Top 11 # Xem Nhiều Nhất Viết Văn Về Bài Thơ Đồng Chí Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Đồng Chí”

Đồng chí của Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quí ấy của những người chiến sĩ một cách sâu sắc. Lời thơ thật mộc mạc, tự nhiên như những lời tâm sự. Những thành ngữ đi vào trong thơ làm cho ta cảm giác như chính cuộc sống hàng ngày của người lính được hiện lên trước mắt ta vậy. Họ đến từ những miền quê khác nhau, người thì từ đồng bằng ven biển lên, kẻ thì từ vùng trung du xuống, nhưng họ đã dễ dàng gần gũi, thông cảm với nhau bởi cùng ra đi từ những vùng quê nghèo khó, vất vả:

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Mặc dù chẳng hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng chí. Họ cảm nhận được sự gắn bó keo sơn khi sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Lời thơ thật mộc mạc mà gần gũi nghe như văn kể chuyện về cuộc đời của những người lính trong lửa đạn chiến tranh. Câu thơ Súng bên súng đầu sát bên đầu vừa có ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Những người lính luôn gắn bó bên nhau lúc chiến đấu cũng nhứ lúc sinh hoạt cùng đồng đội, “súng bên súng” là cùng chung hành động, “đầu sát bên đầu” là cùng chung lí tưởng tạo nên một nguồn sức mạnh. Người lính đã cùng nhau sẻ chia gian lao, vất vả trong buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ thiếu thốn:

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Họ cùng sẻ chia những giá trị vật chất tuy chẳng là bao nhưng thấm đẫm tình đồng đội. Cùng đắp chung một chiếc chăn bông trong những đêm rừng sương lạnh, đây là điều kiện thuận lợi để người lính dễ dàng trao đổi tâm tình cho nhau. Vì thế mà họ trở thành “tri kỉ” của nhau. Hai tiếng “Đồng chí” được đột ngột tách thành một câu thơ riêng biệt có đi kèm một dấu chấm cảm, chia bài thơ thành hai nửa. Nửa trên là qui nạp, nữa dưới là diễn dịch. Hai nửa ấy như muốn làm rõ thêm tình cảm thiêng liêng của người chiến sĩ, làm lay động hàng triệu trái tim người đọc.

Những vần thơ như mang nặng bâng khuâng, thương nhớ của những người chiến sĩ:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay.

Đây là sự hi sinh cao cả của người lính. Họ lên đường ra mặt trận mặc dù ruộng vườn nhà cửa phải bỏ hoang. Người lính đã vì cái chung mà hi sinh cái riêng, đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của bản thân mình. Thật cảm động hình ảnh Gian nhà không mặc kệ gió lung lay. Hai chữ “mặc kệ” được cất lên, đó là một sự nỗ lực về tâm lí, một sự cố gắng để vượt lên trên những tình cảm nhớ thương dằn lòng bởi họ thấm nhuần cái chân lí “nước mất nhà tan”. Chính tình yêu quê hương của người chiến sĩ đã làm cho những vật vô tri vô giác cũng như dâng lên một nỗi nhớ:

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Đây cũng là cớ để gợi lên nỗi nhớ quê hương, nhớ cái giếng nước trong mát lành, nhớ gốc đa rợp bóng mát của quê mình. Họ luôn mang theo bên mình cả quê hương vào trong cuộc chiến đấu gian nan. Mặc dù buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng người chiến sĩ cách mạng vẫn vượt qua:

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Họ đã động viên nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, tình đồng đội để vượt qua những cơn sốt rét, vượt lên những khó khăn của thời tiết khắc nghiệt:

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

Trong cảnh “rừng hoang sương muối” người lính đứng bên nhau phục kích chờ giặc, Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả mọi khó khăn. Trong khó khăn, những người lính vẫn ung dung, chủ động, vẫn sát cánh bên nhau “chờ giặc tới”. Người lính càng yêu đời hơn bởi nơi đây còn có một người bạn tri âm tri kỉ, người bạn đó là vầng trăng thơ mộng. Đối với những người lính ra đi từ chốn đồng quê, trăng đã trở nên gần gũi, giờ đây họ lại mang vầng trăng ấy vào trong chiến trường ác liệt. Nó như thức cùng người chiến sĩ trong những đêm khuya chờ giặc tới.

Không những thế, hình ảnh vầng trăng thơ mộng còn tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Trong không khí căng thẳng vì đối đầu với địch, người lính vẫn luôn hướng về ánh sáng trong trẻo của vầng trăng và hướng về lí tưởng chiến đấu vì hoà bình của dân tộc. Bằng những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã thể hiện vẻ đẹp tinh thần và sự gắn bó keo sơn của người cách mạng, vẻ đẹp của họ đáng được nâng niu, trân trọng.

Cuộc kháng chiên chống Pháp trường kì là điểm hội tụ của những người chiến sĩ có cùng nhiệt huyết chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Ở đó có hàng triệu trái tim yêu nước đã giã từ bờ tre, giếng nước của quê nhà ra đi đánh giặc. Cuộc sống vất vả, gian nan trong chiến đấu đã gắn kết họ lại với nhau trong tình đồng chí. Bài thơcủa Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quí ấy của những người chiến sĩ một cách sâu sắc.Lời thơ thật mộc mạc, tự nhiên như những lời tâm sự. Những thành ngữ đi vào trong thơ làm cho ta cảm giác như chính cuộc sống hàng ngày của người lính được hiện lên trước mắt ta vậy. Họ đến từ những miền quê khác nhau, người thì từ đồng bằng ven biển lên, kẻ thì từ vùng trung du xuống, nhưng họ đã dễ dàng gần gũi, thông cảm với nhau bởi cùng ra đi từ những vùng quê nghèo khó, vất vả:Mặc dù chẳng hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng chí. Họ cảm nhận được sự gắn bó keo sơn khi sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Lời thơ thật mộc mạc mà gần gũi nghe như văn kể chuyện về cuộc đời của những người lính trong lửa đạn chiến tranh.Câu thơ Súng bên súng đầu sát bên đầu vừa có ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Những người lính luôn gắn bó bên nhau lúc chiến đấu cũng nhứ lúc sinh hoạt cùng đồng đội, “súng bên súng” là cùng chung hành động, “đầu sát bên đầu” là cùng chung lí tưởng tạo nên một nguồn sức mạnh.Người lính đã cùng nhau sẻ chia gian lao, vất vả trong buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ thiếu thốn:Họ cùng sẻ chia những giá trị vật chất tuy chẳng là bao nhưng thấm đẫm tình đồng đội. Cùng đắp chung một chiếc chăn bông trong những đêm rừng sương lạnh, đây là điều kiện thuận lợi để người lính dễ dàng trao đổi tâm tình cho nhau. Vì thế mà họ trở thành “tri kỉ” của chúng tôi tiếng “Đồng chí” được đột ngột tách thành một câu thơ riêng biệt có đi kèm một dấu chấm cảm, chia bài thơ thành hai nửa. Nửa trên là qui nạp, nữa dưới là diễn dịch. Hai nửa ấy như muốn làm rõ thêm tình cảm thiêng liêng của người chiến sĩ, làm lay động hàng triệu trái tim người đọc.Những vần thơ như mang nặng bâng khuâng, thương nhớ của những người chiến sĩ:Đây là sự hi sinh cao cả của người lính. Họ lên đường ra mặt trận mặc dù ruộng vườn nhà cửa phải bỏ hoang. Người lính đã vì cái chung mà hi sinh cái riêng, đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của bản thân mình. Thật cảm động hình ảnh Gian nhà không mặc kệ gió lung lay. Hai chữ “mặc kệ” được cất lên, đó là một sự nỗ lực về tâm lí, một sự cố gắng để vượt lên trên những tình cảm nhớ thương dằn lòng bởi họ thấm nhuần cái chân lí “nước mất nhà tan”.Chính tình yêu quê hương của người chiến sĩ đã làm cho những vật vô tri vô giác cũng như dâng lên một nỗi nhớ:Đây cũng là cớ để gợi lên nỗi nhớ quê hương, nhớ cái giếng nước trong mát lành, nhớ gốc đa rợp bóng mát của quê mình. Họ luôn mang theo bên mình cả quê hương vào trong cuộc chiến đấu gian nan.Mặc dù buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng người chiến sĩ cách mạng vẫn vượt qua:Họ đã động viên nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, tình đồng đội để vượt qua những cơn sốt rét, vượt lên những khó khăn của thời tiết khắc nghiệt:Trong cảnh “rừng hoang sương muối” người lính đứng bên nhau phục kích chờ giặc, Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả mọi khó khăn.Trong khó khăn, những người lính vẫn ung dung, chủ động, vẫn sát cánh bên nhau “chờ giặc tới”. Người lính càng yêu đời hơn bởi nơi đây còn có một người bạn tri âm tri kỉ, người bạn đó là vầng trăng thơ mộng. Đối với những người lính ra đi từ chốn đồng quê, trăng đã trở nên gần gũi, giờ đây họ lại mang vầng trăng ấy vào trong chiến trường ác liệt. Nó như thức cùng người chiến sĩ trong những đêm khuya chờ giặc tới.Không những thế, hình ảnh vầng trăng thơ mộng còn tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Trong không khí căng thẳng vì đối đầu với địch, người lính vẫn luôn hướng về ánh sáng trong trẻo của vầng trăng và hướng về lí tưởng chiến đấu vì hoà bình của dân tộc.Bằng những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, bài thơcủa Chính Hữu đã thể hiện vẻ đẹp tinh thần và sự gắn bó keo sơn của người cách mạng, vẻ đẹp của họ đáng được nâng niu, trân trọng.

Suy Nghĩ Của Em Về Tình Đồng Chí Đồng Đội Trong Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu

Suy nghĩ của em về tình đồng chí đồng đội trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Suy nghĩ của em về tình đồng chí đồng đội trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. “Đồng chí” của Chính Hữu được sáng tác năm 1948 trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc đang diễn ra rất quyết liệt.Bài thơ giúp người đọc hiểu hơn về hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ và tình đồng chí,đồng đội gắn bó keo sơn của họ .

Bài thơ mở đầu bằng những lời tâm tình của hai người bạn ,những câu thơ mộc mạc ,tự nhiên , mặn mà như một lời thăm hỏi quê quán cửa nhà:

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá .

Hai dòng thơ đủ giới thiệu với người đọc về hoàn cảnh xuất thân của hai người lính.Người thì ở vùng đồng bằng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”,người ở vùng trung du bạc màu “đất cày lên sỏi đá”.Như vậy cả “quê anh” và “làng tôi” đều là những miền quê lam lũ,vất vả,đói nghèo.Từ những phương trời xa lạ,họ”chẳng hẹn” mà “quen nhau” bởi họ có cùng chung mục đích đánh đuổi thực dân Pháp giải phóng quê hương .Vào bộ đội họ kề vai sát cánh bên nhau ,cùng chia sẻ với nhau những gian lao thiếu thốn của cuộc đời quân ngũ :

Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ .

Cùng là những người nông dân nghèo mặc áo lính ,chung lý tưởng đánh đuổi thực dân Pháp giải phóng quê hương . Họ vào bộ đội , chung nhiệm vụ ,chung một chiến hào,cùng đắp chung một tấm chăn khi trời giá lạnh.Điều kỳ lạ là khi chiếc chăn chung đắp lại đó là lúc dòng tâm sự mở ra .Có lẽ vì vậy mà họ hiểu nhau, thân nhau và trở thành tri kỉ.Lúc đó “Đồng chí “mới vang lên ,như tình yêu thương được hình thành từ thử thách và gian khó ,bị dồn nén tận đáy lòng đến giờ bật dậy, đủ sức đứng riêng thành một câu thơ.Nhịp thơ thắt lại,chắc khoẻ ,mộc mạc ,giản dị mà thiêng liêng,cảm động.Ta chợt nhận ra ,lấp lánh đằng sau những câu thơ nói về gió, về rét, lặng lẽ cháy một ngọn lửa ấm nồng tình đồng đội … Và như vậy “đồng chí” vừa là cao trào cảm xúc được dồn tụ trong sáu câu thơ trước ,vừa mở ra những gì chứa đựng ở suy nghĩ tiếp sau :

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Đi dọc bài thơ là sự sóng đôi của hai hình tượng “anh” và “tôi”.Tình tri kỉ, tình đồng chí đựơc bắc qua sự sóng đôi có ý nghĩa bổ sung ấy .Vì vậy đến đây, khi tác giả chỉ nói một cảnh ngộ ,người đọc vẫn có ấn tượng chung cho cả hai.Mấy câu thơ nói về gia cảnh của người này hoá ra lại diễn đạt sâu sắc tình yêu thương lặng lẽ của người kia .Là nông dân ,với họ ruộng đất quí hơn vàng , vào bộ đội ,họ để lại đằng sau xóm làng ,đất đai,nhà cửa.”Mặc kệ “đấy mà sao lưu luyến thế ,đến cả giếng nước gốc đa cũng chợt có hồn,biết nhớ ,biết thương người nơi tiền tuyến . “Giếng nước gốc đa” hay chính là đôi mắt hẹn ngày về của người bạn gái, làm ấm lòng người lính phương xa ?Tất cả đều có thể ,bởi một chút nhung nhớ ấy cùng với ngôi nhà ,ruộng nương và xóm làng thân thuộc là động lực để vì nó mà anh chấp nhận bao nhiêu gian khổ :

Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi . Áo anh rách vai , Quần tôi có vài mảnh vá , Miệng cười buốt giá , Chân không giày .

Không một chút tô vẽ điểm trang ,Chính Hữu tái hiện cuộc sống thiểu thốn của cuộc đời quân ngũ bằng những chi tiết thành thực đến thương lòng : áo rách,quần vá,chân không giày, sao chống nổi những cơn sốt rét giữa rừng sâu ?! Trong hoàn cảnh ấy, người lính sẻ chia cho nhau tình yêu thương ở mức tột cùng “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay “. Một câu thơ thôi song nói được bao điều. Bàn tay tìm đến nhau như san sẻ cho nhau ,truyền cho nhau hơi ấm ,niềm tin và sức mạnh . “Anh – tôi “nhoà đi sau “miệng cười buốt giá” để niềm tin , niềm lạc quan ,sự bất chấp khó khăn gian khổ của người lính hiện lên .Chính Hữu đã rất tinh khi phát hiện ra nội lực tinh thần ẩn sâu trong trái tim người lính .Chính nó đã góp phần tạo nên chiều sâu cho tình đồng chí thầm lặng nhưng rất đỗi thiêng liêng này .

Những câu thơ cuối bài hoàn thiện một cách xuất sắc chân dung người lính mộc mạc mà khoẻ khoắn, can trường :

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

“Rừng hoang sương muối”. Lại là cái giá ,cái rét run người của thiên nhiên khắc nghiệt ,song thiên nhiên không thể nào can thiệp tới ý chí và tình cảm của người chiến sĩ .Bởi các anh đứng cạnh bên nhau, chở che, nương tựa vào nhau trong tư thế chủ động chờ giặc tới .Và hình ảnh thơ cuối cùng mới đẹp làm sao!ở một góc nhìn nghiêng,vầng trăng như treo trên đầu nòng súng giơ cao của người chiến sĩ . Hình ảnh súng và trăng trở thành biểu tượng cho sự kết hợp hài hoà giữa thực và mộng,giữa chất chiến đấu và chất trữ tình ,giữa tâm hồn chiến sĩ và tâm hồn thi sĩ. Giữa rừng đêm hoang lạnh ,hình ảnh ấy tạc vào đêm tạo thành bức tượng đài chiến sĩ vững vàng mà thơ mộng .

Bài thơ dừng lại khi đã hoàn thiện trong tâm khảm bạn đọc hình ảnh những người nông dân mặc áo lính chân thật mà ấm nồng tình đồng đội .Bởi thế bài thơ không chỉ là tác phẩm xuất sắc của Chính Hữu mà còn là thi phẩm xuất sắc nhất về người lính Cụ Hồ của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Chùm Thơ Về Tình Đồng Chí, Đồng Đội …

Đồng đội ơi… về đi đồng đội ơi

Tây Trường Sơn nắng lửa mưa rừng

Nơi anh nằm đỉnh non cao nguồn thượng

Bốn mươi năm rồi, ở lại núi A Rum

Đắk Krông ơi, sông chảy về đâu?

Xin hãy trở nguồn yêu thương tình mẹ

Bao đêm dài khắc khoải chờ mong

Lệ nhạt nhòa cùng những canh thâu

Về đi anh… dẫu có phải thương đau

Vinh quang này anh dành cho Tổ quốc

Máu xương hòa vào lòng đất nước

Anh nhận về mình chiến sĩ hy sinh

Anh trở về! Chỉ còn có thế thôi

Chỉ có thế… nhưng linh hồn bất diệt

Núi sông nghiêng mình đón chào tiễn biệt

Lịch sử muôn đời còn mãi ghi danh./.

Năm mới gặp nhau nhóm bạn cũ

Gái trai đều đã bạc phơ đầu

Ngược xuôi mỗi đứa một duyên phận

Bận bịu đời thường vẫn nhớ nhau.

Thằng là cao cấp xe đưa đón

Đến họp nhờ xe cháu nội đèo,

Đứa tận rừng xa về kẻo chợ

Cồng kềnh chè gói, bó măng theo.

Gặp nhau một buổi, thời gian ít

Quanh chuyện trường chinh đã cạn ngày.

Nước mắt khô rồi mà dạ xót

Nhớ bao đồng đội vắng chiều nay.

Đứa đã gửi xương nơi hậu địch

Đứa mang thương tích trận vùng ven,

Cõi thế buồn chi dạt cửa Thiền?

Rủi may mỗi đứa một duyên phận

Vẫn kết trong người chất lính xưa.

Đã gặp là thương, là quấn quýt

Không bàn tiền bạc, chuyện hơn thua.

Đồng đội đầu Xuân tìm gặp mặt

Nhớ thương, mừng tủi, nói sao cùng,

Mỗi năm lại vắng thêm vài đứa

Chẳng đủ đội hình để hát chung./.

Người đàn bà làm thơ đến thăm anh thương binh

ngồi quạt lò than nghe kể chuyện chiến trường

Cánh thương binh nghịch ngợm tiếu lâm

Trong trí nhớ có thơ ca bay cùng mùi thịt nướng

Những người thương binh không chân

Ngồi hát những bài ca thời chiến tranh chờ thịt chín

Những đôi mắt liếc vội gương mặt phụ nữ ửng hồng

Mùi thịt nướng bay vờn quanh những chiếc xe lăn

Những chiếc đũa rơi không ai cúi nhặt

Đời thương binh như chiếc đũa cọc cạch

Thiếu cho mình người bếp núc lâu rồi

Mùi thơm ấm đượm ngày cuối cùng của năm

Người đàn bà làm thơ cúi xuống

Giấu nước mắt lưng tròng

Ngón chân cũng trắng hồng

Giao thừa Tết đến xuân sang

Trào dâng ký ức âm vang một thời

Trường Sơn rực lửa dậy khơi

Nhớ nơi trọng điểm không ngơi bom rền

Từ trường, nổ chậm…triền miên

Rừng trơ núi trọc đá nghiền thành vôi

Công binh bám trụ chẳng rời

Phá bom san lấp kịp thời xe qua

Từng đàn “thần sấm con ma”xé trời

Đèn dù soi chiếu không ngơi, không ngừng

Đêm đêm sáng trắng cả vùng

Từng bầy “quạ sắt” săn lùng xe qua

Nơi đâu còn mảng rừng già

“Pháo đài bay” rải lửa loa mịt mùng

Non cao điệp điệp trùng trùng

Mạng đường chiến lược không ngừng vươn xa

Trường Sơn vang bản hùng ca

Kết tinh ý chí tinh hoa ngoan cường

Con đường thống nhất yêu thương

Quân đi như nước, khắp đường xe reo

Xuyên ngàn vượt núi băng đèo

Tỏa ra khắp ngả vươn theo mọi miền

Hiệp đồng chiến đấu trung kiên

Cao xạ bủa lưới đạn xuyên đỏ trời

Công binh bám trụ chẳng rời

Căn hầm gỗ đất đào cơi là nhà

Phong tục truyền thống quyện hòa trong tâm

Nửa đêm xông đất, xông hầm

Xem tên chọn tuổi xếp phân từng người

Chúc nhau muôn sự cho đời

Hầm thêm kiên cố bom rơi không sờn

Chốt trên trọng điểm Trường Sơn

Dẫu hy sinh vẫn sắt son kiên cường

Xông pha ứng cứu khẩn trương

Đêm đêm rầm rập trên đường xe lao./.

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Đồng Chí

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ “Đồng chí”

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Đồng chí” – Viết về đề tài người lính trong hai cuộc kháng chiến đã có rất nhiều tác phẩm thành công với việc gây dựng lên hình ảnh người lính kiên cường, dũng cảm. Và trong số đó, bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu là một sáng tác nổi tiếng nói về người lính nông thôn.

Bài thơ được sáng tác năm 1948, sau chiến thắng thu đông Việt Bắc nhằm ca ngợi tinh thần dũng cảm của những người nông dân mặc áo lính.

Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Mở đầu bài thơ là những giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Nó như là những lời tâm sự, bộc bạch của những chàng trai trong một buổi chiều vắng địch. Họ vốn xuất thân từ những vùng nông thôn nghèo, không phải tri thức cũng chẳng phải thành đô. Từ những vùng đất cằn cỗi, bạc màu, họ bỏ lại sau lưng quê hương để lên đường ra mặt trận vì sự bình yên của Tổ Quốc. Từ những người xa lạ, họ trở thành anh em, trở thành ” đồng chí “. Trong họ đều mang một nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ gia đình nơi hậu phương. Chính những khó khăn về nơi sinh ra, ở họ có một sự cảm thông, đồng cảm để từ đó, từ những người xa lạ bỗng nhiên trở thành thân quen. Họ gắn bó cùng nhau, kề vai sát cánh bên nhau trong những trận đánh.

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Họ đồng cam cộng khổ cùng nhau. Chia sẻ cho nhau những mảnh chăn mỏng trong những đêm đông giá rét. Hai tiếng ” đồng chí ” nghe sao thân thuộc quá. Đó là cách gọi dành cho những người cùng chung lí tưởng, chung mục tiêu. Ở đây, những chàng trai đều mang trong mình một niềm tin mãnh liệt, một ý chí quyết tâm đánh thắng kẻ thù. Với lí tưởng đó, họ không ngần ngại khó khăn để sát cánh cùng nhau, vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy nơi chiến trường. Những đêm rét đắp chung tấm chăn tơi bạc màu sẽ là kỉ niệm về một thời gian khó mà họ không thể nào quên. Một sự sẻ chia, một thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp biết nhường nào.

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Ba câu thơ nói lên nỗi nhớ quê hương tha thiết của những chàng nông dân mặc áo lính. Hàng loạt hình ảnh bình dị của quê hương được nêu ra một một lời thơ nhẹ nhàng và tình cảm thiết tha. “Giếng nước, gốc đa” là những hình ảnh thân thuộc nhất của một miền quê nghèo. Họ đã cùng nhau bỏ lại tất cả sau lưng để lên đường với một khát khao mang tự do, hòa bình về cho Tổ Quốc. Họ cùng nhau sẻ chia, cùng nhau, cùng gặm nhẫm nỗi nhớ về quê hương xa xôi và rồi gác lại tất cả để thực hiện mục tiêu, thực hiện lí tưởng cao đẹp.

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Cuộc sống nơi chiến trường với biết bao khó khăn, thiếu thốn. Sốt rét, đói lạnh..các anh đều cùng nhau trải qua. Dù khó khăn, nhưng các chàng lính vẫn lạc quan, vẫn tươi cười, vẫn nắm lấy tay nhau và tạo cho nhau niềm tin vững chắc về một tương lai tươi đẹp đang chờ phía trước.

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Kết thúc bài thơ là hình ảnh hai chàng lính đang đứng cạnh nhau, họ kề vai nhau chờ giặc tới. Hình ảnh ‘đầu súng trăng treo” là một tứ thơ rất đẹp. Trăng là biểu tượng cho sự yên bình, súng là tượng trưng cho sự gian nan vất vả. Câu thơ như vẽ ra một tương lai tươi sáng sau những ngày gian khổ, chiến đấu với hiểm nguy. Một hy vọng tràn đầy trong trái tim mỗi người lính.

Bài thơ “Đồng chí ” của Chính Hữu đã khắc họa lên hình ảnh người nông dân mặc lính đầy lạc quan và dũng cảm. Trong gian khó họ vẫn đứng cạnh nhau, không lùi bước. Với ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, nhà thơ đã vẽ lên hình tượng người chiến sĩ tráng lệ nhưng bình dị, cao cả và thiêng liêng.