Top 9 # Xem Nhiều Nhất Viết Mở Bài Bài Thơ Nhàn Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Mở Bài Kết Bài Nhàn Hay Nhất

Mở bài kết bài Nhàn hay nhất

Kiến thức ngữ văn 10 không quá nặng nhưng những tác phẩm đều là những tác phẩm trung đại khó là khó học. Đặc biệt để các bạn dễ dàng hơn trong việc hoàn thành tốt tác phẩm này hocvan12 muốn gửi đến bạn một số Mở bài kết bài Nhàn hay nhất.

Mở bài trực tiếp nhàn

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là vị quan sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam. Ông có một vốn hiểu biết uyên thâm và là một nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ ông thường mang đậm những triết lí sâu sắc về con người, thời đại mà cho đến ngày nay người ta vẫn phải suy ngẫm. “Nhàn” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác ấy của tác giả, đây là bài thơ Nôm số 73 trong tập ” Bạch vân quốc ngữ thi tập”, được sáng tác khi tác giả cáo quan về ở ẩn, nói về cuộc sống thanh nhàn nơi thôn dã và triết lí sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Mở bài gián tiếp Nhàn

Mở bài nhàn hay

Trong suốt chiều dài văn học trung đại, đã có rất nhiều bài thơ hay, mang đầy những ý nghĩa sâu sắc của các thi sĩ đương thời. Trong đó bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những bài thơ tiêu biểu, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách của tác giả, nêu cao triết lí sống, quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi.

Mở bài nâng cao nhàn

“Thơ chỉ bật ra khi trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy”, mỗi bài thơ đều chứa đựng biết bao nhiêu rung cảm, trăn trở của người cầm bút. Trong nền Văn học Trung đại, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ghi dấu ấn quan trọng với những bài thơ mang đậm triết lí, suy tư về con người, cuộc đời. Đối với một vị quan sống trong một xã hội đầy rối ren loạn lạc, chứng kiến cảnh con người ta bị tha hóa vì quyền lực, danh lợi, thì việc lui về sống một cuộc sống hào hợp với thiên nhiên, cây cỏ mà xa lánh những tranh giành tầm thường là một quyết định thật sáng suốt. Tiêu biểu cho triết lí ấy là bài thơ “Nhàn” được ông sáng tác khi đã cáo quan về ở ẩn, sống một cuộc sống thanh tao, vượt ra ngoài sự bon chen xô bồ vì danh lợi.

Top 3 kết bài Nhàn

Như vậy, 8 câu thơ với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố đường luật và yếu tố Việt hóa thể hiện linh hoạt trong các câu thơ và qua việc sử dụng các hình ảnh ước lệ mà dân giã, bình dị, Nguyễn Bình Khiêm đã cho ta thấy một quan niệm sống hết sức đẹp đẽ, như một lời khẳng định chắc nịch về lối sống “Nhàn”, giữ cho mình cốt cách thanh cao, trong sạch.

Kết bài gián tiếp Nhàn

Kết bài nâng cao Nhàn

Bài thơ đã bao quát toàn bộ triết trí, quan niệm sống của một bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, xa rời những xô bồ tầm thường. Lời thơ thâm trầm, sâu sắc mà không hề khó hiểu. Tất cả đã vẽ nên một bức chân dung người yêu nước luôn coi trọng cốt cách tinh thần của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bài thơ đúc kết kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính và cũng là bài học cho mọi người ngay cả trong thời buổi hiện nay.

“Bí Kíp” Luyện Viết Mở Bài Môn Ngữ Văn

Nội dung của phần Mở bài là giới thiệu vấn đề (cần tả, kể, bàn luận,…) trong bài, làm cơ sở cho phần Thân và Kết bài, đồng thời nó như một màn chào hỏi, dẫn dắt người đọc vào bài viết. Bởi vậy, mở bài đóng một vai trò rất quan trọng.

Nguyên tắc khi viết mở bài:

Hai nguyên tắc mở bài mà các bạn phải luôn tâm niệm là:

– Nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài.

– Chỉ được phép nêu những ý khái quát về vấn đề.

– Đầy đủ: phải nêu được vấn đề cần nghị luận; phạm vi tư liệu, thao tác nghị luận chính.

– Độc đáo: gây được sự chú ý cho người đọc về vấn đề cần nghị luận bằng những liên tưởng khác lạ, bất ngờ cho người đọc. Bạn sẽ dễ chiếm cảm tình của người viết nhất bằng cách này, bởi nó làm bài văn của bạn nổi bật giữa hàng trăm bài văn khác.

– Tự nhiên: ngôn từ giản dị, mộc mạc, tránh sáo rỗng, tránh gượng ép. Điều này sẽ gây cho người đọc cảm giác mơ hồ, khó chịu.

Phần mở bài có vai trò rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến cảm xúc, tâm lí người chấm. Do vậy, bạn nên đầu tư cho phần mở bài, tránh lạc đề, xa đề, quá sơ sài hay quá dài dòng.

Cách viết mở bài

Xác định vấn đề cần nêu trong mở bài bằng cách đặt và trả lời câu hỏi:

Bài làm cần viết về vấn đề gì?

Cách xác định vấn đề: Xác định vấn đề bàn luận là điều căn cốt nhất vì nếu xác định sai thì coi như toàn bộ nội dung bài viết sẽ chệch hướng hoàn toàn (lạc đề). Muốn xác định được vấn đề cần phải t́ìm hiểu đề bài. Thông thường đề bài có hai dạng:

– Dạng nổi (lộ thiên): Là dạng đề mà các yêu cầu về nội dung, h́ình thức, cách thức, phương hướng, phạm vi, mức độ nghị luận được nêu ra trực tiếp và rõ ràng ngay ở đề bài. Với đề bài này vấn đề cần bàn luận đã có sẵn, không khó để các bạn xác định.

Ví dụ 1: Đề bài: Nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (trích Số đỏ).

Tìm hiểu đề:

+ Nội dung: Nghệ thuật châm biếm sắc sảo

+ Phạm vi: Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia

+ Kiểu bài: Nghị luận (thao tác phân tích)

Ví dụ 2: Tình yêu với biển đảo quê hương của thanh niên Việt Nam.

Vấn đề cần tìm đã rất rõ ràng đó là tình yêu biển đảo của thanh niên Việt Nam.

Lưu ý:

– Có nhiều đề bài trích dẫn những đoạn văn, câu nói với dung lượng dài đòi hỏi các bạn cần đọc kĩ để xác định được vấn đề.

– Có những đề văn được cấu tạo theo cách: Nêu lệnh + nêu nội dung hoặc ngược lại. Vậy các bạn cần hiểu rõ để biết đâu là yêu cầu, đâu là vấn đề cần lí giải. Ví dụ 3: Hãy phân tích đoạn Mị ở nhà thống lý Pá Tra để thấy được nỗi đau và sức sống tiềm tàng của người phụ nữ mèo vùng Tây bắc.

Với đề bài trên, ta xác định được:

+ Nội dung: nỗi đau và sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, tiêu biểu cho người phụ nữ mèo vùng Tây bắc.

+ Phạm vi: đoạn Mị ở nhà thống lý Pá Tra (trích “Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)

+ Kiểu bài: Nghị luận (thao tác phân tích)

– Dạng chìm: Là dạng đề trong đó người ra đề không cho dữ kiện rõ về các yêu cầu của nội dung cũng như cách thức, phạm vi… nghị luận. Bởi thế người viết phải phân tích, tổng hợp, khái quát nội dung vấn đề từ chính nội dung của đoạn văn, đoạn thơ, hoặc tác phẩm, câu trích…

Ví dụ 1: Biển đảo quê hương hôm nay với thanh niên Việt Nam.

Đề bài đưa ra một vấn đề “nóng” hiện nay, để làm rõ vấn đề cần có suy nghĩ : biển đảo quê hương hôm nay có vấn đề gì ? Vì sao phải đặt vấn đề đó hôm nay ? trách nhiệm của thanh niên với biển đảo…

Ví dụ 2: Chí Phèo của Nam Cao, một nhân vật điển hình.

Học sinh khi đọc đề cần xác định thật rõ ràng những yêu cầu của đề theo hướng:

Bạn có thể viết mở bài theo 1 trong 3 cách sau:

Mở bài trực tiếp: Là cách giới thiệu ngay vào vấn đề cần.

Ví dụ: Mở bài cho đề bài: Phân tích bài thơ “Chiều tối” trong tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh.

“Chiều tối” là một bài thơ trong tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh. Bài thơ được Bác sáng tác ngay trên đường bị giải đi từ nhà ngục Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo vào lúc chiều tàn. Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ đã ghi lại bức tranh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của con người ở vùng rừng núi một cách sinh động.

– Ưu điểm của cách mở bài trực tiếp:

+ Đi thẳng vào vấn đề nên tránh được sự lan man, xa đề hoặc lạc đề.

+ Dễ vận dụng đối với các học sinh có kỹ năng lập luận yếu.

+ Tiết kiệm được thời gian suy nghĩ cho người viết.

– Nhược điểm:

+ Ít tạo được không khí lôi cuốn cho người đọc.

Một số cách mở bài gián tiếp :

+ Mở bài theo lối diễn dịch: nêu những ý khái quát hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới bắt vào vấn đề ấy.Ví dụ: ” Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận là một “bài thơ cuộc đời”. Bài thơ được sáng tác năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả. Thông qua một đêm đánh cá của đoàn thuyền lớn trên biển, tác giả ca ngợi kiểu lao động mới mẻ của người lao động tràn đầy lạc quan tin tưởng, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la. Qua bài thơ ta cảm nhận được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH.

+ Mở bài theo lối quy nạp: nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận.

Ví dụ: Cảm nhận về bức tranh xuân trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”.

Ví dụ: Khi đọc “Mùa Lạc” của Nguyễn Khải ta gặp nhân vật Đào, cô gái có quá khứ đau thương nhưng đã trỗi dậy mạnh mẽ khi đón nhận cuộc sống mới và những con người mới; nhưng đau thương hơn và sự vươn dậy quyết liệt hơn phải kể đến nhân vật phụ nữ trong tác phẩm viết cùng thời của nhà văn Tô Hoài.

+ Mở bài theo lối tương phản (đối lập): nêu lên một ý trái ngược với ý trong đề bài rồi lấy đó làm cớ chuyển sang vấn đề nghị luận hoặc nêu lên các ý kiến đối lập nhau về vấn đề cần nghị luận Ví dụ: Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một nàng Vũ Nương oan khuất, một nàng Kiều bi kịch, một Chị Dậu tủi hờn… Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng, vẫn những người phụ nữ ngày xưa ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ đứng dậy làm chủ đời mình. Một trong những nhân vật văn học nữ tiêu biêu biểu là Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Nhà văn Tô Hoài.

+ Mở bài bằng cách đặt câu hỏi nghi vấn: người viết tự đề xuất câu hỏi về vấn đề cần bàn. Trả lời câu hỏi chính là cách giải quyết vấn đề, nêu lên được vấn đề cần bàn bạc.

Mở bài: Trong xã hội, ai cũng muốn thành đạt trong mọi hoạt động, trong công việc cũng như trong cuộc sống. Vậy cái gì tạo nên sự thành đạt đó? Có thể nói, có nhiều yếu tố tạo nên sự thành đạt. Một trong những yếu tố có giá trị tiên quyết là mục đích sống. Nhà văn Pháp Đ. Điđrô đã nêu ra kết luận: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường”.

* Kết cấu của đoạn mở bài theo cách gián tiếp gồm 3 phần:

– Mở đầu đoạn:

+ Tuỳ nội dung vấn đề cần nghị luận mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể là một câu thơ, một câu danh ngôn hoặc một câu chuyện kể…

– Phần giữa đoạn:

+ Nêu luận đề

– Phần kết đoạn:

Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày.

– Mở bài 1: Có ai đó đã ví sáng tạo nghệ thuật như việc thả diều. Con diều dù có bay bổng bao nhiêu vẫn phải gắn với mặt đất bằng một sợi dây vững chắc. Ý tưởng ấy gợi cho ta nhiều suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống. Hãy đến với một số tác phẩm văn học lớn, chúng ta sẽ thấy rõ mối quan hệ máu thịt này.

– Mở bài 2: Thần thoại Hy Lạp còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về chàng lực sĩ Ăngtê và đất mẹ. Thần Ăngtê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng gắn chặt vào lòng đất mẹ Gaia. Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống hệt như quan hệ giữa Ăngtê và đất mẹ vậy. Chưa tin ư? bạn hãy đến với những tác phẩm văn học lớn để thấy rõ điều đó.

– Mở bài 3: Trong một lần tâm sự với văn nghệ sĩ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời sống, thoát ly đời sống, nghệ thuật nhất định sẽ khô héo”. Văn học là một loại hình cơ bản của nghệ thuật. Lời tâm sự trên đã trực tiếp khẳng định mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống. Phân tích một số tác phẩm văn học lớn, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.

Nguồn: Học 247

Mở Bài Bài Thơ Đồng Chí

Một số cách mở bài bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Mở bài bài thơ Đồng chí

Chính Hữu là nhà thơ trẻ đứng trong hàng ngũ những nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Là một nhà thơ chiến sĩ nên phần lớn tác phẩm thơ ca của Chính Hữu mang đề tài người lính và chiến tranh, trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “Đồng chí” được sáng tác năm 1948. Ra đời trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, bài thơ đã mang đến cho người đọc cái nhìn chân thực nhất về hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, khó khăn của bộ đội và nhân dân ta, cũng từ đó cho ta thấy được vẻ đẹp của tình đồng chí đồng đội giữa những người lính.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đã đi qua hơn 60 năm nhưng vẫn để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong lòng mỗi người dân Việt Nam, trong suốt những năm tháng hào hùng ấy đã ghi dấu những hình ảnh đẹp về người lính bộ đội cụ Hồ, về tình quân dân thắm thiết và đặc biệt là tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn. Bằng chính sự trải nghiệm đời lính và là người trong cuộc, nhà thơ Chính Hữu đã viết nên bài thơ “Đồng chí” nhằm ca ngợi tình cảm thiêng liêng, gắn bó sâu sắc của tình đồng chí và khẳng định ý chí chiến đấu, tinh thần quả cảm vì sự nghiệp dân tộc của các anh bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp xưa.

Quả không sai khi người ta gọi Chính Hữu là nhà thơ quân đội, bởi ông là nhà thơ đã gắn bó với cả hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc là kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Tuy Chính Hữu làm thơ không nhiều chủ yếu là về người lính và chiến tranh nhưng thơ của ông mang những nét đặc sắc riêng, viết về bộ đội nhưng thiên về nội tâm, tình cảm. Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào năm 1948 khi tác giả đang cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc đã trở thành tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của văn học thời kỳ chống Pháp, có thể nói đây là tác phẩm thành công đầu tiên thuộc thể loại thơ kháng chiến.

“Đồng chí” – một danh từ chỉ những người có chung chí hướng, lý tưởng, ở chung một đoàn thể chính trị hay một tổ chức cách mạng, và tình đồng chí là một thứ tình cảm đặc biệt. Nhà thơ Chính Hữu đã ca ngợi về thứ tình cảm đó qua bài thơ “Đồng chí”, cho người đọc cảm nhận được tình cảm đồng chí thật tự nhiên, bình dị, gắn bó trong mọi hoàn cảnh. Bài thơ có sự hòa hợp giữa chất giọng lãng mạn của văn chương và vẻ đẹp dung dị của người lính, tình đồng chí của những người lính cách mạng được nhà thơ diễn tả bằng những chi tiết và hình ảnh gần gũi, giản dị, chân thực mà giàu cảm xúc, những hình ảnh thơ rất thực nhưng cũng không kém phần thơ mộng.

Trong hàng ngũ quân đội tham gia kháng chiến, những người lính cùng chung cảnh ngộ, hoàn cảnh chiến đấu được gọi là “đồng đội”. Trong cuộc sống quân ngũ, những người lính đã cùng nhau chia sẻ từng cái khắc nghiệt của hoàn cảnh sống, kề vai sát cánh trong chiến đấu, từ đó hình thành nên một mối quan hệ thiêng liêng, gắn bó – tình đồng chí. Chính tình đồng chí là một phần quan trọng củng cố lòng tin và tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho người chiến sĩ, đó cũng là một nét đẹp của những người lính cách mạng. Có không ít văn thơ đã ca ngợi về thứ tình đồng chí nhưng hay nhất có lẽ là bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu, bài thơ là tiêu biểu cho nền thơ ca kháng chiến và khi nhắc đến thơ kháng chiến không thể không nhắc đến “Đồng chí”. Với những hình ảnh chân thực lãng mạn đã giúp cho bài thơ có sức tạo hình, sức lan toả mạnh mẽ.

Triết Lý Sâu Sắc Của Bài Thơ “Nhàn”

Trong dòng chảy văn học, nếu Nguyễn Trãi là người kết tinh thời kỳ vàng son văn hóa Lý – Trần thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là người theo sau, kế thừa tinh hoa Nguyễn Trãi và đạt đến đỉnh cao, thêm một bước hoàn thiện cả về tư tưởng cũng như bút pháp, thể loại cho thi ca dân tộc.

Học sinh Trường THPT Tây Thạnh phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chỉ cần so sánh về thể loại thơ Nôm đủ cho ta thấy điều đó: Nếu Quốc âm thi tập (được xem là tập thơ viết bằng chữ Nôm sớm nhất của văn học Việt Nam), mặc dù được Nguyễn Trãi ý thức cách tân “Nôm hóa” thơ thất ngôn  Đường luật chữ Hán bằng nhiều câu thơ lục ngôn (sáu chữ), song vẫn còn đậm đặc yếu tố cổ điển. Thì đến Bạch Vân quốc ngữ thi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “lột xác” cho thơ Nôm dân tộc, “Việt hóa” từ ngôn từ, mỹ cảm cho đến tâm thức… Tất cả đều nhuốm màu thế sự, thấm đẫm hơi thở thời đại đạo lý luân thường. Mà phải chờ khá lâu sau đó, đến áng thơ Nôm trác việt kết tụ linh hồn dân tộc Truyện Kiều (Nguyễn Du) và tài “Chúa thơ Nôm” của Hồ Xuân Hương, dòng chảy thơ Nôm Việt Nam mới thật sự thăng hoa, đạt đến đỉnh cao của sự hoàn hảo. Nhìn bao quát ra như thế để thấy rằng trong dòng chảy ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là chiếc cầu nối, là một mắt xích quan trọng, là vị trí khó có thể thiếu.

Bạch Vân quốc ngữ thi là đoạn trung chuyển của dòng chảy ấy, mà tiêu biểu nhất là bài thơ Nhàn (Thú nhàn). Bài thơ này của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ lâu đã được đưa vào giảng dạy ở chương trình Ngữ văn lớp 10. Đây được xem là bài thơ khá đặc biệt vì nó kết tinh tư tưởng sâu sắc quan niệm sống của những bậc đại hiền triết thức giả Á Đông xa xưa, song những chiêm nghiệm sống ấy ngày nay vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn. Thật khó nói hết cái hay và sự thâm thúy của nó. Bài viết này xin có mấy liên hệ như những điểm nhấn nhằm làm nổi bật sự thâm thúy của bài thơ.

Thứ nhất, sự thâm thúy của bài thơ thể hiện ở nhan đề Nhàn, mặc dù nó được người đời sau đặt. Trong Hán tự, chữ “nhàn” được ghép bởi bộ “nhân” (“nhân” đứng, là người, đứng bên trái tự) hội ý với bộ “môn” (là cửa), trong bộ “môn” có bộ “nguyệt” (là trăng). Khi hội ý như thế, chữ “nhàn” có nghĩa là: người thảnh thơi ngắm trăng rọi vào khung cửa. Lúc nào chúng ta có những giây phút giao hòa với thiên nhiên như thế mới gọi là nhàn. Ngày nay, có được những giây phút như thế là cực kỳ hiếm hoi.

Thứ hai, trong bài thơ có câu “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ” nằm ở cặp câu thơ thực của bài thơ thất ngôn bát cú. Nơi vắng vẻ là nơi nào? Là nơi “sơn lâm” (rừng núi) mà cái lẽ đời người ta thường nói “Bần cư tại thị vô nhân vấn/ Phú tại sơn lâm hữu khách tầm” (nghèo khó mà ở thành thị đông người cũng chẳng ai đến thăm/ giàu có mà ở rừng núi xa xôi hẻo lánh thì cũng có khách đến). Đọc câu thơ này của Bạch Vân Cư Sĩ (tên hiệu của Nguyễn Bỉnh khiêm), tôi lại nhớ đến một Hán tự khác, đó là chữ “tiên” (ông Tiên, ông Bụt). Theo sự hội ý của tự này thì “tiên” không phải là người trên trời mà là người trên núi (sơn). Vì chữ “tiên” được ghép bởi bộ “nhân” (như nói ở trên) và bộ “sơn” (đúng bên phải). Nghĩa là người trên núi thì gọi là tiên. Mà dân gian ta hay nói “sướng như tiên”. Vậy thì xem ra Nguyễn Bỉnh Khiêm đâu có… dại! 

Thứ ba, ở cặp câu kết, tác giả viết: “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống/ Nhìn xem phú quý tựa chiếm bao”. Tôi xin không bàn câu thơ sau, mà chỉ bàn đến câu nói về… “tửu đạo”.  Rượu, ừ thì uống chứ. Uống một cách ung dung, tự tại, chẳng ai cấm, không ai ép. Nhưng mà uống dưới gốc cây kia, uống như cụ Nguyễn Khuyến để vừa ngoạn cảnh thu Bắc bộ kia. Không phải uống ở… nhà hàng, quán bar, vỉa hè, đường phố như  kiểu “lô nhô loài người” (chữ của Trịnh Công Sơn). Uống dưới “cội cây” là uống giữa thiên nhiên, uống để tịnh dưỡng. Nói đến đây tôi nhớ đến chữ “hưu” (nghỉ hưu, hưu trí) trong chữ Hán. Chữ này gồm bộ “nhân” (cũng như đã nói trên) ghép với bộ “mộc” (cây, bên phải). Nghĩa là, theo người xưa, nghỉ hưu, về hưu là về dưới gốc cây, về với vườn thiên nhiên. Chứ không phải về… trại dưỡng lão, về với bốn bức tường lạnh giá và chiếc ti vi nóng hổi, về mà ôm cháu nuôi chắt như bao cụ ông cụ bà ngày nay!

Trần Ngọc Tuấn(Trường THPT Tây Thạnh, TP.HCM)