Top 6 # Xem Nhiều Nhất Viết Bài Thơ Khăn Thương Nhớ Ai Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Phân Tích Bài Thơ “Khăn Thương Nhớ Ai”

Đề: Phân tích bài thơ ” Khăn thương nhớ ai ….”

Khăn thương nhớ ai … …. một bề

Bài ca nằm trong hệ thống ca dao về đề tài thương nhớ, 1 cung bậc trong ca dao tình yêu của người bình dân VN.

Bài ca diễn tảnỗi nhớ niềm thương của 1 cô gái. Nhớ thương da diết, nhớ đến thao thức, cồn cào gan ruột mà ko dễ bộc lộ. Cô phải hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi cả mắt mình. Những câu hỏi ko có câu trả lời càng nén chặt nỗi thương nhớ, để cuối cùng trào ra trong nỗi lo âu cho hạnh phúc: Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi ko yên một bề giọng thơ sâu lắng, dồn dập gợi ra nhiều cảm xúc.

Mở đầu, chiếc khăn đc hỏi đến đầu tiên và đc hỏi nhiều nhất: Khăn thương nhớ ai … … nc mắt

Chiếc khăn thường là vật trao duyên, vật kỷ niệm gơi nhớ người yêu. Sáu câu thơ đc cấu trúc theo lối vắt dòng, láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu các câu thơ và láy lại 3 lần câu “khăn thương nhớ ai” như 1 điệp khúc bất tận, thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết. Dường như mỗi lần hỏi là nỗi nhớ lại trào dâng thêm. Cái khăn, tự nó ko biết ” thương nhớ”, ko biết tự “rơi xuống”, “vắt lên”, ” chùi nc mắt”, nhưng những hình ảnh vận động mang cảm xúc người đã hiện lên hình ảnh con nguo7ì với tâm trạng ngổn ngang niềm thương nhớ cùng nỗi l oâu. Nhớ đến ngơ ngẩn, nỗi nhớ tỏa theo chiều hướng của ko gian (” khăn rơi xuống đất rồi lại ” khăn vắt lên vai”), cuối cùng thu lại trong cảnh khóc thầm (“khăn chùi nước mắt”).

Nỗi nhớ trong 6 câu lan tỏa vào ko gian, đến 4 câu tiếp lại xuyên suốt theo thời gian. Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm:

Đèn thuơng … chúng tôi tắt

Vẫn là điệp khúc “thương nhớ ai”, nhưng nỗi nhớ đã chuyển từ ” khăn” sang “đèn”. Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya v2 võ canh tàn, và cái đốm lửa đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Ngọn đèn mãi ko chịu tắt, nỗi nhớ cứ da diết khôn nguôi. Cũng như chiếc khăn. ngọn đèn đã giúp cô gái thổ lộ nỗi lòng.

Nhưng dù gợi cảm bao nhiêu, thì chiếc khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hoá. Nỗi lòng của cô gái buộc phải bật ra trong cách nói trực tiếp: “Mắt thương… chúng tôi yên”

Thuơng nhớ đến ko ngủ đc, cứ trằn trọc thao thức là cách thức biểu lộ quen thuộc trong ca dao:

Đêm nằm lưng chẳng tới giường, Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”

Tuy nhiên, cũng là 1 tâm trạng ấy, nhưng trong bài ca này, hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảm sâu xa hơn nhiều. “Mắt ngủ ko yên” tạo nên 1 đối xứng rất đẹp với “đèn ko tắt” ở trên, gợi lên 1 khung cảnh rất thực: cô gái giữa đêm khuya 1 mình đối diện với ngọn đèn mà nhớ người thương. Vì “mắt ngủ ko yên” nên “đèn ko tắt”. Nói đèn cũng chỉ là nío nguo72i mà thôi. Ngọn đèn soi chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi nhớ thương vời vợi ko nguôi. Mười câu thơ là 5 câu hỏi ko có lời đáp. Điệp khúc ” thương nhớ ai” trở đi trở lại như xoáy vào 1 nỗi niềm khắc khoải, da diết. Nmă lần ” thương nhớ” và 5 lần từ ” ai” xuất hiện. BẢn thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, gợi lên 1 nỗi nhớ thương sâu thẳm mênh mông, ko giới hạn. Từ “ai” ko xác định cụ thể đối tượng, nhưng người nghe hoàn toàn hỉu đc “ai” ấy là ai. Hỏi ko có trả lời, nhưng thực câu trả lời đã nằm trong giọng điệu khắc khoải, da diết kia. Không cần nói rõ, nhưng nỗi nhớ người yêu đã đc bộc lộ 1 cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt.

Cách gieo vần của bài ca cũng rất đặc sắc. Vần chân và vần lưng xen kẽ nhau (ai-ai,mắt-tắt), vần bằng vần trắc luân phiên, tất cả tạo nên 1 âm đêịu luyến láy liên hoàn khiến cho nỗi nớh thương của cô gái vừa nén lại, vừa như kéo dài ra mênh môing vô tận theo cả ko gian và thời gian. Tưởng chừng nỗi nhớ ấy sẽ ko có kết thúc… Nhưng bài ca phải có điểm dừng. Khi cô giá ko hỏi nữa thì niềm thương nhớ trào ra thành nỗi lo phiền : “Đêm wa… …. một bề”

Từ nhịp thơ 4 chữ dồn dập, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giải bày niềm lo ây của cô gái trc hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ “lo” đc nhắc đền 2 lần. Nhớ thuo7ng người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình “không yên một bề”, tâm trạng cảu cô gái mang ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưng lun lo sợ cho hạnh phúc bấp bênh. bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với sự lặp lại trong cách diễn tả tâm trạng, cách dùng những hình ảnh biểu tượng, lối nhân hóa để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, cách gieo vần linh hạot, cách cấu tạo truyền thống kết hợp những câu thơ bốn chữ với hai câu lục bvát cuối cùng… Qua nỗi thương nhớ và niềm lo âu đc diễn tả trong bài ca, ta nhận ra tiếng hát yêu thương và khao khát yêu thương của ngừơi bình dân xưa. Tình Yêu có từ bao jo`??????????Không ai bít Chỉ biết rằng….

Những câu chuyện về tình yêu… …Vân đk lưu truyền từ đời này wa đời khác…Như một minh chứng …Về sự trường tồn của nó…: Một truyền thuyết…hay chỉ là một jấc mơ? Con trai thần mặt trời phải giết nữ thần tuyết……Để đen đến mùa xuân cho xứ ice ocean lạnh lẽo….Nhưng chàng lại iu chính người con gái ấy…

và rui` ta nhận ra mặt trời có thể lặn,băng já có thể tan.nhưng tình yêu thì hok bao jo` chết

Bình Giảng Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai

Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn Bình giảng về bài ca dao: Khăn thương nhớ ai

Mở bài Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Nghĩa chàng nhớ mãi chàng ơi,

Nhớ chàng như nước hồ vơi lại đầy.

Tình yêu, nỗi nhớ là những đề tài rất phong phú trong kho tàng ca dao dân của dân tộc. Trong đó tiêu biểu là bài ca dao “khăn thương nhớ ai”. Bài ca dao này nói về nỗi thương nhớ không nguôi đến người mình yêu. Cô gái đã dùng chiếc khăn, đèn và hỏi cả ánh mắt của mình để diễn tả nỗi nhớ cứ buồn chồn không nguôi trong tâm trí mình.

Thân bài Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Mở đầu bài ca dao người con gái hỏi chiếc khăn để diễn tả nỗi nhớ của mình:

Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt

Theo quan niệm của người xưa chiếc khăn là vật giao duyên, kỉ vật của người yêu. Ở trong đoạn này câu thơ “Khăn thương nhớ ai” láy đi láy lại ba lần càng nhấn mạnh nỗi nhớ thiết tha, da diết. Chiếc khăn tuy là vật vô tri vô giác không biết tự rơi xuống đất, tự vắt nên vai, tự chùi nước mắt. Nhưng qua con mắt tinh tế và nỗi nhớ khôn xiết và tác giả đã nhân hóa chiếc khăn tự làm được mọi thứ. Câu thơ thật hay và ý nghĩa khiến người đọc rất dễ hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài thơ. Đồng thời qua đoạn thơ này ta càng hiểu được tình yêu nó nồng cháy đến như thế nào. Nói về chiếc khăn trong kho tàng ca dao nước ta cũng có rất nhiều câu như:

“Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”

Những câu thơ trên diễn tả nỗi nhớ mênh mông khắp không gian thì bốn câu thơ sau là nỗi nhớ trải dài suốt thời gian:

“Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên”.

Đến đây nỗi nhớ vẫn dâng trào nhưng tác giả lại chuyển nỗi nhớ từ nhớ khăn sang đèn để thể thời gian nỗi nhớ xuyên suốt ngày đêm. Nhớ đến mức đèn vẫn sáng không muốn tắt đi. Và mắt cũng vậy nhớ thương đến mức không ngủ được. Như vậy ta thấy rằng nỗi nhớ người thương thật là mãnh liệt. Hình ảnh người thương luôn ở trong tâm trí dù là đang ở hoàn cảnh, thời gian nào dù là ngày hay đêm. Có rất nhiều câu nói về sự thao thức nhớ người yêu như:

“Đêm nằm lưng chẳng tới giường.

Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”

Như vậy ta thấy được điệp khúc “thương nhớ ai” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thể nhấn mạnh nỗi nhớ người thương da diết, nhớ đến bồi hồi rồi lại không ngủ được. Đặc biệt từ “ai” thể hiện nỗi nhớ mênh mông sâu rộng không có điểm dừng đồng thời cũng không nói rõ đối tượng ở đây là ai mà chỉ xoáy sâu vào nỗi nhớ mênh mông ấy. Tuy câu ca dao không nói cụ thể đối tượng nhưng khi đọc lên ta đã biết ngay đây là nỗi nhớ người thương bởi chỉ có trong tình yêu con người ta mới bồi hồi da diết như vậy. Nhớ nhung đến không không ăn không ngủ thật là bao la. Nỗi nhớ người yêu ấy tưởng chừng không có điểm dừng nhưng rồi cô gái lại kết thúc bằng hai câu:

Đêm qua em những lo phiền,

Lo vì một nỗi không yên một bề…

Nhớ thương nhiều quá mà không có sự đáp lại cô gái lại trở nên lo phiền cho chính bản thân mình. Cô sợ rằng duyên phận sẽ không đến được với nhau. Bởi yêu thương càng nhiều thì cô càng sợ cho hạnh phúc bấp bênh. Từ “lo” được lập lại hai lần ở hai câu thơ cuối lại càng nhấn mạnh nỗi lo sợ hạnh phúc này.

Kết luận bài văn Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai

Như vậy qua bài ca dao Khăn thương nhớ ai ta càng thấy rõ được tình yêu nồng cháy và mãnh liệt của tuổi trẻ. Khi yêu rồi hình bóng người thương luôn hiện diện trong tâm trí mãi không thôi dù là đang làm gì đang ở đâu hay cả trong ban ngày và ban đêm. Yêu nhau là vậy đấy nhưng ai rồi cũng phải lo sợ giống cô gái trong bài ca dao yêu nhau nhưng lo sợ không đến được với nhau.

Theo chúng tôi

Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai

Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao con cò mà đi ăn đêm Đề bài:

Em hãy viết bài văn Phân tích bài ca dao Khăn thương nhớ ai.

Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai.

Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt , Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên.

Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề…

Bài làm:

Bài thơ được viết theo thể bốn chữ và kết thúc bằng hai câu lục bát rất phù hợp với việc gửi gắm tâm tư sâu kín và những trạng thái phức tạp, tinh tế của tâm hồn. Nhân vật trữ tình trong bài ca dao là cô gái đang sống trong tâm trạng thương nhớ người yêu khôn nguôi. Những lo phiền chất chứa trong lòng cũng xuất phát từ niềm thương nhớ ấy.

Thương nhớ vốn là thứ tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài này, nó lại được diễn tả một cách cụ thể, tinh tế và gợi cảm nhờ cách nói bằng những hình ảnh tượng trưng mang tính nghệ thuật cao. Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu đã được gửi gắm vào các sự vật như cái khăn, cái đèn, đôi mắt, đặc biệt là hình ảnh cái khăn.

Xưa kia, cái khăn thường là ki vật để trao duyên, gợi nhớ đến người yêu đang xa cách:

Gửi khăn, gửi ảo, gửi lời, Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa.

Nhớ khi khăn mở, trầu trao, Miệng thì cười nụ biết bao nhiêu tình.

Các tác giả dân gian mượn ngoại vật là cái khăn, cái đèn đã được nhân hoá và con mắt là hoán dụ để diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình. Rõ ràng mục đích của nhà thơ bình dân là biến cái khăn, cái đèn, đôi mầt thành biểu tượng cho nỗi niềm thương nhớ của người con gái đang yêu.

Sáu câu thơ cấu trúc theo lối vắt dòng láy lại sáu lần từ Khăn ở vị trí đầu câu và láy lại ba lần câu hỏi thương nhớ ai thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết. Dường như mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ lại trào dâng. Yêu và nhớ là hai mặt của tình yêu, yêu say đắm thì nhớ thiết tha. Đó là nỗi nhớ có không gian trải ra trên nhiều chiều: Khăn rơi xuống đất, Khăn vắt lên vai, Khăn chùi nước mắt và biểu hiện trong mọi suy nghĩ, hành động, khiến cô gái bồn chồn, khắc khoải như đứng đống lửa, như ngồi đống than và rơi nước mắt.

Sáu câu thơ hỏi khăn gồm 24 chữ, thì đã có đến 16 thanh bằng mà hầu hết là thanh không, gợi nỗi thương nhớ người yêu đến cháy lòng của cô gái. Tuy vậy, cô vẫn biết kìm nén dòng cảm xúc đang dâng trào trong tâm hồn.

Nỗi nhớ mở rộng theo không gian và trải dài theo thời gian. Nỗi nhớ được tiếp tục gửi vào ngọn đèn: Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Chừng nào ngọn lửa tình yêu vẫn cháy sáng trong trái tim người con gái thì ngọn đèn kia vẫn sáng thâu đêm. Đèn không tắt hay chính con người đang thao thức thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng ? Nếu trên kia, cái khăn đã biết giãi bày, thì ở đây, ngọn đèn cũng biết thổ lộ. Nó nói với chúng ta nhiều điều không có trong lời ca…

Cuối cùng, cô gái hỏi chính đôi mất của mình. Dù kín đáo, gợi cảm bao nhiêu chăng nữa thì cái khăn và ngọn đèn cũng chỉ là những hình ảnh được mượn làm cái cớ để gửi gắm nỗi niềm tâm sự. Đến đây, dường như không kìm lòng được nữa, cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình: Mất thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. Nỗi nhớ thương nặng trĩu, cho nên: Đêm nằm lưng chẳng tới giường. Cứ nhắm mắt vào, hình ảnh người thương lại hiện ra, ngủ làm sao cho được! Ở trên là đèn không tắt thì ở đây Mắt ngủ không yên. Hình tượng thơ thật hợp lí, nhất quán và tự nhiên như tình yêu và niềm thương nỗi nhớ của cô gái.

Nếu tâm trạng cô gái trong những câu thơ bốn chữ được diễn tả bằng hình thức gián tiếp thì đến hai câu lục bát cuối cùng nó đã được giãi bày trực tiếp, ở trên, nỗi nhớ còn được che giấu ít nhiều bằng những hình ảnh có tính chất tượng trưng thì đến đây trái tim đã tự thốt lên Iời.

Tâm trạng lo phiền của cô gái cũng xuất phát từ cội nguồn thương nhớ. Cô Lo vì một nỗi không yên một bề. Một nỗi, một bề mà hoá thành rất nhiểu vấn vương, thao thức. Cô gái lo cho chàng trai hay lo rằng chàng trai không yêu thương mình tha thiết như mình đã yêu thương chàng ? Đây cũng là tâm trạng phổ biến của những cô gái đang yêu.

Nỗi nhớ được nói đến dồn dập trong 10 câu thơ 4 chữ, chỉ có lời hỏi mả không có lời đáp. Nhưng câu trả lời đã được giản tiếp khẳng định trong năm điệp khúc thương nhớ ai vang mãi không dứt như một niềm khắc khoải để rồi cuối cùng trào ra thành một niềm lo âu thực sự cho hạnh phúc lứa đôi:

Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề…

Tình yêu dù trong sáng, mãnh liệt, lãng mạn bay bổng tới đâu chăng nữa cũng gắn bó với đời thường mà đời thường vốn lại nhiều dâu bể. Bởi thế mà Cô gái nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận đôi lứa không yên một bề. Vì sao vậy? Phải đặt bài ca này vào cuộc sống của người phụ nữ xưa và trong hệ thống của những bài ca than thân về hôn nhân và gia đình thì ta mới thấy hết ý nghĩa của hai câu kết, hạnh phúc lứa đôi của họ thường bấp bênh vì tình yêu tha thiết nhiều khi không dẫn đến hôn nhân. Mặc dầu vậy, bài ca dao vẫn là tiếng hát của một trái tim khao khát yêu thương.. Điều đó khiến cho nỗi nhớ này không hề bi luỵ mà như một nét đẹp trong tâm hồn đáng quý của các cô gái Việt ở làng quê xưa

Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai?

Phân tích bài ca dao Khăn thương nhớ ai?

Hướng dẫn

Ca dao yêu thương, tình nghĩa Việt Nam có những bài thật sâu sắc da diết về nỗi nhớ yêu đương: “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ”, “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa, như ngồi đống than”… Mênh mông là biển thương trời nhớ hiển hiện trong thế giới ngôn từ mộc mạc bình dị. Không thể không nhắc tới một bài ca dao như vậy – Khăn thương nhớ ai?

Nhớ thương trong bài thơ trở nên có cung bậc, sắc điệu qua những biểu tượng nghệ thuật quen thuộc mà gợi cảm. Người con gái mượn chiếc khăn, nhờ ngọn đèn nói hộ tâm trạng mình. Cô cũng gửi vào ánh mắt da diết không lời, để rồi khép lại bài ca dao là những khắc khoải âu lo về tương lai hạnh phúc. Trong hệ thống biểu tượng ấy, chiếc khăn được nhắc đến đầu tiên. Một chiếc khăn kỉ vật của gặp gỡ đôi lứa chăng? Một chiếc khăn từ đó phải chăng đã là hình bóng người thương gần gũi quấn quýt bên người con gái? Chẳng thế mà đôi lứa xưa khi trao lời gửi ý thường mượn đến hình ảnh chiếc khăn “Gửi khăn, gửi túi, gửi lời / Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”. Động thái trữ tình của chiếc khăn trong bài ca dao này thật đặc biệt. Nó “thương nhớ ai” mà “rơi xuống đất”, mà “vắt lên vai”? Những vận động trái chiều của khăn trong nghệ thuật phối hợp, hai thanh bằng trắc mở ra một không gian ngập tràn nhung nhớ. Một tâm trạng bối rối, bồi hồi khiến con người “ra ngẩn vào ngơ” tưởng không còn chủ động trong bước đi, dáng đứng (Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đông lửa, như ngồi đống than). Đặc biệt là hình ảnh “Khăn thương nhớ ai/ Khăn chùi nước mắt”, nỗi nhớ sao mà âm thầm, chỉ có khăn chia sẻ bên cạnh. Những giọt nước mắt lặng lẽ, không “đầm đầm như mưa” mà lắng đọng, chất chứa suy tư.

“Khăn thương nhớ ai?” đã trở thành điệp khúc da diết của tiếng gọi thương nhớ trong suốt phần đầu của bài ca dao. Theo thể cách vắt dòng, nỗi thương nhớ ở điệp khúc này đã gọi ra, hay là biểu hiện ở mọi động thái phía sau. Chiếc khăn trong nghệ thuật nhân hóa đã thay lời người mang khăn, nâng niu gìn giữ khăn mà thổ lộ nỗi niềm. Kín đáo mà vẫn rất mãnh liệt.

Nếu như nửa đầu bài ca là nỗi nhớ dâng đầy trong không gian thì hình ảnh ngọn đèn trong đêm không tắt lại khắc họa thêm một chiều thời gian nữa để nỗi nhớ hiển hiện đằng đẵng: “Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt”. Hình ảnh ấy vẽ ra bóng tối canh chày. Hình ảnh ấy đậm khắc bóng hình một người con gái lặng lẽ thao thức với nỗi nhớ trong đêm. Ánh đèn không tắt là ngọn lửa tình yêu ủ mãi trong tim. Ánh đèn không tắt là dằng dặc chờ đợi tưởng đến độ mỏi mòn đi vì nhung nhớ. “Khăn chùi nước mắt”, “Mà đèn không tắt” cách bắt vần và việc sử dụng thanh trắc kết nối hai biểu tượng khăn, đèn trong một trạng huống thông nhất. Đôi mắt người nhớ nhung đã thấp thoáng hiện ra từ giọt nước mắt ở những câu thơ trước, đến đây trực tiếp hiện hữu: “Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên”. Cái nét bút “điểm nhãn” của dân gian gói ghém được thật nhiều tâm trạng. Nỗi ưu tư trở nên nặng trĩu. Hiện ra trong cảm nhận của người đọc là ánh mắt nhớ thương trằn trọc trong đêm vắng, một mình một bóng với ngọn đèn khuya. Nỗi nhớ trong tình yêu có sức mạnh chi phôi thật lớn. Nỗi nhớ biểu hiện ra bên ngoài nhờ khăn, đèn, rồi lặn vào bên trong qua ánh mắt người nhung nhớ. Nhưng trong cách nói “Mắt ngủ không yên” dường như đã thấp thoáng những da diết khắc khoải đan xen của một sắc diện tâm trạng khác không chỉ còn là nỗi nhớ. Thì đây, những câu kết đã hé mở điều đó với người đọc: “Đêm qua em những lo phiền – lo vì một nỗi không yên một bề”.

Hóa ra không chỉ có nhớ. Còn là phấp phỏng lo phiền “không yên một bề” nữa. Bài ca dao đang từ thể vãn bôn có mạch liên kết “thương nhớ ai” kết nối tất cả các biểu tượng đến đây trải ra mênh mông nhiều chiều và ngổn ngang những nỗi niềm tâm trạng khác nhau. Em – nhân vật trữ tình – cô gái trong bài thơ còn lo phiền, “không yên một bề”. Tâm trạng thì đã rõ qua cách gọi tên. Nhưng “không yên một bề” – “một bề” lo lắng dằng dặc ấy là gì đằng sau sự nhớ thương mãnh liệt kia? Có lẽ đó là cái “một bề” của những phấp phỏng về tương lai hạnh phúc lứa đôi. “Khăn thương nhớ ai?”/ “Đèn thương nhớ ai?”, “Mắt thương nhớ ai?” – nhưng liệu có ai đang thương nhớ đến mất ăn mất ngủ, đến ngẩn ngơ ngơ ngẩn như mình không? Và từ yêu đương, gửi trao, thương nhớ, đến “Ước gì ta ở một nhà” là cả một khoảng cách vô cùng nằm ở giữa. Thân phận phụ thuộc, khó có thể tự quyết định cuộc đời mình trong xã hội xưa, những ràng buộc khắt khe tỏa chiết tình yêu hạnh phúc tự do, những nỗi lo lắng thể hiện “Thương anh chẳng dám nói ra/ Sợ mẹ bằng đất sợ cha bằng trời”… tất cả đó phải chăng là “một bề” lo lắng trong tâm hồn người con gái?

Tiếng tơ lòng của người dân lao động về yêu thương tình nghĩa đã cất lên như vậy đó. Thương nhớ không lửng lơ. Thương nhớ cứ muốn neo đậu vào khát vọng về một mái ấm sum họp và tình nghĩa muối mặn, gừng cay. Đó là điều làm nên cảm nhận sâu sắc của người đọc về tiếng nói trữ tình trong bài ca. Chiếc khăn, ngọn đèn và đôi mắt thương nhớ, những biểu tượng truyền thông ấy cứ thế mà thấm vào tâm hồn Việt Nam, chúng ta còn thấp thoáng nhận ra điều đó trong những tiếng thơ hiện đại: “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh / Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây / Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh / Sưởi ấm lòng chiến sĩ giữa ngàn cây” (Nguyễn Đình Thi)

Nguồn: chúng tôi id=”M201269ScriptRootC940950″>