Top 10 # Xem Nhiều Nhất Viết Kết Bài Cho Bài Thơ Đồng Chí Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Cảm Nhận Của Em Về Đoạn Kết Của Bài Thơ Đồng Chí

Cam nhan ve bai tho Dong chi. Đề bài: Em hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về đoạn kết của bài thơ Đồng chí- Chính Hữu

Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ đầy gian khổ, đau thương nhưng không kém phần hào hùng. Và một câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao một đất nước nhỏ bé, lạc hậu như Việt Nam lại có thể đương đầu và giành chiến thắng vẻ vang trước hai cường quốc sừng sỏ, hùng mạnh như Pháp và Mĩ. Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng tinh thần kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam thì chẳng thể nói hết được bằng lời. Đặc biệt, để tạo được sức mạnh lớn như vậy trong chiến đấu là vì con người Việt Nam biết đoàn kết, biết hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong chiến tranh. Bài thơ Đồng chí của tác giả Chính Hữu đã thể hiện được tương quan đoàn kết đầy đặc biệt giữa những người lính- cơ sở sức mạnh của kháng chiến.

Bài thơ Đồng chí được sáng tác năm 1948- đây là thời điểm mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta bước vào giai đoạn khốc liệt, căng thẳng. Những người lính đã trải qua những ngày tháng chiến đấu vô cùng gian khổ, nhưng cũng chính trong hoàn cảnh này, tình đồng chí, đồng đội đã xua đi được cái khốc liệt của khói lửa của chiến tranh,làm sáng lên tình người giữa con người với con người.

Những người lính đến từ khắp nơi của đất nước, họ là những con người xa lạ, không hề có sự quen biết từ trước nhưng giữa họ có những đặc điểm chung. Trước hết, họ là những người con nghèo sinh ra từ những vùng quê nghèo khó, những người nông dân lam lũ ấy bị ngọn lửa của chiến tranh, ngọn lửa của lòng căm thù đốt lên lí tưởng mãnh liệt, đó chính là giành lại độc lập, bảo vệ cuộc sống của những người mà họ thương yêu. Từ đó mà họ trở thành những người lính, những người đồng đội:

” Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Những người lính ra trận mang theo những khát vọng đẹp, đó là mang hòa bình về cho đất nước, mang tự do về cho dân tộc, họ ra đi và nguyện dâng hiến hết mình cho đất nước.Trong những ngày tháng chiến đấu, bên cạnh sự hiểm nguy luôn rình rập thì họ còn trải qua cuộc sống sinh hoạt vô cùng khắc liệt nhưng họ đều cùng nhau đương đầu và vượt qua tất cả.

Không chỉ là những người có tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, có tinh thần đoàn kết, yêu thương đáng ngưỡng mộ mà những người lính còn là những người luôn lạc quan và hi vọng về một ngày mai tươi sáng.Khổ thơ cuối được coi là những câu thơ hay nhất của bài thơ:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu sung trăng treo”

Câu thơ vừa gợi ra được cái khắc liệt của hoàn cảnh sống, hoàn cảnh chiến đấu mà còn sáng lên tinh thần lạc quan, niềm hi vọng mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng. “đêm nay rừng hoang sương muối” gợi ra khoảnh khắc đêm khuya khi những làn sương bao phủ lên núi rừng. Sương muối trong rừng không chỉ lạnh cắt da cắt thịt mà nó còn bao phủ tầm nhìn của những người lính. Trong hoàn cảnh chiến đấu ấy nếu không có sự kiên cường, quyết tâm thì khó có thể vượt qua.

Trong không gian đầy đặc biệt ấy, những người lính vẫn thực hiện nhiệm vụ của mình, đứng canh gác và chờ giặc tới. Có thể thấy những người lính trong kháng chiến không có một phút nào lơ là, mất cảnh giác mà luôn trong tư thế chiến đấu với tinh thần quyết tâm cao độ. Họ đã bên nhau cùng chờ giặc tới, trong cái lạnh giá của sương muối, trong sự hiểm nguy rình rập vẫn sáng lên hơi ấm của tình người, đó là tình đồng đội, tình đồng chí.

Câu thơ cuối được đánh giá là hàm súc nhất và mang nhiều ý nghĩa “Đầu sung trăng treo”, về ý nghĩa tả thực, nó gợi ra hình ảnh những mũi sung của người lính luôn trong tư thế chiến đấu, không gian đêm khuya xuất hiện ánh trăng tròn, do đó nhìn từ xa ta có thể thất được ánh trăng đang treo ở trên đầu súng. Về ý nghĩa biểu tượng nó tượng trưng cho khát vọng hòa bình của những người lính.

TỪ KHÓA TÌM KIẾM ĐỒNG CHÍ DONG CHI CHÍNH HỮU PHÂN TÍCH BÀI THƠ ĐỒNG CHÍ Theo chúng tôi

Mở Bài Bài Thơ Đồng Chí

Một số cách mở bài bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Mở bài bài thơ Đồng chí

Chính Hữu là nhà thơ trẻ đứng trong hàng ngũ những nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Là một nhà thơ chiến sĩ nên phần lớn tác phẩm thơ ca của Chính Hữu mang đề tài người lính và chiến tranh, trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “Đồng chí” được sáng tác năm 1948. Ra đời trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, bài thơ đã mang đến cho người đọc cái nhìn chân thực nhất về hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, khó khăn của bộ đội và nhân dân ta, cũng từ đó cho ta thấy được vẻ đẹp của tình đồng chí đồng đội giữa những người lính.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đã đi qua hơn 60 năm nhưng vẫn để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong lòng mỗi người dân Việt Nam, trong suốt những năm tháng hào hùng ấy đã ghi dấu những hình ảnh đẹp về người lính bộ đội cụ Hồ, về tình quân dân thắm thiết và đặc biệt là tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn. Bằng chính sự trải nghiệm đời lính và là người trong cuộc, nhà thơ Chính Hữu đã viết nên bài thơ “Đồng chí” nhằm ca ngợi tình cảm thiêng liêng, gắn bó sâu sắc của tình đồng chí và khẳng định ý chí chiến đấu, tinh thần quả cảm vì sự nghiệp dân tộc của các anh bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp xưa.

Quả không sai khi người ta gọi Chính Hữu là nhà thơ quân đội, bởi ông là nhà thơ đã gắn bó với cả hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc là kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Tuy Chính Hữu làm thơ không nhiều chủ yếu là về người lính và chiến tranh nhưng thơ của ông mang những nét đặc sắc riêng, viết về bộ đội nhưng thiên về nội tâm, tình cảm. Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào năm 1948 khi tác giả đang cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc đã trở thành tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của văn học thời kỳ chống Pháp, có thể nói đây là tác phẩm thành công đầu tiên thuộc thể loại thơ kháng chiến.

“Đồng chí” – một danh từ chỉ những người có chung chí hướng, lý tưởng, ở chung một đoàn thể chính trị hay một tổ chức cách mạng, và tình đồng chí là một thứ tình cảm đặc biệt. Nhà thơ Chính Hữu đã ca ngợi về thứ tình cảm đó qua bài thơ “Đồng chí”, cho người đọc cảm nhận được tình cảm đồng chí thật tự nhiên, bình dị, gắn bó trong mọi hoàn cảnh. Bài thơ có sự hòa hợp giữa chất giọng lãng mạn của văn chương và vẻ đẹp dung dị của người lính, tình đồng chí của những người lính cách mạng được nhà thơ diễn tả bằng những chi tiết và hình ảnh gần gũi, giản dị, chân thực mà giàu cảm xúc, những hình ảnh thơ rất thực nhưng cũng không kém phần thơ mộng.

Trong hàng ngũ quân đội tham gia kháng chiến, những người lính cùng chung cảnh ngộ, hoàn cảnh chiến đấu được gọi là “đồng đội”. Trong cuộc sống quân ngũ, những người lính đã cùng nhau chia sẻ từng cái khắc nghiệt của hoàn cảnh sống, kề vai sát cánh trong chiến đấu, từ đó hình thành nên một mối quan hệ thiêng liêng, gắn bó – tình đồng chí. Chính tình đồng chí là một phần quan trọng củng cố lòng tin và tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho người chiến sĩ, đó cũng là một nét đẹp của những người lính cách mạng. Có không ít văn thơ đã ca ngợi về thứ tình đồng chí nhưng hay nhất có lẽ là bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu, bài thơ là tiêu biểu cho nền thơ ca kháng chiến và khi nhắc đến thơ kháng chiến không thể không nhắc đến “Đồng chí”. Với những hình ảnh chân thực lãng mạn đã giúp cho bài thơ có sức tạo hình, sức lan toả mạnh mẽ.

Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí

Phân tích bài thơ Đồng Chí

Phân tích bài Mùa xuân nho nhỏ Chính Hữu ” Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới Lá ngụy trang reo với gió đèo “

Thật đẹp làm sao hình ảnh người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam trong thơ Tố Hữu . Hình ảnh người lính trên đường ra trận trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại trong lòng bạn đọc một dấu ấn khó phai mờ . Cũng viết về người lính kháng chiến thời chống Pháp nhưng bài thơ Đồng chí của Chính Hữu lại thể hiện vẻ đẹp ở khía cạnh khác . Đó là mối tình đồng chí đồng đội được hình thành và phát triển trong điều kiện chiến đấu vô cùng thiếu thốn gian khổ để tạo nên phẩm chất dẹp đẽ , một trong những nguòn sức mạnh của quân đội ta .

Thật vậy , bài thơ Đồng chí không phải là bài thơ hay nhất nhưng nó lại là bài thơ được nhiwuf người biết đến nhất , thậm chí nhắc đến Chính Hữu người ta nghĩ ngay đến Đồng chí . Bài thơ đã được phổ nhạc nhưng dù là thơ hay nhạc mãi mãi tình đồng chí keo sơn gắn bó vẫn sống mãi trong lòng mọi người .

Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu được sáng tác theo thể thơ tự do , chỉ có 20 dòng nhưng đã tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí , đồng đội thật sâu sắc . Mở đầu bài thơ tác giả viết :

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Bằng thành ngữ ” Nước mặn đồng chua ” và hình ảnh gợi tả “Đất cày lên sỏi đá ” có sức khái quát cao . Tác giả đã giới thiệu với chúng ta hoàn cảnh xuất thân của những người chiến sĩ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp . Họ là những người sinh ra và lớn lên từ những làng quê nghèo đói ” nước mặn đồng chua ” , “đất cày lên sỏi đá ” . Họ thật sự là những người nông dân “Mới hôm qua còn tì tay lên cán cuốc ” , đang chống chọi lại với thời tiết khắc nghiệt của vùng quê chua phèn sỏi đá để khoát lên mình màu áo xanh chiến sĩ bảo vệ quê hương đất nước thân yêu .

Mỗi người một vùng quê , những người tứ xứ này trước ngày vào bộ đội họ chưa hề quen biết nhau .

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Những người từ mọi phương trời tập hợp lại trong hàng ngủ quân đội cách mạng và chính nhờ cơ sở của sự đồng cảm giai cấp , cùng chung cảnh ngộ cho nên họ đã dễ dàng thân quen với nhau . Nhà thơ Hồng Nguyên trong bài thơ ” Nhớ ” của mình cũng thể hiện tình cảm này .

“Lũ chúng tôi bọn người tứ xứ

Gặp nhau hòi chưa biết chữ

Quen nhau từ buổi một hai

Súng bắn chưa quen quân sự mươi bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến “

Những người xa lạ gặp nhau thân quen nhau tạo nên tình đồng chí . trước hết phải nói tình đồng chí được nảy sinh từ sự cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu .

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Súng bên sung là cách nói hàm súc , hình tượng . Cùng chung lí tưởng chiến đấu . Anh cùng tôi cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương , vì độc lập tự do và sống còn của dân tộc . “Đầu sát bên đầu ” là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao . Có thể nói hai hình ảnh thơ đã cụ thể hóa sự hòa nhập của những người chiến sĩ cùng chung lí tưởng chiến đấu bảo vệ tổ quốc . Súng và đầu , ý chí và tình cảm là sự gắn bó keo sơn thắm thiết của những con người cùng chung lí tưởng . Câu thơ ” Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ ” là câu thơ hay và cảm động đầy ắp kỉ niệm của một thời gian khổ . Đã là đôi tri kỉ phải hiểu nhau thông cảm cho nhau , chia sẻ ngọt bùi cho nhau . Phải là người bạn chí cốt bên nhau . Để có được mối tình tri kỉ này hẳn nhiên họ phải cùng chung hoàn cảnh xuất thân , cùng chung lí tưởng chiến đấu . Câu thơ được biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể , giản dị mà hết sức gợi cảm .

“Đồng chí ” . Câu thơ chỉ gồm hai tiếng như ghép lại tình ý sáu câu thơ đầu của bài thoiư , đồng thời tạo ra một tiếng vang ngân như một nốt nhấn nổi bật trong bản đàn , là sự kết tinh mọi cảm xúc , mọi tình cảm . Tình đồng chí là cao độ của tình bạn tình người .

Phân tích bài thơ Đồng Chí

Ruông nương anh gởi bạn thân cày

Gian nhà không mặt kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người trai làng ra lính

Ba câu thơ đưa ta trở lại hoàn cảnh riêng , từng cảnh ngộ riêng của những người lính vốn là nông dân đó . Gơi bạn thân cày mảnh ruộng của mình . Nhớ tới gian nhà trống không ” gió lung lay “. Sẵn sàng gởi lại những gì quí giá thân thiết của cuộc sống người nông dân nơi làng quê để ra đi vì nghĩa lớn . Hai chữ “mặc kệ ” đã nói được một cách dứt khoát mạnh mẽ của những người lính ra trận . Họ dứt khoát nhưng không vô tình , trong lòng họ vẫn nặng tình với quê hương thân yêu . Nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết :

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

“Giếng nước gốc đa ” hình ảnh quê hương thân thiết được tác giả diễn tả một cách kín đáo gián tiếp qua mô típ quen thuộc về làng quê của ca dao ” Cây đa giếng nước sân đình “. Nghệ thuật hoán dụ và nhân hóa đã bộc lộ nỗi niềm nhớ nhung của kẻ hậu phương đối người ra trận . Bút pháp nhân hóa nỗi nhớ cũng gây thêm ấn tượng mạnh mẽ .

Mối tình đồng chí keo sơn gắn bó với nhau, không chỉ cảm thông những tâm tư nỗi lòng của nhau mà đó còn là sự cùng nhau chia sẻ những gian lao thiếu thốn cuộc đời người lính .

Ao anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Bằng những hình ảnh thơ chân thực và xúc động , gợi tả , gợi hình . Tác giả đã làm sống dậy cuộc sống gian khổ thiếu thốn trong cuộc chiến đấu của người lính thời chống Pháp . Đó là những gian khổ tột cùng của người lính , những cơn sốt run người vừng trán ứơt mồ hôi , những trang phục phong phanh giữa mùa đông giá rét . Những gian lao thiếu thốn ấy càng làm nổi bật sự cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ . Trong gian khổ vẫn nổi bật lên nụ cười của người lính “Miệng cười buốt giá ” thật đáng yêu làm sao . Hình ảnh người lính thật đáng trân trọng mỗi khi ta đọc những câu thơ nói về cuộc sống kham khổ của họ .

Ao vải chân không

Đi lùng giặc đánh

Chúng ta mới cảm thấy khâm phục và tự hào biết bao .

Vậy sức mạnh nào để giúp cho người lính vượt qua được mọi gian khổ thiếu thốn ấy ? Có phải chăng đó là tình đồng chí dồng đội “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay “.

Thật giản dị và xúc động của sự biểu hiện tình đồng chí , đồng đội thiêng liêng ở hững người lính . Đó là nguồn sức mạnh cho họ chiến thắng . Tình đồng chí còn được thử thách cao nhất là trong chiến đấu , trong sự sống chết nơi chiến hào .

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Có thể nói đoạn cuối của bài thơ là một bức tranh đẹp của tình đồng chí , là một biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ . Trong cảnh “Rừng hoang sương muối ” những người chiến sĩ phục kích chờ giặc đứng bên nhau , Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ thiếu thốn . Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang giá rét . Trong cái đêm phục kích ấy có vầng trăng như treo trên đầu súng . Một hình ảnh thơ rất đặc sắc chỉ có bốn tiếng thôi nhưng dã gây cho người đọc một bất ngờ thú vị . Hình ảnh ấy mang ý nghĩa biểu tượng . Súng và trăng là gần và xa , thực tại và mơ mộng , chất chiến đấu và chất trữ tình , chiến sĩ và thi sĩ . Súng còn là biểu tượng của cuộc chiến đấu vì độc lập tự do . Trăng là biểu tượng của non nước thanh bình cùng đặt trên một bình diện “đầu súng trăng treo “. Ý thơ đã đem đến cho chúng ta một liên tưởng về tâm hồn người lính rất đẹp . Trong ác liệt chiến tranh vẫn yêu đời và luôn luôn hướng về một ngày mai hòa bình yên vui . Có thể nói đó là các mặt bổ sung cho nhau , hài hòa với nhau của cuộc đời người lính cách mạng . Câu thơ mang một ý nghĩa cao đẹp trong cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của anh bộ đội cụ Hồ .

Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu rất hàm súc , mộc mạc , chân thực và có sức gợi tả khái quát cao , đã khắc họa được một trong những phẩm chất đẹp của anh bộ đội cụ Hồ . Đớ là mối tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn , gian khổ có nhau , sóg chết có nhau . Bài thơ có thực có hư tạo nên vẻ đẹp hài hòa , gây cho người đọc những suy tư sâu sắc , những xúc động sâu lắng . Có thể nói bài thơ Đồng chí là một tượng đài chiến sĩ tráng lệ , mộc mạc , bình dị cao cả và thiêng liêng .

Phân tích bài thơ Đồng Chí

Đóng Vai Người Lính Kể Lại Tình Đồng Chí Trong Bài Thơ Đồng Chí

Đóng vai người lính kể lại tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí

Đóng vai người lính kể lại tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí

Bài làm Chín năm là một Điện Biên Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng

Tôi là một người lính từng tham gia kháng chiến chống Pháp. Câu thơ của Tố Hữu đã ghi lại thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mỗi khi đọc lên mọi cảm xúc lại dậy lại trong lòng khiến tôi bồi hồi khôn xiết. Phải chăng? Tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó là một trong những nguyên nhân góp vào chiến thắng tự hào dân tộc.

Chúng tôi đa số là những anh lính nông dân xuất thân từ những miền quê nghèo khó tôi hỏi bạn:

– Quê anh ở đâu

– Quê tôi ở vùng đồng bằng chiêm trũng ven biển khó làm ăn cày cấy lắm!

– Tôi cũng vậy. Quê tôi ở vùng đồi núi trung du nơi ” Chó ăn đá gà ăn sỏi” cây cối xác xơ nghèo khó.

Có lẽ vì vậy mà chúng tôi dễ xích lại gần nhau chăng? Chính sự đồng cảm giai cấp khiến con người trở lên gần gũi dễ cảm thông chia sẻ.

Không chỉ vậy chúng tôi còn chung lí tưởng nhiệm vụ rời bỏ tay cày tay quốc. Chúng tôi cầm súng bảo vệ chính quyền non trẻ, nền độc lập tự do vừa mới giành được. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của bác Hồ kính yêu chúng tôi từ mọi phương trời xa lạ tập hợp trong hàng ngũ quân đội cách mạng…

Ôi! Tiếng gọi thiêng liêng ” Đồng chí”!

Là đồng chí của nhau chúng tôi chia sẻ những tâm tư, nỗi niềm nhớ quê hương xuất thân từ giai cấp nông dân, với chúng tôi ruộng nương, gian nhà là những thứ quí giá nhất, giếng nước gốc đa là những gì thân quen nhất vậy mà chúng tôi đều bỏ lại. Tất cả ra đi vì nghĩa lớn. Anh bạn tôi tâm sự: Căn nhà không trống tuếch trồng toàng giờ đây lại thiếu vắng trụ cột gia đình nên càng trống vắng hơn giờ hết. Nhưng anh vẫn dứt khoát ra đi. Còn nước là còn nhà tất cả đều có chung suy nghĩ như vậy chẳng phải là thái độ vô tình bởi nếu vô tình chúng tôi chẳng nhận được nỗi nhớ của quê hương: Mẹ già, vợ trẻ, con thơ.

Là đồng chí của nhau chúng tôi còn chia sẻ những khó khăn thiếu thốn về quân trang quân phục động viên nhau vượt qua bệnh tật đó là những cơn sốt rét rừng tàn phá sức khỏe ghê ghớm lại thiếu thốn thuốc men. Tôi thì áo rách vai, anh thì quần có vài mảnh vá. Tôi thì chân không giày, anh thì đầu không mũ, giữa những cái lạnh của núi rừng Việt Bắc thế mà tất cả vẫn sáng lên nụ cười lạc quan sưởi ấm cả không gian giá buốt.

Đặc biệt hơn nữa, là đồng chí của nhau chúng tôi còn chia sẻ tình cảm bền chặt, chân thành nhất thông qua cái nắm tay thay cho mọi lời nói không ồn ào nhưng cái nắm tay chất chứa bao điều muốn nói: Nắm tay để truyền cho nhau hơi ấm. Sưởi ấm đôi bàn chân buốt giá, cao hơn là truyền cho nhau nghị lực để vượt qua mọi khó khăn hiểm nguy. Và đó còn là lời chào lời hứa hẹn lập công trước lúc vào trận đánh chúng tôi thấu hiểu chẳng cần nói thành lời. Ôi tình cảm keo sơn ấy khiến tôi xúc động mãi.

Nhưng có lẽ kỉ niệm về những đêm sát cánh trong chiến hào phục kích chờ giặc tới in đậm khó phai trong tâm trí tôi nhất. Thời tiết khắc nghiệt vô cùng sương muối giá rét đầu ngón chân ngón tay giá buốt như có kim châm. Thế mà tôi và đồng đội vẫn cầm chắc tay súng chủ động chờ giặc tới, cái tư thế vành đồng vách sắt đã làm mờ đi mọi khó khăn ác liệt. Đêm ấy là một đêm có trăng. Trăng lơ lửng ở trên cao cứ xuống thấp dần thấp dần có lúc tưởng như treo đầu mũi súng.

Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ vầng trăng hòa bình trả lại sự bình yên cho dân tộc đất nước. Bên cạnh đồng đội của mình chúng tôi còn một người bạn nữa chính là vầng trăng. Trăng soi rọi bước đường hành quân trăng bầu bạn chia sẻ ngọt bùi. Trước giờ nổ súng vẫn thanh thản nhìn vầng trăng, tôi thấy mình và đồng đội có tinh thần thép cao đẹp biết bao! Và có lẽ Súng, trăng là một cặp đồng chí gợi ra bao liên tưởng thú vị. Súng và trăng là gần và xa là chất chiến đấu và trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ, chất thép chất thơ, chiến tranh và hòa bình, cứng rắn và dịu hiền bổ sung cho nhau khẳng định mục đích cuộc chiến đấu.

Cuộc chiến đã lùi xa hòa bình đã trở lại nhưng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã ghi một mốc son trong lịch sử vàng dân tộc. Mong rằng thế hệ trẻ hiện nay biết kế thừa truyền thống cha ông, học tập tốt xây dựng đất nước hùng cường dũng mạnh cảnh giác trước mọi âm mưu xâm lấn bờ cõi của kẻ thù.

Theo Nguồn: chúng tôi