Top 4 # Xem Nhiều Nhất Xác Định Chủ Đề Của Bài Thơ Bầm Ơi Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Bầm Ơi

Đề bài : đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi ở dưới … Bầm ơi có rét không bầm, Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn. Bầm ra ruộng cấy bầm run, Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non. Mạ non bầm cấy mấy đon, Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Mưa phùn ướt áo tứ thân, Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu… (Trích Bầm ơi – Tố Hữu, tập thơ Việt Bắc, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2005) Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của  văn bản ? (0,25 điểm) Câu 2: Nội dung của văn bản ? (0,25 điểm) Câu 3: Tìm và phân tích hiệu quả của những từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ trong đoạn thơ?  (0,5 điểm) Câu 4: Anh/chị  hãy viết một đoạn văn ngắn từ  5 -7 dòng thể hiện tình cảm của mình đối với mẹ? (0,5 điểm) Đáp án : Phong cách ngôn ngữ của đoạn thơ: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ Nghệ thuật .   1. Nội dung của đoạn thơ: Khắc họa hình ảnh người mẹ vất vả và tình cảm của người con đối với mẹ. 2. Các từ ngữ thể hiện nỗi vất vả của người mẹ: Bầm run, chân lội dưới bùn, ướt áo tứ thân. 3. Hiệu quả: Diễn tả chân thật, sinh động về hình ảnh người mẹ lam lũ, vất vả. 4. Học sinh viết đoạn văn thể hiện được tình cảm và thái độ đối với mẹ. Các em có thể tham khảo đoạn văn sau: “Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!“. Trong mỗi nhịp đập của trái tim mình, ta luôn thấy  hình bóng của mẹ yêu. Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi đâu về  đâu , dù thành công hay thất bại thì mẹ vẫn luôn bên ta, che chở, bảo vệ, động viên ta vững bước trên đường đời. Từ tận đáy lòng   tôi luôn mong ước được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Thương mẹ, con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân , góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình.

Bầm Ơi! – Tố Hữu

Share

Facebook

Twitter

Pinterest

Bài thơ Bầm ơi! của nhà thơ Tố Hữu nói về nỗi nhớ của người chiến sĩ ngoài mặt trận, nhớ về người mẹ ở quê nhà. Anh thương mẹ già vẫn phải làm lụng vất vả khi trời rét, phải lo lắng cho đàn con đi chiến đấu. Tình thương của người chính sĩ dành cho mẹ hòa cùng tình thương dành cho đất nước.

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Bầm ơi!

Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

Bài thơ Bầm ơi! – Tố Hữu

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Con ra tiền tuyến xa xôi

Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

Con đi xa cũng như gần

Anh em đồng chí quây quần là con.

Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

Bầm quý con, bầm quý anh em.

Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Cho con nào áo nào quà

Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

Con đi, con lớn lên rồi

Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

Mẹ già tóc bạc hoa râm

Chiều nay chắc cụng nghe thầm tiếng con…

1948

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Bầm Ơi (Tố Hữu)

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Cảm nhận hình ảnh người mẹ trung du qua Bầm ơi

Bài thơ Bầm ơi được sáng tác kể về người mẹ Nguyễn Thị Gái. Đây là nơi một số nhà thơ trong đó có Tố Hữu đã dừng chân. Địa điểm nhắc tới trong bài chính là xã Gia Điền – một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa ( Phú Thọ). Cảm nhận sâu sắc tình cảm bầm dành cho những thi sĩ, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Bầm ơi

Bầm ơi – một lá thư bằng thơ

Đây chính là câu chuyện về người mẹ hết lòng thương con. Khi các thi sĩ dừng chân ở nhà bầm, bầm đã dành giường cho họ và chuyển xuống bếp ngủ. Tối về cụ dùng lá chuối khô bện lại để nàm nệm nằm cho đỡ lạnh. Tuy nhiên khi ấy cứ đêm đêm mọi người lại nghe thấy tiếng khóc nỉ non của cụ. Hỏi ra mới vỡ lẽ rằng, cụ nhớ đứa con trai của mình. Con trai của cụ tham gia vệ quốc quân nhưng lâu ngày không có tin tức. Chính vì vậy khi ấy các nhà thơ đã đề nghị Tố Hữu sáng tác một bài thơ như là một bức thư của người con trai để cụ an lòng. Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Ai về thăm mẹ quê ta

Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

Bầm ơi có rét không bầm!

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

Khi sáng tác xong nhà thơ dã đọc cho cụ nghe và bảo đó chính là bài thơ mà con trai cụ gửi về nhà. tin là như vậy cụ mừng lắm và cũng hết lo lắng và cũng không còn nghe tiếng khóc thầm mỗi đêm. Và cụ luôn miệng nói với nhà thơ Tố Hữu rằng con trai của cụ nó thương cụ thế đấy. Từ đó hôm nào cụ cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ nghe ít nhất một lần.

Về sau bài thơ Bầm ơi được nhiều người biết tới hơn và các chiến sĩ đã chép bài thơ này vào lá thư để gửi cho mẹ của mình và báo rằng họ vẫn bình an. Sau này năm 1981 khi đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội là con trai của cụ Gái đến thăm. Anh rất cảm kích bài thơ của nhà thơ đã làm vơi bớt sự nhớ nhung của mẹ. Và nhà thơ đã gửi 3m lụa làm quà để anh mang về làm quà cho mẹ của mình.

Câu chuyện gia tài của người chiến sĩ

Bài thơ Bầm ơi không chỉ là tình cảm riêng tư của một chàng trai nào đối với mẹ của mình nữa. Mà nó có sức lan tỏa và cũng chính là tình cảm thủy chung sâu nặng của những người chiến sĩ xa quê. Đó cũng chính là một cách báo bình an cho những người thân ở nhà. Qua đó ta có thể cảm nhân được hình ảnh người mẹ trung du bình dị nhưng lại có tình cảm sâu nặng dành cho đứa con đang chiến đấu cho Tổ quốc hôm nay.

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Hình ảnh người bầm hiện lên thật xúc động. Từng câu chữ như làm sống lại hình ảnh bà mẹ trung du nghèo khó nhọc. Nhất là trong một buổi sáng mưa phùn mẹ tay run cắm từng mảnh mạ xuống bùn mà làm con người ta thêm phần xót xa, quặn đau. Qua đó như muốn khuyên nhủ người mẹ hãy bớt những lo toan và bộn bề. Bởi rằng những khốc liệt nơi chiến trường cũng không thể nào đo được những nỗi vất vả của cuộc đời bầm. Và cũng không đổi lại được tình cảm mà bầm dành cho con.

Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Tình cảm ấy đã nâng bước chân của những người con nơi chiến trường. Và cũng chính tình yêu đồng chí, yêu ước, hậu phương đã hòa thành một tình cảm lớn lao giúp người chiến sĩ vượt qua những thử thách và gian lao của cuộc chiến. Đó chính là giá trị mà bài Bầm ơi muốn nhắn nhủ. Bởi nó cũng thể hiện được những quyết tâm của các chiến sĩ luôn sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi vì sau lưng họ có bầm luôn theo dõi và dành tình cảm sâu nặng.

Chủ Đề: Gia Đình Thân Yêu Của Bé

Chủ đề : Gia đình thân yêu của Bé Đề tài : Thơ “Nặn đồ chơi” Loại bài : Dạy trẻ đọc thuộc diễn cảm thơ Đối tượng : Mẫu giáo nhỡ B3 Trường : Trường mầm non asean Thời gian : 20-25 phút Ngày soạn : 24/10/2016 Ngày dạy : 02/11/2016 Người soạn và dạy : Hán thị phương hoa Giáo viên hướng dẫn : Mục đích – Yêu cầu: Kiến thức : Trẻ biết tên bài thơ “Nặn đồ chơi”, tên tác giả “Nguyễn Ngọc Ký” Trẻ hiểu nội dung bài thơ : Nói về em bé chăm ngoan học giỏi nên em đã nặn được rất nhiều đồ chơi đẹp như quả thị, quả na để tặng cha mẹ, thằng chuột để tặng chú mèo. Kĩ năng: Trẻ trả lời các câu hỏi của cô rõ ràng cả câu. Trẻ nhớ lời thơ và bước đầu đọc thuộc diễn cảm bài thơ Thái độ: Trẻ hứng thú đọc lại bài thơ Giáo dục trẻ: học giỏi chăm ngoan, vâng lời cô, biết tạo ra sản phẩm Chuẩn bị: Xác định cách đọc bài thơ: Giọng điệu cơ bản : nhẹ nhàng, vui tươi, trong sáng. Cách ngắt nhịp : Bên thềm /gió mát Quả này /phần mẹ Bé nặn /đồ chơi Quả này /phần cha Mèo nằm /vẫy đuôi Đây là /thằng chuột Tròn xoe /đôi mắt Tặng riêng /chú mèo Đây là /quả thị Mèo ta/ thích chí Đây là /quả na Vểnh râu /meo meo. Đồ dùng dạy học + Que chỉ, đất nặn + Tranh: Tranh 1: Cảnh bé đang ngồi nặn đồ chơi Tranh 2: Cảnh bé nặn quả thị, quả na tặng cha mẹ Tranh 3: Cảnh bé nặn thằng chuột tặng chú mèo Địa điểm, đội hình: Địa điểm : trong lớp Đội hình : + Cô đọc thơ lần 1: Trẻ ngồi xúm xít quanh cô + Cô đọc thơ lần 2 và giúp trẻ cảm nhận bài thơ: Trẻ ngồi trên ghế, hình chữ U Các bước tiến hành: Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ Ổn định tổ chức + “Trốn cô, trốn cô Cô đâu, cô đâu” +“cô đây, cô đây” Bài mới Giáo viên giới thiệu về bài thơ + Cả lớp nhìn xem cô có gì đây? + Đây là đất nặn đấy? + Đất nặn thì nặn được những gì? + À cô có biết một bài thơ nói về bạn nhỏ đã nặn được rất nhiều loại quả và con vật. Muốn biết bạn nhỏ đã nặn được quả gì và con vật gì thì chúng mình cùng lắng nghe cô đọc bài thơ “nặn đồ chơi” của tác giả Nguyễn Ngọc Ký. + Trẻ trả lời + Trẻ trả lời + Trẻ nghe Giáo viên đọc bài thơ cho trẻ nghe (2 lần) + Lần 1 : Cô đọc diễn cảm kết hợp cử chỉ, nét mặt + Lần 2 : Cô đọc kết hợp với tranh + Trẻ lắng nghe, quan sát + Trẻ lắng nghe quan sát Giáo viên đàm thoại và đọc trích dẫn. + Cô vừa đọc cho chúng mình nghe bài thơ gì? Do ai sáng tác? + Trong bài thơ đã nhắc tới ai? ( Cô chỉ vào tranh 1 và đọc 4 câu đầu “Bên thềm gió mát Bé nặn đồ chơi Mèo nằm vẫy đuôi Tròn xoe đôi mắt”) + Trong bài thơ em bé đã nặn được quả gì? ( cô chỉ vào tranh 2 và đọc 2 câu tiếp theo “ Đây là quả thị Đây là quả na” + Những quả này em bé dành tặng cho ai? ( cô chỉ vào tranh 2 và đọc 2 câu tiếp “ Quả này phần mẹ Quả này phần cha” + Ngoài nặn được quả thị và quả na ra thì em bé còn nặn được con gì nữa? ( cô chỉ vào tranh 3 và đọc câu tiếp “ đây là thằng chuột”) + Nặn được chuột em bé tặng cho bạn nào? ( cô chỉ vào tranh 3 và đọc câu tiếp “ tặng riêng chú mèo”) + Thế bạn mèo có thích không? (cô chỉ vào tranh 3 và đọc câu tiếp 2 câu cuối “ Mèo ta thích chí Vểnh râu meo meo” + Trẻ trả lời + Trẻ trả lời + Trẻ trả lời + Trẻ trả lời + Trẻ trả lời + Trẻ trả lời + Trẻ trả lời Giáo dục + Chúng mình phải ngoan biết vâng lời cha mẹ vâng lời cô, khi chơi chúng mình phải biết giữ gìn sản phẩm. + Trẻ lắng nghe. Giáo viên dạy trẻ đọc thuộc diễn cảm thơ + Giáo viên đọc bài thơ 1 lần + Cô đọc cùng cả lớp 1-2 lần + Mỗi tổ đọc 1 lần + 2-3 nhóm trẻ đọc thơ + Các cá nhân trẻ đọc thơ + Trẻ lắng nghe + Trẻ đọc cùng cô + Trẻ đọc thơ + Trẻ đọc thơ +Trẻ đọc thơ Kết thúc + Cô nhận xét + Chuyển hoạt động