiếu nữ cũng tượng trung cho đức tính của người phụ nữ: dịu dàng, đảm đang, cần mẫn. Mọi thứ cứ trôi theo tuyến tính thời gian, ngô xay xong cũng là lúc lò than đã rực hồng, bừng lên, ấm áp.Hình ảnh bếp lửa tượng trưng cho mái ấm gia đình, cho tình thân. Nó dường như là ước mơ, là khát khao được trở về của người lính đang bị tù đày. Nó như xua tan đi tất cả nỗi cô đơn, nhớ nhà và những lo toan mệt mỏi của Bác. Hai chữ “rực hồng” kết thúc bài thơ, kết thúc sự lạnh lẽo, cô đơn. Nhìn thấy ánh lửa, người tù nhân như được sưởi ấm trái tim giá buốt. Ngọn lửa rực hồng hồng ấy như thắp lên trong Bác một niềm hy vọng về tương lai cho dân tộc. Chữ “hồng’ kết thúc bài thơ, nó chuyển dịch bức tranh từ sự u khuất, tĩnh mịch sang trạng thái ấm áp, đầy sức sống. Ánh lửa thể hiện sự lạc quan của Bác về một tương lai đang chờ phía trước. Nó là niềm vui, là sức mạnh để Người tiếp tục chinh chiến với những khó khăn phía trước.

Tác phẩm “Chiều tối” với ngôn ngữ mộc mạc cùng những hình ảnh bình dị, thân thuộc đã đi sâu vào lòng bạn đọc một cảm giác man mác nhưng ấm áp lạ thường. Nó còn thể hiện được tình yêu thiên nhiên và sự lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào đi nữa. Hồn thơ của Bác là tiếng lòng của một người con đang khát khao cho sự bình yên của dân tộc.

Seen

Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối Lớp 11 Của Hồ Chí Minh

(Văn mẫu lớp 11) – Phân tích bài thơ chiều tối của Hồ Chí Minh – (Bài văn mẫu của học sinh lớp 9 trường THPT Lê Duẩn)

Hồ Chí Minh vị cha già đáng kính của dân tộc, người đã tìm ra lối thoát cho nhân dân ta trước cảnh xiềng xích nô lệ. Để làm được điều ấy, Đất nước đã phải hy sinh biết bao người con, biết bao sương máu đã phải đổ, và ngay chính bản thân người, cũng đã chịu biết bao đầy ải, ngục tù. Nhưng tinh thần lạc quan vẫn luôn sáng ngời và một niềm tin sắt đá. Bài thơ “Chiều tối” nằm trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của Bác là những minh chứng cho điều ấy, được sáng tác trong hoàn cảnh Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bằng những vần thơ đơn giản, mộc mạc nhưng trong đó là cả một khát vọng bao la trước sứ mệnh giải phóng dân tộc khi vẫn đang còn dở dang.

Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, hai câu thơ đầu là ánh nhìn mênh mông, xa xăm của tác giả, một khát vọng mãnh liệt tự do, được tung bay như cánh chim, trôi mơn man như áng mây. Đồng thời, đó cũng là vẻ đẹp thiên nhiên tĩnh lặng, cảnh núi non hùng vĩ trong cảnh chiều tối:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Chỉ với hai câu thơ như Hồ Chí Minh đã phác họa lên một bức tranh về khung cảnh xế chiều êm đềm và tĩnh lặng. Buổi chiểu tà có lẽ là khoảng thời gian khiến tâm trạng con người luôn cảm thấy nhớ nhung nhất, nhớ tới những hình ảnh quen thuộc nơi quê nhà nơi có những người thân yêu, nhớ đến mùi khói lam chiều bay phảng phất, nhớ từng hàng cây, con đường,… Và sẽ làm cho con người ta thấy đầy lạc lõng và cô đơn nếu như đang ở một nơi đất khách quê người, khi đang thiếu thốn tình thương yêu. Cũng như cánh chim sau một ngày dài đi kiếm ăn, khi chiều về cũng bay về rừng, về với tổ ấm quen thuộc “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”. Chỉ với những từ ngữ nghe thật giản đơn, bình dị nhưng trắc ẩn trong đó là cả một nỗi lòng tha thiết nhớ quê hương khi Bác đang bị đầy ải ở một nơi xa lạ như vậy. Đồng thời, đó cũng là một khát khao được tung bay như cánh chim giữa bầu trời bao la rộng lớn, khát cọng tìm lại được tự do, trở về quê nhà tiếp tục sự nghiệp cứu nước nhà.

“Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” vần thơ tiếp theo càng tô nét thêm cho khát vọng mãnh liệt ấy, sự yên ắng, êm ả trôi nhẹ của chòm mây trên trời cao như bước đi lặng lẽ của chính tác giả, đầy cô độc. Nhưng không phải như vậy mà có thể đánh mất đi được nguồn sáng cao đẹp của tinh thần lạch quan, tâm thái ung dung. Bác vẫn thưởng thức được cảnh đẹp thiên nhiên, núi rùng bao la hùng vĩ, Bác vẫn dõi theo cánh chim bay về tổ, áng mây lửng lơ giữa khoảng không thầm lặng. Người như vượt qua chặng đường dài đầy mệt nhọc, thân xác rã rời để hòa mình vào với thiên nhiên. Một lần nữa như khiến chúng ta thấy được cảnh chiều tà lặng lẽ, vừa đẹp những cũng buồn man mác, và hình ảnh đơn độc, xiềng xích của Bác giữa đất trời mênh mông nhưng khát vọng tự do thì luôn tung bay trên bầu trời rộng lớn.

Giữa khung cảnh bao la mà buồn man mác, chợt hiện lên một dáng hình thấp thoáng, đóm sáng bập bùng in màu trong chiều tối nhạt màu:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”

Trong cái bức tranh quá rộng lớn và nhạt màu ấy, cô sơn nữ hiện lên như một điểm nhấn rõ nét, đó như là một sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người, để bức tranh trở nên sinh động đến lạ kì, là sự hòa hợp giữa màu sắc cổ điển với chất thơ hiện đại trẻ trung bình dị. Hình ảnh người thiếu nữ đang chăm chỉ, miệt mài “xay ngô tối”, nó như gọi lên dáng vẻ, nét đẹp của chính con người lao động Việt Nam, quê hương thân yêu của người. Và hình ảnh người thiếu nữ đang cần mẫn làm xay ngô được lặp đi lặp lại trong trong hai câu thơ, hình ảnh ấy dường như không rời khỏi ảnh nhìn của người thi nhân cho đến khi khuất hẳn. Khoảng không gian và thời gian như đang lặng lẽ trôi đi, nhường chỗ cho bóng đêm mịt mù, tăm tối. Rồi một điểm sáng rực hồng, lóe lên giữa khoảng không ấy, là hình ảnh lò than ấm nồng đang đỏ lửa “lô dĩ hồng_lò than đã rực hồng”. Bác Hồ như cảm nhận được sự ấm nóng trong trái tim mình, một sự thân quen ấm áp đầy chan chứa, nó như xua tan đi hết mọi sự cô đơn, mịt tối, hòa cùng ánh sáng cao đẹp của người lãnh tụ vĩ đại dân tộc.Như một điều thường thấy trong Bác, Bác vẫn luôn quan tâm đến cuộc sống xung quanh, luôn hi sinh chính bản thân mình để nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Cảm hứng xuyên suốt bài thơ là sự bình dị, chân thật mà ấm áp dạt dào, hồn thơ là cả sự gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên, con người. Đó là sự lạc quan trước mọi hoàn cảnh, làm chủ được hoàn cảnh.

Bài thơ “Chiều tối” khép lại để lại cả một nỗi niềm bao la trong tâm hồn. Chỉ với những vân thơ đơn giản đã vẽ lên cả một bức trnah chiều tà với sự sống vẫn đang tuôn chảy cungfn hịp thời gian. Không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên núi rùng, vẻ đẹp của con người trước sự hòa hợp ấy, đồng thời đó cũng lầ tinh thần lạc quan, là khát vọng được tự do luôn nung nấu trở về quê hương để hoàn thành sứ mệnh cao cả. Một vẻ đẹp sáng ngời đến bình dị của Bác.

Phân Tích Chất Thép Trong Bài Thơ Chiều Tối Của Bác

“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp

Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh

Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

“NTNK’ đã làm toát lên bức chân dung của 1 người tù tự do, 1 người tù mà không 1 nhà tù nào, 1 gông xiềng nào giam hãm được. Vì vậy, đọc thơ Bác, người yêu thơ vẫn nhận thấy bất cứ bài thơ nào, câu thơ nào cũng thấm đậm chất thép. Thép trong thơ Bác uyển chuyển, tinh vi, linh hoạt. 1 trong những bài thơ thể hiện rõ nhất chất thép trong thơ Người đó là bài “Mộ”:

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Đây là bài thơ thứ 31 nếu đặt trong logic của toàn bộ tập thơ gồm 135 bài kể cả 2 bản bổ sung. Bài thơ được Bác viết trong 1 cuộc chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ đã làm toát lên chất thép cao cường của người chiến sĩ CM. Để thấy được chất thép trong t/p này, đầu tiên ta cần phải hiểu nội hàm của chất thép. Trong bài thơ “Cảm tưởng đọc Thiên Gia Thi”, Người có viết:

‘Nay ở trong thơ nên có thép

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Cần phải khẳng định chất thép trong thơ là 1 h/a mang ý nghĩa ẩn dụ. Nó là tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ Cộng sản; là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của 1 con người; thậm chí nó còn là thái độ und gung tự tại của 1 tù nhân ở ngay trong tù ngục. Vì vậy, khi bộc lộ trong thơ, nó không thể là tiếng nói trần trụi của 1 ý chí. Nó phải chuyển hóa linh hoạt thành hình tượng thơ, thành tình cảm thơ vì thơ là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm, hình ảnh và lý trí. Nếu tình cảm là gốc rễ, lý trí là thân cành thì hình ảnh sẽ là hoa trái. Như vậy, đi tìm thép trong tập NTNK, nhất là trong bài thơ “Mộ” nói riêng, ta không thể đi tìm thứ thép lộ thiên mà phải tìm nó trong hình tượng thơ, trong tình cảm thơ. Chất thép càng chuyển hoá thành hình tượng, thành tình cảm sâu sắc bao nhiêu thì nó càng cao siêu, cao cường bấy nhiêu. Cao siêu nhất, cao cường nhất chính là ở điểm như Hoài Thanh đã nói: “Không phải có nói chuyện thép, lên giọng thép mới là có tinh thần thép.”

Chất thép trong bài thơ Mộ được thể hiện đầu tiên là ở lòng nhân đạo của người chiến sĩ Cộng sản. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt với 2 câu thơ đầu hiện lên là bức tranh thiên nhiên được Bác vẽ bằng tâm hồn của 1 thi sĩ lãng mạn thông qua những thi liệu, rất cổ điển. Đó là h/a cánh chim và chòm mây trở đi trở lại nhiều trong thơ cổ trung đại. Nhưng cái hay ở đây là cánh chim trong thơ Người không chỉ đơn thuần là nhằm để điểm xuyết TG như trong thơ cổ điển, ví như bà huyện thanh quan trong “chiều hôm nhớ nhà” đã viết:

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Rặng liễu sương sa khách bước dồn”

Hay như trong ca dao có câu:

“Chim bay về núi tối rồi”

Ở đây, HCM đã nhìn thấu và bên trong sư vật hiện tượng để cảm nhận được cái sự mệt mỏi của cánh chim sau 1 ngày lam lũ kiếm sống. Điều này được thể hiện rõ khi Người đặt chữ “quyện” nghĩa là mệt mỏi lên đầu câu. Như vậy, Bác đã bước xa hơn Ng Du trong kiệt tác truyện Kiều với h/a:

“Chim hôm thoi thót về rừng

Đóa trà my đã ngậm trăng nửa vành”

Như vậy Bác đã nhìn thấu vao sự vật hiện tượng để thấy được những sự mệt mỏi của những vật tưởng như vô tri vô giác. Điều ấy có nghĩa là Mộ nói chung, cũng như câu khai đề nói riêng đã được viết lên bằng 1 trái tim vô cùng nhân đạo. Trong trái tim của Bác chất chứa biết bao nhiêu chỗ đứng, thân phận, cảnh ngộ và cả những vật vô tri vô giác như nhánh lúa nhành hoa mà như Tố Hữu đã nói là:

“Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình cho hết thảy

Như dòng sông chảy nặng phù sa”

Mà ở chỗ nào tình cảm sâu sắc nhất, nơi ấy chất thép được bộc lộ cao nhất. Đúng như Hoàng trung Thông đã nói:

“Vần thơ của Bác vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

Mặt khác, thép ở đây còn là tinh thần chiến đấu, là lòng yêu nước già dặn, mãnh liệt, sôi nổi của 1 con người. Ý tưởng đó cũng được thể hiện ngay ở câu thơ khai đề. Cánh chim trong câu thơ của Người đang quy lâm để tìm nơi trú ngụ. Rõ ràng ở đây nó không còn như trong thơ của Lí Bạch:

“Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn”

Cánh chi trong thơ của Lí Bạch bay về nơi vô tận thì cánh chim trong thơ Người lại đang quy lâm để tầm túc thụ. Ta không loại trừ h/a cánh chim ấy là biểu hiện cho khát vọng tự do, khát vọng đoàn tụ trong tâm hồn HCM bởi Maxim Gorky đã nói: “Văn học là nhân học.” Văn học từ muôn đời xưa cho đến mãi về sau bao giờ cũng viết về con người. Đang nơi đất khách quê người, Bác biết đi đâu về đâu khi phía trước chỉ là 1 nhà lao và điểm xuất phát cũng chỉ là một nhà tù mà thôi. Nỗi nhớ nước đã từng làm Bác bị ốm nặng:

“Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh

Nội thương nước Việt cảnh lầm than”

Thậm chí nỗi nhớ nước thương dân còn làm cho Người không ngủ được:

“Canh bốn canh 5 vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”

Như vậy rõ ràng cánh chim ấy là khát vọng đoàn tụ, là tình yêu quê hương đất nước mà lòng yêu quê hương đất nước già dặn sôi nổi ấy chính là biểu hiện chất thép trong bài thơ “Mộ” nói riêng, của cả tập thơ “NTNK” nói chung.

Không chỉ dừng lại ở đó, đến câu thơ thứ 2, Bác gợi lên không gian của cuộc giải tù:

“Cô vân mạn mạn độ thiên không”

Đó là 1 bức họa mà mỗi 1 ý thơ, 1 lời thơ như 1 nét khắc nét chạm. Nền của bức pic ấy là bầu trời cao rộng. Điểm xuyết vào đó là chòm mây cô đơn, cô độc, cô lẻ đang trôi chậm chậm giữa miền sơn cước. Bức tranh này được vẽ bằng tâm hồn của 1 tù nhân cổ đeo gông, chân vướng xiềng. Vậy nhưng ở đây, tâm hồn Người vẫn bỏ ngỏ, thơ của Người vẫn ra đời như khi đang ở thể trạng tự do vậy. Điều đó có nghĩa ở Người có 1 tinh thần thép cao cường, 1 tinh thần vượt ngục mà không 1 nhà tù nào, 1 gông xiềng nào giam hãm được. Chính từ địa hạt của tự do ấy, Bác đã vẽ lên trong cuộc chuyển lao 1 bức tranh TN rất đẹp. Nhìn vào bức tranh ấy, không những ta thấy được tâm trạng buồn, nỗi nhớ nhà, nhớ nước, biểu hiện tình yêu nước của HCM mà còn thấy 1 sự bất bình tố cáo chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch vì ở câu thơ này, Bác đã làm toat lên thể trạng mệt mỏi của tù nhân. Nhà tù Tưởng Giới Thạch áp giải tù nhân mọi lúc mọi nơi, thậm chí cảnh giải lao còn làm Bác khó chịu, bất bình:

“Đã giải đi Nam Ninh

Lại giải về Vũ Minh

Giải đi quanh quẹo mãi

Kéo dài cả hành trình

Giải từ sáng sớm: “Gà gáy 1 lần đêm chửa tan”, lại phải đi bộ 53 cây số với chỉ lưng bát cháo tù cầm hơi:

“5 3 cây số 1 ngày

Áo mũ dầm mưa rách hết giày”

Giờ đây là thời điểm “Mộ”, nghĩa là chiều tối. Sức Người đã mệt. Sự mệt mỏi quyện vào từng h/a thơ, điệp vào 2 chữ “mạn mạn” trong tiếng Hán Việt nghĩa là “chậm chậm” với 2 dấu nặng đi liền kề để MT bước đi nặng nhọc của tù nhân sau 1 ngày bị áp giải. Như vậy ở đây, Bác tố cáo nhà tù bất nhân đã tước mọi quyền của con người và nó cũng đã bộc lộ rõ lòng yêu nước, cái thái độ bất bình. Tất cả đó chính là biểu hiện của chất thép trong bài thơ “Mộ”

Cứ như thế, Bác viết bài thơ “Mộ” nói riêng, cho tập “NTNK” nói chung bằng 1 trái tim mà Tố Hữu đã từng thốt lên rằng:

“Bác ơi tim bác mênh mông thế

Ôm cả non sông mọi kiếp người”

Toàn bộ trái tim ấy được thể hiện rõ ở trong 2 câu thơ cuối. Khi ánh nắng tàn phai, chim trời tắt bóng cũng là lúc bầu trời buông xuống theo đúng TG. Cái nhìn bao quát không gian “Độ thiện không” giờ đây lại thu vào để đặc tả 1 xóm núi đó là sơn thôn. Nổi lên trên xóm núi ấy là h/a người thiếu nữ đang ở độ đầu xuân của tuổi trẻ lại đang phải lao động vất vả trong công việc của nhà nông:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Không chỉ đến đây ta mới thấy xuất hiện hình tượng người thiếu nữ trong thơ. Nếu trong thơ cổ trung đại, người thiếu nữ là trung tâm của cái đẹp; trong thơ lãng mạn, họ là đối tượng để chuyển tải cái tôi cô đơn mà hơn 1 lần XD viết:

“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”

Người thiếu nữ trong thơ Bác lại đang xay ngô: “ma bao túc”. Vì vậy, câu thơ ánh lên giá trị, vẻ đpẹ của con người trong lao động. Không chỉ dừng lại ở đó bởi thơ hay ý tại ngôn ngoại, lời ít ý nhiều. Chất thép trong câu thơ lại được biểu hiện 1 lần nữa thông qua tình thương của Bác đối với người thiếu nữ đang xay ngô trong thời điểm lẽ ra phải được nghỉ ngơi. Cần phải khẳng định cái lòng nhân đạo ấy chính là sức mạnh của HCM. Chẳng thế mà nhận định về HCM, mọi ý kiến trong và ngoài nước đều thống nhất với nhau ở 1 điểm: ngọn nguồn sức mạnh của HCM nằm ngay trong trái tim của Người. Ở đây, cái tình yêu thương ấy, cái lòng nhân đạo của Bác đã vượt qua lĩnh vực của 1 quốc gia, vượt qua cả h/a:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người tron 1 nước thì thương nhau cùng”

Bác thương cho tất cả những con người Bác gặp trong lao tù. Từ 1 cháu bé trong nhà lao Tân Dương, thử hỏi trong khám lạnh nhà tù, biết bao nhiêu tù nhân nghe thấy tiếng khóc của cháu bé vừa nửa tuổi mà rung lên thành hồn thơ như Ng Ái Quốc:

Cha trốn không đi lính nước nhà

Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi

Phải theo mẹ đến ở nhà pha”

Bác dành tình thương cho những con người Bác gặp trên con đường chuyển lao. Đó có thể là 1 phu làm đường:

“Dãi nắng dầm mưa chẳng nghi ngơi

Phu đường vất vả lắm ai ơi

Ngựa xe hành khách đường qua lại

Biết cảm ơn anh được mấy người

Đến đây, Người lại dành tình thương cho người thiếu nữ đang độ đầu xanh của tuổi trẻ lao động vất vả trong thời điểm nghỉ ngơi ấy là chiều tối. Đằng sau tình thương ấy, ta lại thấy 1 nỗi bất bình khi Người SD NT đảo ngữ. Ở cuối câu thơ thứ ba, ta bắt gặp “ma bao túc”. Ở đầu câu 4 Bác đảo lại thành “bao túc ma”. Chinh NT đảo ngữ ấy đã làm 2 câu thơ bắt vòng với nhau. Nó không chỉ đơn thuần là vòng của chiếc cối xay ngô. Nhìn sâu hơn, nó là vòng đời, vòng người của những kiếp đời luẩn quẩn sống dưới chế độ Tưởng Giới Thạch. Như vậy rõ ràng, viết bài thơ này, Người đã dứng trên quyền con người để tố cáo cái chế độ bất nhân của Tưởng Giới Thạch.

Bài thơ còn nổi bật ở 1 điểm đó là có lẽ cái sức mạnh của bài thơ lại được tập trung ở h/a “lô dĩ hồng”. 1 trong những đặc điểm của thơ Bác đó là thơ Người luôn luôn vận động, hướng vận động đi từ hiện tại tới tương lai, từ bóng tối để hướng đến AS. “Mộ” không nằm ngoại lệ. “Mộ” có nghĩa là chiều tối, ngỡ tưởng sẽ kết thúc bằng 1 màn đêm đen đặc. Nhưng không, với cái nhìn của người chiến sĩ, HCM đã kết thúc bài thơ của mình bằng màu hồng. Vì vậy, có lẽ chất thép của bài thơ dồn đổ mạnh nhất đo là ở chữ hồng ở bài thơ nà. Chữ “hồng” ở đây là h/a đa nghĩa. Ta không nên hiểu nó theo 1 nghĩa đơn nào mà nó là 1 hình ảnh đa nghĩa. Hiểu theo nghĩa tường minh, đây là màu hồng của lò than. Lò than ấy có lẽ đã hồng từ lúc buổi chiều. Điều này thể hiện rõ qua sắc thái của chữ “dĩ”. Trời cứ tối dần, ma lực của màu hồng càng phát sáng. Tuy nhiên ta phải hiểu chữ hồng trong câu thơ này không nên theo nghĩa tườn minh mà phải theo nghĩa hàm ẩn. Hồng ở đây chính là màu hồng trong tâm tưởng của Bác. Đó là màu hồng của cuộc CM đang đến gần. Dường như Người nhìn thấy cuộc CMT8 của đồng bào ta đang đến gần. Nhận định về vấn đề này, 1 nhà phê bình VH khẳng định: “Thơ Bác, thơ người chiến sĩ cộng sản tay nắm chắc chân lý, mắt nhìn thấu coi tương lai.” Chữ “hồng” ấy ta cũng không loại trừ đó là tình thương, là lòng nhân đạo của HCM. Đây chính là màu hồng của chất thép bởi màu hồng ấy chính là Bác đi trong đêm tối, đi trong XH hội tăm tối và nó càng phát sáng. Như vậy, trái tim nhân đạo của Ngườibộc lộ rõ nét hơn nhiều. Có thể nói, màu hồng ấy chính là bản lĩnh của HCM. Nhận định về vấn đề này, CLV viết:

“Người ghét sự chói chang, nhưng chính Người là nguồn ấm nóng

Của vầng hồng đánh dẹp bóng đêm lui”

Như vậy, 1 mình chữ “hồng” này đã đẩy lùi bóng đêm lui, đã cân bằng 27 âm tiết còn lại của 1 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Rõ ràng chữ hồng ở đây là nhãn tự của bài thơ. Một lần nữa, bài thơ lại toát lên chất thép ở hong thái ung dung tự tại của tù nhân.

Đọc bài thơ “Mộ”, ta không thấy những lời thơ than vãn, mặc dù Bác làm thơ trong hoàn cảnh hoàn toàn phản thơ. Vì sao lại có được điều ấy? Bởi Bác có 1 tinh thần thép, 1 tinh thần vượt ngục. Không 1 nhà tù nào giam được tinh thần của HCM. Bài thơ không hề có chữ thép, không hề lên giọng thép nhưng lại ngập tràn chất thép. Để kết thúc bài viết của mình nên chăng ta mượn lại lời của nhà phê bình Hoài Thanh: “Khi Bác nói trong thơ có thép, ta phải hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép.”