Top 11 # Xem Nhiều Nhất Viết Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Văn Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng

Bài thơ Rằm tháng Giêng là bài thơ được Bác viết khi đang bàn bạc việc quân ở trên con thuyền, xung quanh đầy ánh trăng rằm… Một khung cảnh tuyệt đẹp và Bác đã vẽ nên bức tranh đẹp bằng thơ.

Như chúng ta đã biết, Bác Hồ có tâm hồn giản dị, gần gũi với thiên nhiên, em hãy viết bài văn cảm nghĩ về bài thơ rằm tháng giêng để biết rõ hơn về tâm hồn thơ của Bác.

Bài 1. Bài văn cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng của em Hồ Dạ Thảo:

Rằm tháng Giêng năm 1948, trên chiếc thuyền neo đậu giữa một dòng sông ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng và Chính phủ mở một cuộc họp tổng kết về tình hình quân sự của thời kì đầu kháng chiến chống Pháp (1947 – 1948). Cuộc họp tan thì đêm đã khuya. Trăng rằm tỏa sáng khắp mặt đất bao la. Cảnh sông núi trong đêm trăng càng trở nên đẹp đẽ và thơ mộng. Cảm hứng dâng cao, Bác đã ứng khẩu làm bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán, tựa đề là Nguyên tiêu:

Thu dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân Thủy tiếp xuân thiên. Yên ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyề n.

Sau đó, nhà thơ Xuân Thủy dịch bài thơ ra tiếng Việt dưới thể lục bát, với tên là Rằm tháng Giêng. Bản dịch giữ được gần hết ý thơ trong nguyên tác với nội dung thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước thiết tha của Bác Hồ.

Nếu trong bài Cảnh khuya, Bác tả cảnh trăng đẹp chốn rừng sâu thì ở bài này, Bác tả cảnh trăng trên sông nước:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Vầng trăng tròn đầy, tỏa sáng bát ngát khắp bầu trời, mặt đất trong đêm Nguyên tiêu. Khung cảnh mênh mông, tưởng như sông nước tiếp liền với bầu trời: Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Vạn vật ăm ắp sức xuân: sông xuân, nước xuân và trời xuân nối tiếp, giao hòa, tạo nên một vũ trụ căng đầy sức sống, làm náo nức lòng người. Điệp từ xuân được lặp lại nhiều lần với ý tạo vật cùng lòng người đều phơi phới khí thế tươi vui.

Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Trên một chiếc thuyền nhỏ giữa chốn mịt mù khói sóng (yên ba thâm xứ). Bác cùng Chính phủ và Trung ương Đảng luận bàn việc quân, việc nước. Công việc trọng đại đến chừng nào, nhất là trong hoàn cảnh buổi đầu kháng chiến đầy thiếu thôn, gian khổ. Tuy vậy, gian khổ không làm vơi đi cảm xúc, thi hứng trong lòng Bác. Buổi họp kết thúc vào lúc nửa đêm. Trăng rằm tròn vành vạnh treo giữa trời (nguyệt chính viên) đang toả sáng. Cảnh sông nước trong đêm lại càng thêm thơ mộng. Dòng sông trở thành dòng sông trăng và con thuyền cũng dường như chở đầy ắp ánh trăng (trăng ngân đầy thuyền). Trước đêm trăng đẹp, tâm hồn Bác lâng lâng. Bác thả hồn hòa nhập với thiên nhiên – mà Bác vốn coi là một người bạn tri âm, tri kỉ. Trong lòng Bác dâng trào một niềm vui, niềm tin vào thắng lợi của Cách mạng, của kháng chiến. Hình ảnh con thuyền chở đầy trăng lướt nhẹ trên dòng sông trăng là một hình ảnh lãng mạn có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Phải có một phong thái ung dung tự tại và niềm lạc quan mãnh liệt vào tương lai thì nhà thơ mới sáng tạo ra được hình tượng nghệ thuật độc đáo trọng một hoàn cảnh đặc biệt như vậy.

Bài thơ Rằm tháng Giêng với âm hưởng khỏe khoắn, tươi vui đã đem lại cho người đọc cảm xúc thanh cao, trong sáng. Bài thơ là dẫn chứng tiêu biểu chứng minh Bác Hồ vừa là một lãnh tụ cách mạng tài ba, vừa là một nghệ sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm.

Bài 2. Bài văn cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng của em Trần Khang Huy:

Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc nhưng bên cạnh đó Người cũng là một hồn thơ tài hoa. Với nhiều tác phẩm giá trị để lại, Bác đã đóng góp một phần không nhỏ trong nền thi ca nước nhà. “Nguyên tiêu” hay “Rằm tháng Giêng” là một tác phẩm ghi lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử nước nhà. Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 sang hè 1948 quân ta lại liên tục thắng lớn trước thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh đó bài thơ xuất hiện trên báo “Cứu quốc” như truyền thêm cho quân và dân ta tình yêu thương vô bờ đối với quê hương đất nước, đồng thời cho ta thấy được tấm lòng luôn canh cánh vì nước vì dân của Bác Hồ.

Nguyên tác bằng chữ Hán:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên;

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lại nguyệt mãn thuyền

Bản dịch:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Mở đầu bài thơ là một không gian bao la rộng lớn:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi.

Ánh trăng đêm xuân an lành lồng lộng. Từ “lồng lộng” được đảo lên trên cho ta thấy cái rộng lớn bao la của cảnh sắc đêm xuân. Hình ảnh ánh trăng thường được sử dụng trong thơ Bác như một người bạn tri âm tri kỉ. Ở đây, ngay trong đêm Rằm vẫn luôn dõi theo, bầu bạn với Bác.

Câu thơ tiếp:

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Câu thơ cho ta thấy cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp. Hai từ “xuân” lặp lại nối tiếp nhau mở ra cho ta một không gian rợn ngợp tràn đầy sắc xuân, tràn đầy sức sống. Sông, nước, ánh trăng như nối liền nhau, giao hòa với nhau giữa vẻ đẹp của đất trời.

Câu thơ thứ ba vô tình nói vên hoàn cảnh và vị trí ngắm trăng của Bác:

Giữa dòng bàn bạc việc quân.

Ở hai câu thơ đầu cảnh thiên nhiên được Bác miêu tả quá sống động làm ta tưởng như Bác đang rất nhàn nhã ngắm trăng. Nhưng không, bác ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc thù, chơi vơi giữa dòng nước. Để tránh sự truy lung của quân địch, Bác cùng các chiên sĩ phải bàn bạc việc quân ở trên thuyền. Và ở nơi đó, ngay giữa trung tâm của đất trời, hồn thơ của Bác như giao hòa với thiên nhiên để vẽ lên cảnh thiên nhiên tuyệt sắc. Đọc câu thơ ta thấy thầm thương Bác, Người luôn đau đáu tấm lòng vì nước vì dân. Công việc bộn bề nhưng Bác vẫn luôn yêu thiên nhiên cảnh vật. Điều đó cho ta thấy tư thế ung dung lạc quan yêu đời của người chiến sĩ cách mạng.

Câu thơ cuối:

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Con thuyền trong câu thơ cuối là ẩn dụ sâu sắc về thắng lợi của cách mạng. Con thuyền cách mạng rực rỡ ánh trăng ngân báo hiệu cho ngày chiến thắng không còn cách xa. Câu thơ thể hiện một niềm lạc quan, niềm tin vô cùng với cách mạng.

Bài thơ “Rằm tháng Giêng” là một bài thơ độc đáo của Bác Hồ. Bài thơ vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên vô cùng của Bác đồng thời cũng nói lên tinh thần lạc quan giữa hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt.

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng

Đề bài: Cảm nghĩ của em sau khi học xong bài Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh

Có sự hòa trộn, kết hợp giữ cảm hứng thiên nhiên và cảm hứng yêu nước, bài thơ Rằm tháng Giêng của chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện được rõ nét bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, sống động trong đêm trăng ngày Rằm, đồng thời cũng vẽ ra được bức chân dung tự họa của chủ tịch Hồ Cí Minh, đó là một con người có lòng yêu nước cũng như ý thức, trách nhiệm với công việc của đất nước, của quốc gia.

Mở đầu bài thơ, Hồ Chí Minh đã vẽ ra khung cảnh lộng lẫy, choáng ngợp mà không kém phần thi vị, mơ mộng của cảnh vật trong thời khắc đêm trăng ngày Rằm. Ta cũng thấy rằng, hình ảnh ánh trăng thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm thơ văn của Hồ Chí Minh, điều đặc biệt là mỗi lần xuất hiện thì hình ảnh ánh trăng này không hề bị trùng lặp mà đều mang một sắc thái mới lạ, nó chứa đựng những cảm xúc khác nhau của tâm hồn người thi sĩ Hồ Chí Minh, trong bài thơ “Rằm tháng Giêng” cũng vậy, Bác đã thể hiện được sự cảm nhận độc đáo về ánh trăng ngày Rằm, về khung cảnh thiên nhiên dưới sự soi chiếu của ánh trăng ấy.

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Ở hai câu thơ đầu tiên, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cụ thể cả thời gian và không gian của bức tranh thơ, đó là không gian của bầu trời, sông nước dưới sự bao phủ, soi chiếu của ánh trăng Rằm, thời gian được nhà thơ chỉ ra đó chính là thời khắc đêm khuya, khi mọi nhịn sống rộn rã của con người đã bị màn đêm bao phủ bằng vẽ tĩnh lặng lặng tuyệt đối. Tuy nhiên, trong cách cảm nhận của Hồ Chí Minh, thì cái thời khắc tưởng chừng như tĩnh lặng ấy lại hiện ra vô cùng mới lạ, vô cùng gợi cảm. Ánh trăng Rằm soi chiếu xuống mặt nước tạo thành luồng ánh sáng bạc lấp lánh, trong cách cảm nhận của Bác thì ánh trăng ấy không tỏa chiếu một cách thông thường mà “lồng lộng” soi. Lồng lộng là từ láy gợi ra được cả chiều dài cũng như độ rộng của không gian được soi chiếu. Ánh trăng rọi xuống vạn vật trở lên vô cùng gợi cảm, sinh động trong cách cảm nhận của Người.

Câu thơ tiếp theo lại thể hiện sự hài hòa một cách tuyệt đối, một sự pha trộn tuyệt diệu của thiên nhiên. Sông, nước, trời dường như đã không còn khoảng cách, giới hạn nữa, chúng hòa quyện lại với nhau, làm cho nhau trở lên tươi đẹp hơn, ta có thể thấy đước sự phản chiếu được vật này qua vật kia: “Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”. Dưới ánh trăng ngày Rằm, dòng sông kia như “lẫn” thêm cả màu của bầu trời làm cho nó trở nên rực rỡ hơn, mang đậm sắc màu của màu xuân. Từ “lẫn” mà Hồ Chí Minh sử dụng ở đây rất hay, bởi nó chỉ sự hòa trộn một cách tự nhiên, không phân biệt được là do yếu tố nào tác động đến yếu tố nào mà chỉ biết rằng chúng cùng nhau hòa quyện, cùng nhau tôn vinh vẻ đẹp của nhau lên.

Ta có thể thấy rất rõ, hai câu thơ đầu tiên đã chủ yếu là tả cảnh, khung cảnh ngày xuân dưới ánh trăng Rằm dường như hiện ra rõ nét hơn, màu sắc tươi thắm, sinh động hơn rất nhiều. Đặc biệt, qua cảm nhận của Hồ Chí Minh thì nó càng trở lên mới lạ, gợi cảm hơn, nó gợi cho người đọc liên tưởng đến một không gian rộng lớn, mênh mông nhưng không gây cho người đọc cảm giác sợ hãi mà còn làm cho người đọc khát khao thưởng thức, khám phá, những cảnh vật vô cùng quen thuộc cũng trở lên gợi cảm lạ thường. Điều đáng nói nhất trong hai câu tả cảnh này, có sự kết hợp một cách khéo léo tình cảm chủ quan của người viết, đó là cảm xúc say mê, sự rung động của tâm hồn trước sự tươi đẹp của cảnh sắc thiên nhiên.

Từ việc khắc họa khung cảnh của đêm trăng Rằm, ở hai câu thơ tiếp theo chủ tịch Hồ Chí Minh đã khắc họa hình ảnh của chính mình trong bức tranh thơ ấy:

“Giữa dòng bàn bạc việc quân

Như vậy, bài thơ “Rằm tháng Giêng” đã khắc họa một bức tranh màu xuân thật đẹp, nó cũng được phát hiện trong một thời gian thật đặc biệt, đó là vào thời khắc đêm khuya. Trong sự kì vĩ, tươi đẹp của bức tranh mùa xuân hình ảnh của người chiến sĩ cách mạng hiện lên thật đẹp, đó là một con người hết lòng vì dân, vì nước, vì sự thắng lợi của Cách mạng dân tộc.

Nguồn: Văn mẫu

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Hay Nhất

Hồ Chí Minh ngoài là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam thì còn là một nhà thơ, nhà văn hóa lỗi lạc của nhân loại. Các sáng tác của Bác rất đa dạng và ở thể loại nào cũng vô cùng đặc sắc và đầy tính nhân văn. Người có một lòng yêu thiên nhiên và khiếu thưởng thức nghệ thuật rất đặc biệt, ta có thể thấy được điều đó qua rất nhiều tác phẩm của Người, “Rằm tháng giêng” là một trong những bài thơ vừa ví dụ cho phong cách thơ Hồ Chí Minh lại vừa cho thấy tình yêu và lòng cảm thụ thiên nhiên của tác giả.

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân,

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Ở câu thơ đầu “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên” tác giả đã vẽ ra khung cảnh bầu trời đêm rằm với một vẻ đẹp lộng lẫy đầy nghệ thuật. Trăng đêm rằm vốn dĩ rất tròn và sáng. Ở đây ánh trăng lại còn lên giữa bầu trời đã chiếu rọi vào cảnh vật vừa khiến cho cảnh vật thêm lung linh huyền ảo lại vừa làm tôn thêm vẻ rạng rỡ của trăng.

Ở câu thơ tiếp theo, cảnh xuân được lột tả rõ nét với “Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên”; điệp từ “xuân” xuất hiện 3 lần như muốn nhấn mạnh sắc xuân nhuộm phủ khắp đất trời. Xuân bao trùm cả không gian (trời xuân) và bao trùm cả chiều chiều dài, chiều rộng (xuân giang, xuân thủy). Khắp nơi đều được xuân và trăng nhuộm đỏ đầy sức sống, đầy vẻ thơ mộng, trữ tình. Mùa xuân vốn là mùa của sự sinh sôi nảy nở, là mùa của vạn vật hồi sinh, tươi trẻ. Ở đây hình ảnh mùa xuân nhuộm trên mọi cảnh vật trong cả không gian và thời gian như muốn nói sức sống, sự trường tồn của đất trời và vẻ đẹp vĩnh hằng của nó.

Hai câu thơ đầu, nhà thơ đã sử dụng bút pháp tả cảnh để họa lên bức tranh phong thủy buổi đêm đầy trữ tình để đến câu thơ thứ 3 hình ảnh của con người bắt đầu xuất hiện “Yên ba thâm xứ đàm quân sự”. Giống như phong cách thường thấy trong thơ Hồ Chí Minh, ở thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, Người thường dùng hai câu thơ đầu để tả cảnh và sự xuất hiện của con người sẽ bắt đầu ở câu thơ thứ 3. Trong câu thơ này, con người không trực tiếp xuất hiện nhưng hình bóng lại rõ mồn một trong khung cảnh ấy. Đó là con người đang đàm đạo việc quân, việc nước giữa cảnh khuya. Việc quân hệ trọng, đêm khuya người chiến sỹ cách mạng ấy vẫn cùng những người chiến sỹ khác bàn bạc, không nghỉ ngơi đêm ngày, không phân biệt ngày Tết Nguyên tiêu, ngày lễ lạt mà vẫn cặm cụi việc nước non. Hình ảnh này làm ta liên tưởng đến câu thơ “Nguyệt thôi song vấn: Thi thành vị? – Quân vụ nhưng mang vị tố thi”, (Trăng vào cửa sổ đòi thơ – Việc quân đang bận xin chờ hôm sau).

Bởi vì bận đàm đạo việc quân đến đêm khuya cho nên khi trở về nhà thơ chợt thấy “Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền” (khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền). Việc nước xong, quay trở về chợt thấy ánh trăng tỏa sáng như bao trùm lên mọi cảnh vật, như tràn đầy con thuyền người chiến sỹ đang ngồi. Ánh trăng “nguyệt mãn thuyền” đầy tính tượng hình, gợi lên hình ảnh ánh trăng đầy ắp lòng con thuyền nơi nhà thơ đang ngồi. Phải chăng trên con thuyền đó, nhà thơ đang say đắm, ngây ngất trước vẻ đẹp tráng lệ mà đầy thơ mộng của trăng. Câu thơ cũng cho thấy tấm lòng yêu thiên nhiên và biết cảm thụ cái đẹp của người chiến sỹ cách mạng. Mặc dù bận việc nước việc quân, mặc dù trời đã vô cùng khuya khoắt vẫn chưa được nghỉ ngơi, nhưng nhà thơ vẫn nhận ra cái đẹp của thiên nhiên, vẫn cảm thụ nó bằng con mắt và trái tim của một người nghệ sỹ.

Bài thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, chỉ với 4 câu thơ ngắn ngủi nhưng nhà thơ đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp của đêm rằm của đất trời nước Nam. Từ đó người đọc cũng có thể nhận thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu cảnh vật núi non thắm thiết của người chiến sỹ cách mạng. Phải rất yêu thì nhà thơ ấy mới nhìn cảnh vật đêm Tết Nguyên tiêu và bóng trăng bằng tận trái tim mình như vậy.

Bài thơ với bút pháp gợi nhiều hơn tả nhưng tác giả Hồ Chí Minh đã cho người đọc như thấy được một bức tranh toàn cảnh mà rực rỡ, sống động trong đêm rằm mùa xuân ấy.

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “Rằm Tháng Giêng” Lớp 7 Hay Nhất

BÀI VĂN MẪU CẢM NGHĨ VỀ BÀI THƠ ” RẰM THÁNG GIÊNG” CỦA HỒ CHÍ MINH

Mùa xuân, nhắc tới thôi ta đã hình dung về cái vị ngọt ngào của hoa thơm trái ngọt đâm chồi nảy lộc, vạn vật bừng tình giấc. Bác Hồ luôn dành tình yêu với thiên nhiên và yêu hơn hẳn thiên nhiên mùa xuân. Bởi đó là mùa xuân trên Việt Bắc, mùa xuân những năm tháng gắn liền lịch sử dân tộc, mùa xuân với những đêm dài kháng chiến chống giặc. Bài thơ ” Rằm tháng giêng” là một trong những bài thơ đặc sắc mà Người viết trong hoàn cảnh đó.

Rằm tháng Giêng là bài thơ lấy cảm hứng thì ánh trăng Rằm, qua bài thơ Người khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ dưới ánh trăng đêm, đồng thời qua đó lồng ghép những xúc cảm thẩm mĩ của mình một cách khéo léo. Hai câu đầu vẽ lên cảnh đẹp tuyệt vời của đêm nguyên tiêu:

” Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân sang xuân thuỷ tiếp xuân thiên”

Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì mùa xuân làm cho trăng thêm đẹp.Và trăng cũng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình. Đất nước quê hương bao la một màu xanh bát ngát. Màu xanh lấp lánh của ” xuân giang”. Màu xanh ngọc bích của ” xuân thủy tiếp nối với màu xanh của ” xuân thiên”. Ba từ ” xuân” liên tiếp trong câu thơ thứ hai là những nét vẽ đặc sắc làm nổi bật cái thần của cảnh vật sông, nước và bầu trời. Hai chữ “lồng lộng” trong bản dịch dường như mở ra một không gian núi rừng thêm bao la, trải dài thêm. Ánh trăng dường như làm cho cảnh vật mang một vẻ đẹp hữu tình lung linh sinh sắc. khung cảnh núi rừng Việt bắc nơi đây bao là một màu xanh ngát, nhuốm ánh trăng, phủ lên mà màu xanh lấp lánh của xuân giang, dòng sông giờ đây như được tiếp thêm sự sống mới dưới khí trời mát dịu. Xuân là mùa xuân của tuổi trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi. Xuân cũng thể hiện sức sống trẻ trung tiềm tang. Ngoài miêu tả vẻ đẹp của nguyên tiêu vần thơ còn bộc lộ cảm xúc tự hào, niềm vui sướng mênh mông của một hồn thơ đang rung động giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử, đất nước đang anh dũng kháng chiến.

Đến hai câu kết của bài thơ thì chất chiến sĩ – nghệ sĩ càng hiện rõ:

” Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nquyệt mãn thuyền.”

Ánh trăng lại soi xuống con thuyền trong đó Bác đang ” đàm quân sự”. Trăng nguyên tiêu là trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm. Một cuộc họp bàn việc quốc kế quân cơ đã diễn ra trong đêm rằm tháng giêng ấy. Ở “yên ba thâm xứ” tức là ở “trên khói sóng nơi sâu thẳm”, bí mật và thiêng liêng như trong huyền thoại vậy. Thế giới từng gọi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta là “cuộc kháng chiến thần thánh”, có lẽ cũng căn cứ một phần vào cơ quan đầu não – những người chỉ huy kháng chiến – tài ba, huyền thoại này chăng. Trong không gian hội họp thường có không khí căng thẳng, trang nghiêm, nhưng dưới ngòi bút của Bác thì dường như không gian hội họp ấy dường như có chút lãng mạn, thi vị đầy chất thơ. Khi việc quân đã bàn bạc xong,con thuyền đưa những người chiến sĩ trở về thì cũng là lúc ánh trăng soi rọi làm sáng cả con thuyền “trăng ngân đầy thuyền”. Câu thơ thể hiện được sự giao hòa giữa lòng người và vũ trụ, như một sự đồng cảm, cổ vũ của thiên nhiên với con người, mang niềm tin vào vận nước nhất định sẽ thành công, sẽ thắng lợi. Hình ảnh con thuyền trăng trong bài thơ này cho thấy tâm hồn Bác giàu tình yêu thiên nhiên, trong kháng chiến gian khổ vẫn lạc quan yêu đời.

Thơ là tấm lòng, là tiếng lòng cộng hưởng từ một người đến với muôn người. Bài thơ ” Rằm tháng giêng” của Hồ Chí Minh như một đóa hoa xuân đẹp trong vườn hoa dân tộc, là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trí tuệ, đạo đức của Người.

Nguồn Internet