Top 6 # Xem Nhiều Nhất Viết Bài Thơ Lượm Thành Một Bài Văn Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Hãy Chuyển Thể Bài Thơ Lượm Thành Một Câu Chuyện

Đề bài: Hãy chuyển thể bài thơ Lượm thành một câu chuyện

Chuyện về cậu bé thiếu niên Lượm dũng cảm đã hi sinh vì đất nước mãi là kỉ niệm không phai trong lòng người dân Việt Nam. Lần đó tôi có dịp vào Huế và vô cùng may mắn, tôi được nói chuyện với một người đồng đội của Lượm. Lúc đó Lượm làm liên lạc cho đơn vị Mang Cá của bác.

Nhắc đến Lượm, đôi mắt bác ánh lên niềm tự hào pha lẫn niềm tiếc thương một cậu bé vô cùng can đảm, anh hùng. Bác nhớ lại, ngày đó khi được phân công về công tác ở đồn Mang Cá, bác đã nghe mọi người hay nhắc đến cậu bé làm liên lạc rất gan dạ và anh dũng. Những lời nói đó đã khiến bác rất lưu tâm và muốn được gặp cậu bé. Hôm ấy, gặp một chú bé dáng nhỏ bé, nhanh nhẹn bác liền gọi lại và hỏi:

– Cháu bé, cháu được phân công làm nhiệm vụ gì? – Cháu làm liên lạc viên chú à. – Thế có phải tên cháu là Lượm không? – Dạ thưa chú cháu tên là Lượm. Sao chú biết ạ? – À ra vậy! Thế cháu có sợ nguy hiểm không?

Chú bé nhún vai lém lỉnh trả lời:

– Cháu không sợ chú ạ, cháu luôn nghĩ là làm thế nào để hoàn thành tốt nhiệm vụ. – Cháu có thích công việc này không? – Cháu thích hơn ở nhà ạ. – Chú chúc cháu luôn hoàn thành nhiệm vụ.

Chú bé bước đi thoăn thoắt, đầu nghênh nghênh, trông rất đáng yêu, và trông chú càng đáng yêu hơn, ngộ nghĩnh hơn khi trên đầu đội chiếc mũ canô với chiếc sắc đeo bên hông. Chú bé chào tôi rất nhanh và khuất dần chỉ còn tiếng huýt sáo rộn vang. Sau lần gặp gỡ đó, do bận nhiều công việc tôi quên cũng không có dịp gặp lại cậu bé. Cho đến một hôm, trở về đơn vị tôi, nhìn mặt ai tôi thấy cũng có vẻ buồn buồn, một đồng chí hỏi tôi:

– Đồng chí có nhớ cháu Lượm không, cậu bé liên lạc đó? – Có! Tôi nhớ. Xảy ra chuyện gì hả đồng chí? – Cậu bé hi sinh rồi, hôm đó, Lượm nhận nhiệm vụ đem công văn đi, mọi người đều cảnh báo với chú rằng đó là quãng đường rất nguy hiểm, có thể gặp địch phục kích, nhưng chú không hề tỏ ra sợ hãi, còn nói: Em không sợ đâu. Chúng nó mà xôngra em sẽ đánh cho tơi bời. Nói xong chú thản nhiên đút công văn vào sắc thoăn thoắt bước đi, mồm lại huýt sáo vang rộn. Không ngờ hôm đó quân địch lại đánh hơi thấy chú nhỏ, chúng bí mật nằm phục kích ở giữa cánh đồng lúa, nên nhìn bề ngoài rất khó phát hiện. Lượm cũng đã rất tinh khi đi qua đi qua cánh đồng, linh cảm đến điều gì đó bất trắc nên chú nhanh tay xé vụn tài liệu và vứt vội ra xa. Có lẽ bọn địch đã trông thấy hành động đó, chúng liền xả đạn vào nó. Lượm đã anh dũng hi sinh, giữa cánh đồng, tay vẫn còn nắm chặt bông lúa, miệng còn nở một nụ cười.

Đồng chí nọ kể xong bỗng oà khóc. Tôi ngỡ ngàng, đau đớn và cũng không thể cầm được nước mắt, vừa cảm phục vừa thương tiếc. Trong tôi bỗng lại hiện lên hình ảnh chú bé nhỏ nhắn, gương mặt nhanh nhẹn, thông minh, nụ cười luôn nở trên môi.

Câu chuyện về sự hi sinh anh dũng của chú bé Lượm được mọi người ở khắp nơi kể cho nhau nghe. Chú còn trở thành tấm gương sáng để các cháu bé noi theo, và cho đến tận ngày hôm nay tấm gương ấy vẫn còn toả sáng.

Em Đã Đọc Bài Thơ “Lượm” Của Tố Hữu. Em Hãy Chuyển Nội Dung Bài Thơ Thành Một Câu Chuyện

DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG

1. TÌM Ý, CHỌN Ý

a. Nhân vật của truyện

– Em Lượm. – “Tôi”, người mà Lượm gọi là chú. – Người đưa tin về Lượm.

Trong các nhân vật trên, chỉ có Lượm là nhân vật cần được kể ra. Còn “tôi” và người đưa tin chỉ là người kể chuyện về em Lượm. Như vậy, muôn kể chuyện này, em hãy đóng vai người chú và người đưa tin mà kể về Lượm.

b. Sự việc trong truyện

Bài thơ giới thiệu cho ta biết về em Lượm qua hai sự việc: – Cuộc gặp gỡ với Lượm ở Huế. – Lượm đi liên lạc và bị hy sinh. Em hãy tưởng tượng, hình dung hai sự việc ấy.

c. Cách xưng hô: Đây là thay mặt người chú để kể chuyện về em Lượm thì em phải gọi Lượm là emy hoặc cháu. Không thể gọi Lượm là bạn hay anh được.

a) Mở bài: Giới thiệu khái quát về Lượm.

b) Thân bài: Kể về hai sự việc: – Cuộc gặp Lượm tại Huế. – Cuộc gặp người quen, nghe kể việc hy sinh của Lượm.

c) Kết bài: Lòng thương tiếc và ý nghĩ về cái chết của em.

3. DÀN BÀI CHI TIẾT

a) Mở bài: Giới thiệu về em Lượm.

– Trong kháng chiến, nhiều thiếu nhi đã tham gia và hy sinh anh dũng. – Lượm là một trường hợp rất đáng thương và cảm phục.

b) Thân bài:

– Cuộc gặp Lượm tại Huế + Giới thiệu cuộc gặp + Miêu tả chân dung Lượm. + Trò chuyện với Lượm. + Chia tay. – Trường hợp hy sinh của Lượm

+ Giới thiệu người chứng kiến ra kể. + Lượm nhận nhiệm vụ liên lạc. + Lượm hi sinh, cảnh tượng hi sinh.

c) Kết bài:

– Lòng thương tiếc. – Ý nghĩ của em về cái chết của Lượm.

BÀI LÀM

Trong cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc ta chống quân xâm lược, tôi đã biết nhiều trường hợp hi sinh. Trong số đó, sự hi sinh của các em thiếu nhi làm tôi rất xúc động.

Ngày ấy, khi giặc Pháp đánh đến Huế, thì tôi vừa ở Hà Nội về, tình cờ gặp cháu Lượm. Đó là chú bé nhỏ loắt choắt, đeo cái xắc bé xíu. Đặc biệt chú thích đội nghiêng chiếc mũ calô trên đầu, vừa huýt sáo, vừa nhảy chân sáo, nom hệt như một chú chim chích trên đường những buổi sớm mai.

Tôi hỏi:

– Cháu đi làm liên lạc cho cơ quan kháng chiến, có nhớ nhà không?

Cháu cười rạng rỡ, hai mắt híp lại, hai má đỏ hồng như trái bồ quân, nói:

– Ở đồn Mang Cá vui lắm chú ạ, còn vui hơn ở nhà nhiều!

Tôi từ biệt cháu, lại lên đường ra Bắc, còn cháu lại trở về Mang Cá. Từ đó công việc liên miên tôi không còn dịp nào trở về Huế nữa.

Một hôm, tôi gặp một người quen từ Huế ra công tác. Trong giờ nghỉ, người ấy nói:

– Cháu Lượm hi sinh rồi, anh biết không?

– Sao? Lượm hi sinh rồi sao, trong trường hợp nào? Tôi hấp tấp hỏi đôi mắt như nhòa đi.

Người quen ấy kể:

– Cháu Lượm vẫn làm liên lạc cho cơ quan chúng tôi. Một hôm có công văn khẩn phải đưa đi gấp. Đường đi băng qua đồn địch, rất nguy hiểm. Chúng tôi căn dặn:

– Phải cẩn thận, đường nguy hiểm lắm đấy, qua đồn cháu phải coi chừng mới được.

Cháu mỉm cười, bừng đỏ đôi má bồ quân.

– Nguy hiểm cháu cũng không sợ, việc cần thì phải đi.

Nói rồi cháu bỏ thư vào bao, đội mũ ca lô ra đi. Từ xa tôi trông theo vẫn thấy cái mũ ca lô nhấp nhô trên đồng lúa như thể cháu vừa đi vừa nhảy, vừa huýt sáo vậy. Bỗng từ phía đồn địch một chớp đỏ lóe lên rồi một tiếng nổ vọng lại. Cái mũ ca lô biến mất. Khi chúng tôi tìm đến thì cháu đã hi sinh. Máu đỏ thấm ướt ngực cháu, nhưng nét mặt thanh thản như là đang ngủ, một tay nắm chặt bụi lúa bên đường. Đồng lúa đang trổ đòng đòng, hương thơm ngào ngạt như đang ấp cho cháu ngủ.

Hãy Viết Một Bài Văn Tả Một Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích

Trong kho tàng các câu chuyện dân gian việc nam, có rất nhiều nhân vật quen thuộc, mỗi nhân vật đều đều mang lại cho ta một bài học cuộc sống thật sâu sắc. Nhưng nhân vật mà em yêu tich nhất đó chính là nhân vật ông bụt trong câu truyện: Cây Tre trăm đốt.

Ngày xưa có một anh trai cày khoẻ mạnh, chăm chỉ. Vì nhà nghèo nên phải đi làm thuê cho lão bá hộ. Vốn tính keo kiệt, bủn xỉn, và nhàm hiệm, một hôm hắn gọi anh trai lại và nói: Con hãy ráng làm việc đi, ta sẽ gã con gái cho. Tưởng thật, anh trai cày lao vào làm việc quần quật, Hai năm sau, nhờ công của anh mà lão bá hộ tậu được rất nhiều nhà cửa, ruộng vườn, Hắn lại gọi anh lại và bảo:Hai năm qua con đã làm việc thật vất vả, nay ta se gả con gái cho con. Nhưng con hãy vào rừng kiếm cho bằng được cây tre trăm đốt. Anh trai cày liền chạy vội vào rừng, chặt mãi chặt mãi mà không thấy. Biết bá hộ lưà mình, anh oà khóc. Trong lúc đó, lão bá hộ cho nguời chuẩn bị hôn lễ cho con mình và cậu con trai nhà giàu làng bên Bổng lúc đó, một làn khói trắng toả ra che lấp cả mặt trời chói chang. Đằng xa, một ông bụt đầu tóc bạc phơ bắt đầu hiện ra. Ông có khuôn mặt hình chữ điền cùng chiếc cằm chẻ trông rất hiền lành và cái tráng cao chưá đầy những nếp nhăn hằng sâu đến lạ. phía sau khoé mắt hình chân chim là đôi mắt to tròn, luôn ánh lên một cái nhìn nhân hậu. Nằm cân đối giưã hai gò má đồi mồi đã nhan nhúm đi nhiều là một chiếc mũi khoằm trông rất ngộ nghĩ. Hàm răng ông tuy không được trắng bóng nhưng lại đều như hạt bắp, nằm ẩn sau đôi môi đầy đặn, hồng hào. Nhưng điều khiến ông trông thật gần gủi là hàm râu dài đến ngực và cũng trắng trẻo một mầu.

Qua hình ảnh ông tiên trong câu truyện này và nhiều câu truyện khác nữa. Người xưa muốn khuyên dạy chúng ta: Ở hiền thì gặp lành, ở ác thì gặp ác. Ông tiên luôn là người xuất hiện để giúp đở những người nghèo khó trườc sự tàn bạo cuả bọn phú hộ. Hình ảnh ông đã gắn liền với các câu truyện Việt Nam. Sau này, lớn lên, em sẽ kể cho con nghe các câu truyện dân gian này để chúng sẽ là người lưu giữ và bảo tồn văn hoá dân tộc.

Bài Thơ Viết Thay Một Nỗi Lòng

Bỗng một vòng tay ôm chặt và nhấc bổng tôi lên đến nghẹt thở. Khi tôi quay lại, trước mắt tôi là một cựu chiến binh ngực áo lấp lánh huân chương với nụ cười rạng rỡ. Tôi chưa kịp nhớ tên anh thì anh lại ôm chặt tôi hỏi: “Có nhận ra ai không? Có một Sơn La đây!”. Bấy giờ tôi mới nhận ra Mạn khi anh thốt ra “Có một Sơn La đây”. Chúng tôi xa nhau đã hơn 40 năm, sau trận chiến đấu tiến công cao điểm Mỏ Tàu (tây Thừa Thiên – Huế) tháng 12-1974. Trận chiến đấu ấy Mạn bị thương hai lần.

Tôi bần thần như không tin người đứng trước mặt mình, sau hơn 40 năm gặp lại. Mạn là chiến sĩ thông tin tiểu đoàn, gan dạ, mưu trí và dũng cảm không coi bom đạn là gì. Nhưng điều tôi nhớ nhất ở anh, một con người khi đối mặt với bom đạn, sống chết chỉ trong tấc gang mà ruột gan lúc nào cũng đau đáu nhớ về cái miền quê nhỏ bé, nơi còn lại mẹ già và mấy đứa em nhỏ…

Quê Mạn ở Sốp Cộp (Sơn La), anh là người dân tộc Thái. Như anh kể, anh sinh ra, lớn lên ở một bản làng heo hút giáp biên giới nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, một bản làng đi mấy quả đồi mới gặp một nếp nhà. Nhà Mạn nghèo lắm, ba anh em nương tựa vào người mẹ già. Khổ là vậy nhưng thấy Mạn ham học, mẹ vẫn ráng sức nuôi các con và cho Mạn theo học đến hết lớp 7 trường huyện. Ngày nhập ngũ, Mạn đi bộ hết hai ngày đường mới xuống đến phố thị Sơn La. Lần đầu tiên Mạn nhìn thấy ánh đèn điện, nhà cao tầng, được đi tham quan Nhà tù Sơn La và các di tích lịch sử… Mấy năm chiến tranh ở chiến trường Thừa Thiên-Huế, Mạn cùng tiểu đội với tôi. Những đêm không lên chốt, không ra trận địa, nằm trong hầm chữ A, Mạn thường kể với tôi ký ức tuổi thơ của mình. Dường như ký ức ấy luôn hiển hiện trong anh, kể cả trong giấc ngủ vừa chợt đến sau một trận chiến đấu.

Một đêm cuối năm 1974, cũng trong căn hầm chữ A dưới chân cao điểm Mỏ Tàu, dưới làn pháo cầm canh của địch, không ngủ được, Mạn bật dậy đột ngột đề nghị tôi làm cho anh một bài thơ về nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ Sơn La. Anh nói rằng, nhiều lúc anh nhớ quê đến cháy ruột cháy gan mà không sao diễn tả được. Có được một bài thơ nói hộ lòng mình về nỗi nhớ quê hương để đọc, để hát thì nguôi ngoai hơn. Thấy tôi hay làm thơ báo tường nên anh nảy ra ý muốn ấy.

Ngày ấy, tôi cũng chưa một lần đặt chân đến miền Tây Bắc, chỉ biết Tây Bắc, Sơn La qua những trang sách học trò và qua cả những câu chuyện Mạn vẫn đêm đêm nằm kể. Nhưng vì yêu quý Mạn, yêu cái nỗi nhớ quê hương da diết trong trái tim gan lỳ, dũng cảm của một người lính đang sống, chiến đấu ở nơi trận mạc, thế là tôi tưởng tượng ra một miền Tây Bắc qua những trang sách, qua những tâm sự của Mạn để làm ra một bài thơ tình…

Thời gian trôi đi, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, mấy chục năm rồi tôi cũng quên đi bài thơ ấy. Dường như đoán được ý nghĩ ấy trong tôi, Mạn kéo tôi vào một quán nước ven đường. Anh nói rằng sau chiến tranh, anh được đơn vị cử ra Trường Văn hóa Quân khu 4 học hết bổ túc cấp 3 để vào trường đào tạo sĩ quan binh chủng hợp thành. Mạn nói, ngày tôi làm hộ anh bài thơ, anh thuộc ngay tức khắc. Chỉ có điều, ngày ấy anh không biết “cos”, “sin”, “đạo hàm” là gì. Sau này học văn hóa cấp 3 ở Trường Văn hóa Quân khu 4 thì mới hiểu. Mạn khoe với tôi, hơn 40 năm qua, bài thơ ấy như một hành trang trong cuộc đời anh. Vui cũng đọc, buồn cũng ngâm nga, đến nỗi “Có một Sơn La” đã trở thành “nickname” của anh thời facebook!

Biết tôi không còn nhớ bài thơ ấy nữa nên anh bảo tôi mở điện thoại di động ghi âm. Anh đọc, tôi ngồi bần thần nghe lại bài thơ hơn 40 năm trước tôi viết trong căn hầm dưới làn pháo địch.

CÓ MỘT SƠN LA

“Đường lên Tây Bắc quanh co

tiếng chim rừng đây đó…”(*)

Tôi ép ngực vào vách hầm đất đỏ

Tiếng hát chao nghiêng

Giữa đêm Trường Sơn

*

Đất nước những ngày chưa bình yên

Tuổi thơ tôi lớn lên

Úp mũ rơm che trang sách

Học thuộc lòng bài “Cây đào Tô Hiệu”

B-52 Mỹ rải xuống chùa chiền, trường học

Trang sách cháy dưới hầm

Mảnh giấy còn lại chỉ nhận ra

nút cài trên ngực áo của cô gái Thái

trong đêm hội xòe

*

Hành quân qua những mùa mưa

Vuốt tóc ướt, ngẩng mặt lên giữ chốt

Giữa Trường Sơn đạn bom ác liệt

Tôi vẫn mơ năm cánh hoa đào

 

Có những đêm nhìn bầu trời đầy sao

Cánh rừng già cháy đen chất độc

Gối đầu trên ba lô tôi mơ vào trang sách

Những “sin”, những “cos”, những “đạo hàm”…

 

Sáng cuốn võng hành quân 

Gặp cô gái Pa Kô đi tải đạn

Bóng lưng gầy gập trên suối cạn

Tôi mơ ngày gặp em…

 

Em gái Thái ơi

Cái ngày tôi mơ ấy

Bỗng thấy cùng em

Vít ngọn cần đốt cháy con tim

Uống cạn dòng sông, ngọn suối.

 

Đất nước sẽ không còn chiến tranh

Thời gian có thể già đi trước tuổi

Núi có thể bạc đầu…

Chỉ còn hoa đào vẫn hồng tươi như thế

Chỉ còn hoa ban vẫn tinh nguyên như thế

Như em

Trong tay anh đi qua đêm hội xòe.

 (Cao điểm Mỏ Tàu cuối năm 1974)

 (*) Lời bài hát “Đường lên Tây Bắc” của nhạc sĩ Văn An.

HỒ ANH THẮNG