Top 8 # Xem Nhiều Nhất Viết Bài Thơ Đồng Chí Thành Văn Xuôi Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Chuyển Thể Bài Thơ “Lượm” Thành Văn Xuôi, Câu Chuyện

Hình ảnh chú bé Loát choát với cano đội trên đầu vẫn là 1 trong những hình ảnh đẹp và ghi sâu vào tâm trí nhiều thế hệ học sinh​ BÀI LÀM VĂN MẪU CHUYỂN THỂ BÀI THƠ “LƯỢM” THÀNH VĂN XUÔI, CÂU CHUYỆN Cuộc đời mỗi người vốn là nhiều chuyến đi. Có những chuyến đi đã để lại trong ta nhiều thương nhớ vì tại nơi đó ta đã gặp bao người như một cơ duyên, một hạnh ngộ lớn. Có lẽ sau này tôi sẽ nhớ mãi cái lần tôi gặp chú bé liên lạc Lượm.

Tôi còn nhớ hôm ấy là một ngày mà Huế với tình hình vô cùng căng thẳng. Tôi cũng như bao người khác, nhận nhiệm vụ. Và rồi tình cờ tôi gặp Lượm ở Hàng Bè. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ đó là một chú bé nhỏ nhưng lại rất nhanh nhẹn. Chú có một cái xắc rất xinh xinh đeo ở bên hông, một đôi chân thoăn thoắt đã chạy nhảy trên muôn mọi nẻo đường và cái đầu nghênh nghênh toát lên vẻ tinh nghịch, đáng yêu.

Đầu chú đội chiếc ca- lô và vừa đi chú vừa huýt sáo như con chim chích. Chú rất hồn nhiên, yêu đời. Giá mà chiến tranh không xảy ra…Con đường nắng vàng đã in bao dấu chân của chú bé liên lạc…

Tôi vẫn nhớ, chú bé ấy đã từng tâm sự với tôi rằng:

– Cháu rất thích đi liên lạc chú ạ. Ở đồn Mang Cá còn thích hơn ở nhà nhiều…

Tôi nghe chú bé nói mà rưng rưng…

Rồi chú bé cười híp mắt. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, tôi vội phả chia tay chú để tiếp tục lên đường:

Rồi bóng chú bé dần khuất đi. Đôi chân thoăn thoắt lại tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ. Tôi và chú tạm biệt nhau ở đó và mỗi người lại tiếp tục làm nhiệm vụ của riêng bản thân mình.

Một thời quan gian sau đó, tôi chợt nghe một tin buồn. Một đồng chí của tôi đã kể lại với tôi rằng:

– Anh ạ! Chú bé Lượm mà anh từng kể với em ấy…Có một hôm cũng như những hôm khác, chú lại bỏ thư vào bao và tiếp tục nhiệm vụ của mình. Đôi chân thoăt thoắt, cái đầu nghênh nghênh chẳng sợ chi, chú vụt qua mặt trận khi đạn bay vèo vèo. Giữa đường quê vắng vẻ. lúa đương trỏ bông, có bóng hình chú bé nhấp nhô…Nhưng rồi…

Giọng người đồng chí của tôi bỗng nghẹn đi. Tôi chợt hiểu cơ sự… Lượm đã hi sinh. Đất mẹ đã dang rộng vòng tay đón em vào lòng. Chú nằm trên lúa, tay năm chặt bông… Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh của chú ngày đầu tôi mới gặp.

Lượm là chú bé dù tôi mới gặp một lần và cũng là lần cuối cùng nhưng lại để lại trong tim tôi nhiều ấn tượng khó phai mờ. Chính nhờ những chú bé như Lượm mà dân tộc ta mới đi đến chiến thắng, đất nước mới độc lập, tự do…

lee.vfo.vn

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Đồng Chí”

Đồng chí của Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quí ấy của những người chiến sĩ một cách sâu sắc. Lời thơ thật mộc mạc, tự nhiên như những lời tâm sự. Những thành ngữ đi vào trong thơ làm cho ta cảm giác như chính cuộc sống hàng ngày của người lính được hiện lên trước mắt ta vậy. Họ đến từ những miền quê khác nhau, người thì từ đồng bằng ven biển lên, kẻ thì từ vùng trung du xuống, nhưng họ đã dễ dàng gần gũi, thông cảm với nhau bởi cùng ra đi từ những vùng quê nghèo khó, vất vả:

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Mặc dù chẳng hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng chí. Họ cảm nhận được sự gắn bó keo sơn khi sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Lời thơ thật mộc mạc mà gần gũi nghe như văn kể chuyện về cuộc đời của những người lính trong lửa đạn chiến tranh. Câu thơ Súng bên súng đầu sát bên đầu vừa có ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Những người lính luôn gắn bó bên nhau lúc chiến đấu cũng nhứ lúc sinh hoạt cùng đồng đội, “súng bên súng” là cùng chung hành động, “đầu sát bên đầu” là cùng chung lí tưởng tạo nên một nguồn sức mạnh. Người lính đã cùng nhau sẻ chia gian lao, vất vả trong buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ thiếu thốn:

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Họ cùng sẻ chia những giá trị vật chất tuy chẳng là bao nhưng thấm đẫm tình đồng đội. Cùng đắp chung một chiếc chăn bông trong những đêm rừng sương lạnh, đây là điều kiện thuận lợi để người lính dễ dàng trao đổi tâm tình cho nhau. Vì thế mà họ trở thành “tri kỉ” của nhau. Hai tiếng “Đồng chí” được đột ngột tách thành một câu thơ riêng biệt có đi kèm một dấu chấm cảm, chia bài thơ thành hai nửa. Nửa trên là qui nạp, nữa dưới là diễn dịch. Hai nửa ấy như muốn làm rõ thêm tình cảm thiêng liêng của người chiến sĩ, làm lay động hàng triệu trái tim người đọc.

Những vần thơ như mang nặng bâng khuâng, thương nhớ của những người chiến sĩ:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay.

Đây là sự hi sinh cao cả của người lính. Họ lên đường ra mặt trận mặc dù ruộng vườn nhà cửa phải bỏ hoang. Người lính đã vì cái chung mà hi sinh cái riêng, đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của bản thân mình. Thật cảm động hình ảnh Gian nhà không mặc kệ gió lung lay. Hai chữ “mặc kệ” được cất lên, đó là một sự nỗ lực về tâm lí, một sự cố gắng để vượt lên trên những tình cảm nhớ thương dằn lòng bởi họ thấm nhuần cái chân lí “nước mất nhà tan”. Chính tình yêu quê hương của người chiến sĩ đã làm cho những vật vô tri vô giác cũng như dâng lên một nỗi nhớ:

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Đây cũng là cớ để gợi lên nỗi nhớ quê hương, nhớ cái giếng nước trong mát lành, nhớ gốc đa rợp bóng mát của quê mình. Họ luôn mang theo bên mình cả quê hương vào trong cuộc chiến đấu gian nan. Mặc dù buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng người chiến sĩ cách mạng vẫn vượt qua:

Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Họ đã động viên nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, tình đồng đội để vượt qua những cơn sốt rét, vượt lên những khó khăn của thời tiết khắc nghiệt:

Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

Trong cảnh “rừng hoang sương muối” người lính đứng bên nhau phục kích chờ giặc, Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả mọi khó khăn. Trong khó khăn, những người lính vẫn ung dung, chủ động, vẫn sát cánh bên nhau “chờ giặc tới”. Người lính càng yêu đời hơn bởi nơi đây còn có một người bạn tri âm tri kỉ, người bạn đó là vầng trăng thơ mộng. Đối với những người lính ra đi từ chốn đồng quê, trăng đã trở nên gần gũi, giờ đây họ lại mang vầng trăng ấy vào trong chiến trường ác liệt. Nó như thức cùng người chiến sĩ trong những đêm khuya chờ giặc tới.

Không những thế, hình ảnh vầng trăng thơ mộng còn tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Trong không khí căng thẳng vì đối đầu với địch, người lính vẫn luôn hướng về ánh sáng trong trẻo của vầng trăng và hướng về lí tưởng chiến đấu vì hoà bình của dân tộc. Bằng những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã thể hiện vẻ đẹp tinh thần và sự gắn bó keo sơn của người cách mạng, vẻ đẹp của họ đáng được nâng niu, trân trọng.

Cuộc kháng chiên chống Pháp trường kì là điểm hội tụ của những người chiến sĩ có cùng nhiệt huyết chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Ở đó có hàng triệu trái tim yêu nước đã giã từ bờ tre, giếng nước của quê nhà ra đi đánh giặc. Cuộc sống vất vả, gian nan trong chiến đấu đã gắn kết họ lại với nhau trong tình đồng chí. Bài thơcủa Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quí ấy của những người chiến sĩ một cách sâu sắc.Lời thơ thật mộc mạc, tự nhiên như những lời tâm sự. Những thành ngữ đi vào trong thơ làm cho ta cảm giác như chính cuộc sống hàng ngày của người lính được hiện lên trước mắt ta vậy. Họ đến từ những miền quê khác nhau, người thì từ đồng bằng ven biển lên, kẻ thì từ vùng trung du xuống, nhưng họ đã dễ dàng gần gũi, thông cảm với nhau bởi cùng ra đi từ những vùng quê nghèo khó, vất vả:Mặc dù chẳng hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng chí. Họ cảm nhận được sự gắn bó keo sơn khi sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Lời thơ thật mộc mạc mà gần gũi nghe như văn kể chuyện về cuộc đời của những người lính trong lửa đạn chiến tranh.Câu thơ Súng bên súng đầu sát bên đầu vừa có ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Những người lính luôn gắn bó bên nhau lúc chiến đấu cũng nhứ lúc sinh hoạt cùng đồng đội, “súng bên súng” là cùng chung hành động, “đầu sát bên đầu” là cùng chung lí tưởng tạo nên một nguồn sức mạnh.Người lính đã cùng nhau sẻ chia gian lao, vất vả trong buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ thiếu thốn:Họ cùng sẻ chia những giá trị vật chất tuy chẳng là bao nhưng thấm đẫm tình đồng đội. Cùng đắp chung một chiếc chăn bông trong những đêm rừng sương lạnh, đây là điều kiện thuận lợi để người lính dễ dàng trao đổi tâm tình cho nhau. Vì thế mà họ trở thành “tri kỉ” của chúng tôi tiếng “Đồng chí” được đột ngột tách thành một câu thơ riêng biệt có đi kèm một dấu chấm cảm, chia bài thơ thành hai nửa. Nửa trên là qui nạp, nữa dưới là diễn dịch. Hai nửa ấy như muốn làm rõ thêm tình cảm thiêng liêng của người chiến sĩ, làm lay động hàng triệu trái tim người đọc.Những vần thơ như mang nặng bâng khuâng, thương nhớ của những người chiến sĩ:Đây là sự hi sinh cao cả của người lính. Họ lên đường ra mặt trận mặc dù ruộng vườn nhà cửa phải bỏ hoang. Người lính đã vì cái chung mà hi sinh cái riêng, đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của bản thân mình. Thật cảm động hình ảnh Gian nhà không mặc kệ gió lung lay. Hai chữ “mặc kệ” được cất lên, đó là một sự nỗ lực về tâm lí, một sự cố gắng để vượt lên trên những tình cảm nhớ thương dằn lòng bởi họ thấm nhuần cái chân lí “nước mất nhà tan”.Chính tình yêu quê hương của người chiến sĩ đã làm cho những vật vô tri vô giác cũng như dâng lên một nỗi nhớ:Đây cũng là cớ để gợi lên nỗi nhớ quê hương, nhớ cái giếng nước trong mát lành, nhớ gốc đa rợp bóng mát của quê mình. Họ luôn mang theo bên mình cả quê hương vào trong cuộc chiến đấu gian nan.Mặc dù buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng người chiến sĩ cách mạng vẫn vượt qua:Họ đã động viên nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, tình đồng đội để vượt qua những cơn sốt rét, vượt lên những khó khăn của thời tiết khắc nghiệt:Trong cảnh “rừng hoang sương muối” người lính đứng bên nhau phục kích chờ giặc, Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả mọi khó khăn.Trong khó khăn, những người lính vẫn ung dung, chủ động, vẫn sát cánh bên nhau “chờ giặc tới”. Người lính càng yêu đời hơn bởi nơi đây còn có một người bạn tri âm tri kỉ, người bạn đó là vầng trăng thơ mộng. Đối với những người lính ra đi từ chốn đồng quê, trăng đã trở nên gần gũi, giờ đây họ lại mang vầng trăng ấy vào trong chiến trường ác liệt. Nó như thức cùng người chiến sĩ trong những đêm khuya chờ giặc tới.Không những thế, hình ảnh vầng trăng thơ mộng còn tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Trong không khí căng thẳng vì đối đầu với địch, người lính vẫn luôn hướng về ánh sáng trong trẻo của vầng trăng và hướng về lí tưởng chiến đấu vì hoà bình của dân tộc.Bằng những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, bài thơcủa Chính Hữu đã thể hiện vẻ đẹp tinh thần và sự gắn bó keo sơn của người cách mạng, vẻ đẹp của họ đáng được nâng niu, trân trọng.

Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh

Kiều Thanh

(Vanchuongphuongnam.vn) – Nhà thơ Lê Anh Xuân (1940-1968) tên thật là Ca Lê Hiến, người Bến Tre… Thân phụ anh là giáo sư Ca Văn Thỉnh (1902-1987), nhà nghiên cứu văn học, có 6 người con. Chị của Lê Anh Xuân là Ca Lê Du, cán bộ, các anh là Ca Lê Dân, Ca Lê Thuần (nhạc sĩ), em gái là Ca Lê Hồng (Đạo diễn, NSƯT), em trai, Ca Lê Thắng.

Lê Anh Xuân theo cha tập kết ra Bắc học tập. Ra trường, làm giáo sư Khoa Sử thế giới tại Đại học Tổng hợp Hà Nội, rồi được cử đi nghiên cứu ở Liên Xô nhưng anh có nguyện vọng xin về Nam phục vụ (tháng 12/1964). Vừa hoạt động văn nghệ, vừa cầm súng ra trận chiến đấu, anh hy sinh tháng 5/1968) tại huyện Cần Đước (Long An). Lê Anh Xuân được truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2011) và Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001). Tác phẩm: Tiếng gà gáy (thơ,1965), Không có đâu như ở miền Nam (thơ, in chung, 1968), Nguyễn Văn Trỗi (trường ca, 1968), Hoa dừa (thơ, 1971), Thơ Lê Anh Xuân (tuyển thơ, 1981), Giữ đất (tập văn xuôi, 1966). Tên nhà thơ Lê Anh Xuân được đặt cho một con đường tại Quận 1,TP. HCM, và một con đường tại Đồng Hới, Quảng Bình.

“Dáng đứng Việt Nam” là nhan đề được nhà văn nổi tiếng Anh Đức đặt lại từ bài thơ “Anh giải phóng quân” của nhà thơ Lê Anh Xuân. Chủ đề khá gần gũi với bài thơ “Bài ca Xuân 68” của Tố Hữu (1920-2002), bài thơ của Lê Anh Xuân ca ngợi chân dung sáng ngời khí phách anh hùng của anh chiến sĩ giải phóng quân, trong lần tấn công vào phi trường Tân Sơn Nhứt, đợt I của cuộc Tổng tiến công vào mùa Xuân năm 1968. Phẩm chất cao đẹp của anh giải phóng quân trong bài thơ đã phản ánh được không ít dấu ấn cuộc sống hiện thực vô cùng ý nghĩa của tác giả – nhà thơ – chiến sĩ. Lê Anh Xuân trong thời đấu tranh, đuổi giặc giữ nước.

Xuất thân trong một gia đình giáo dục có truyền thống cách mạng ở Bến Tre – Nam bộ, mới 12 tuổi, Ca Lê Hiến đã bắt đầu tỏ ra say mê với văn chương. Ở vùng giải phóng, bên cạnh anh chị và các em  cùng gắn bó với phong trào cách mạng, Ca Lê Hiến vừa học vừa làm tại một nhà in, đồng thời sáng tác thơ văn, gởi đăng báo ở chiến khu. Sau chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu (1954) của quân dân ta, theo Hiệp định Genève, Ca Lê Hiến theo cha tập kết ra Bắc. Anh theo học tại trường học sinh miền Nam (Hải Phòng) rồi lên học tiếp trường Cấp 3 Phổ thông Nguyễn Trãi tại Hà Nội. Ra trường, anh dạy Đại học, rồi được cho đi nghiên cứu ở nước ngoài, nhưng Lê Anh Xuân muốn xin về quê hương phục vụ. Khi về Nam (16/9/1964), lúc đầu, anh phục vụ tại ban Tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam rồi sau đó chuyển sang công tác ở Hội Văn nghệ Giải phóng. Từ đây, sáng tác văn thơ, Ca Lê Hiến bắt đầu sử dụng chính thức bút danh Lê Anh Xuân (kết hợp bằng chữ lót Lê của tên Ca Lê Hiến + chữ đầu Anh của bút danh nhà văn Anh Đức (1935-2014) (Bùi Đức Ái) + chữ lót Xuân của tên người yêu nhà thơ là Bùi Xuân Lan – người Cần Thơ –  vốn là em ruột của tác giả Hòn đất.

Về Nam, Lê Anh Xuân đã có những vần thơ ca ngợi miền Bắc đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà thơ bồn chồn nhớ lại cảm xúc say đắm yêu thương nồng nàn về một hiện thực bề bộn, thay đổi nhanh chóng trên con đường đi lên, nhà thơ đã vẽ lên trong những vần thơ đẹp của mình hình ảnh những công trình, con đường, những nhà máy, những mùa gặt… biểu tượng cuộc sống mới bừng nở của miền Bắc đang thay da đổi thịt từng ngày: “Thái Nguyên bừng nở khu gang thép/ Việt Trì khói trắng như mây trôi…”. Hết “Lên bắc Sơn”, Lê Anh Xuân lại xuống “Đêm Uông Bí”, để nói lên tất cả niềm lạc quan trong sáng hòa quyện trong cái tình yêu sôi nổi như máu thịt của mình: “Miền Bắc ơi ! sao tôi yêu quá / Như yêu em, yêu má, yêu ba/ Xa quê hương miền Bắc là nhà” (Mười năm). Miền Bắc hay miền Nam đều là quê hương.

Người chiến sĩ giải phóng, trong lần tiến công đợt I sân bay Tân Sơn Nhất vào xuân Mậu Thân, đã hy sinh một cách anh hùng trong tư thế tiến công kẻ thù: “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt/ Nhưng anh gượng đứng lên, tì súng vào xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh tuôn theo lửa đan cầu vòng/ Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm/ Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”. Anh vĩ đại mà vô cùng bình dị: không tên, không địa chỉ, chỉ với đôi dép trông rất hiền lành: Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ/ Mà vẫn một màu bình dị sáng trong “mà có thể ”mạnh hơn tất cả đan bom/ làm run sợ cả lầu Năm góc”( thơ Tố Hữu). Người chiến sĩ giải phóng dù mang dép hay đi chân không, vẫn biểu trưng được cho chân dung khái quát của người chiến sĩ cách mạng yêu nước với “áo vải chân không/ đi lùng giặc đánh” – Hồng Nguyên (1924-1951) vì bởi ở những anh bộ đội cụ Hồ bao giờ cũng chân trần mà chí thép (từ dùng của một nhà văn nước ngoài, ca ngợi phẩm chất của bộ đội ta trong hai cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm).

Bằng thể thơ mới phá cách, tiết điệu khỏe khoắn với câu dài ngắn không câu thúc, lời thơ dung dị tự nhiên nhưng có hình tượng nghệ thuật nên thơ, sáng tạo: “Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vòng”, Lê Anh Xuân tạc nên tượng đài anh chiến sĩ giải phóng quân trong bài thơ in như trong thực tế, đã hy sinh cao đẹp, hùng tráng hiện diện trong cái không gian hun hút xa thẳm của đường băng sân bay, có thể làm ta liên tưởng đến hình ảnh oai hùng gan góc của người võ sĩ giác đấu chết giữa một đấu trường mênh mông La Mã ngày xưa!

Và tác giả bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” – Lê Anh Xuân cũng đã hy sinh một cách cao đẹp. Dù trong hoàn cảnh nào, sự ra đi mãi mãi cho một nghĩa lớn của nhà thơ Lê Anh Xuân cũng mang dấu ấn đậm nét của một chiến sĩ yêu nước vừa cầm bút vừa cầm súng, chiến đấu theo tinh thần lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi). Khi về miền Nam, trong thư từ qua lại với nhà thơ đồng hương Chim Trắng (1938-2011), Lê Anh Xuân đã nhiều lúc chân tình tâm sự với bạn là mình không muốn “đứt rễ dừa” – ý muốn nói xa rời thực tế chiến trường. Và Lê Anh Xuân thực sự đã nằm lại ở chiến trường.

Nhà văn Lê Văn Thảo (1939-2016), nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cũng là người bạn văn đồng chí của nhà thơ sau này cho biết chính ông là người đã an táng Lê Anh Xuân sau khi tìm thấy nhà thơ đã hy sinh trong một trận càn của quân Mỹ tại vùng ven đô Sài Gòn. Tác giả “Ông cá hô” đã giúp gia đình nhà thơ tìm ra mộ bạn mình ở chiến trường xưa. Trường hợp không phải là cá biệt về sự hy sinh, và gởi thân xác tại nơi chiến trận khiến tôi trong một thoáng bồi hồi nhớ lại những câu thơ của Vương Hàn (687-735): “Túy ngọa sa trường, quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến, kỷ nhân hồi” (Lương châu từ), dịch thơ: “Sa trường ai mỉa ta say/ Xưa nay chiến địa mấy ai được về”  – Tản Đà ( 1889-1939).

Tóm lại, qua tổng thể sự nghiệp cách mạng ngắn ngủi và nội dung tác phẩm thi ca của Lê Anh Xuân, ta có thể khẳng định anh là một hồn thơ chiến sĩ: tha thiết với những sáng tác thi ca cháy bỏng tình yêu đất nước và tấm lòng hăm hở muốn được có mặt ở thực tế chiến trường, trực diện đấu tranh với kẻ thù chung của dân tộc. Bày tỏ cảm xúc khi liên hệ đến Lê Anh Xuân, nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam tiết lộ: “Tôi khao khát được ra chiến trường vì đọc Trường ca Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân… Lê Anh Xuân xứng đáng là anh hùng trong thơ và cả trong đời”. Điển hình hơn cả, qua bài “Dáng đứng Việt Nam”, ta có thể nói nhà thơ Lê Anh Xuân đủ tư cách và điều kiện được coi là biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tầm vóc đích thực và đúng nghĩa một con người mang dáng đứng Việt Nam.

K.T

Phân Tích Tình Đồng Chí Qua Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu

Phân tích tình đồng chí qua bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu ra đời cách đây hơn 30 năm, cho đến nay, vẫn là một bài thơ mà em ưa thích bởi nó giúp em hiểu thêm được vì sao quân đội ta đã trở thành một quân đội anh hùng.

Đọc bài thơ, em bắt gặp những anh bộ đội đã có một cuộc đời, một quê hương nghèo khổ, nào là “nước mặn đồng chua”, nào là “đất cày lên sỏi đá” nào là “gian nhà không”. Đến khi vào bộ đội, họ cũng chẳng giàu có gì hơn, cũng “áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá” và “chân không giày…”. Đã thế, còn bị những cơn sốt rét rừng hành hạ.

Sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi.

Lại phải sống cảnh “rừng hoang sương muối”. Bao nhiêu thiếu thốn về vật chất! Phải nói là cực kì gian khổ. Nhưng trong suốt bài thơ, em không hề nghe một lời than, hay cảm thấy ở họ một phút chán chường, dao động. Trái lại, bao trùm lên cuộc sống, thấm đượm trong từng trái tim của họ là mối tình đồng chí keo sơn, là niềm tin ở chính mình, ở đồng đội.

Tình của những người nông dân chân lấm tay bùn, sông ở mọi vùng quê của đất nước, nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, họ nhanh chóng có mặt trong đoàn quân – chiến sĩ:

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau.

Từ xa lạ đến chỗ thân quen, họ không cần chờ thời gian, năm tháng, bởi vì họ đang tập hợp dưới ngọn quân kì, bởi vì họ đã gặp nhau ở mục đích của cuộc ra đi. Lí tưởng chiến đấu gắn bó họ lại với nhau và họ nhanh chóng trở thành “đồng chí”; “Súng bên súng, đầu sát bên đầu. Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.

Chính vì cùng chung một lí tưởng cùng sông trong tình đồng chí mà họ sẵn sàng chia ngọt, sẻ bùi: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh”. Họ động viên nhau vượt qua mọi gian khổ “miệng cười buốt giá” và “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Cuộc sống chiến đấu đã xây đắp nên tình đồng chí cao đẹp đó. Và cũng chính tình đồng chí giúp họ tạo nên sức mạnh và niềm tin cho mỗi con người – chiến sĩ và cho cả đoàn quân. Một tư thế sẵn sàng chiến đấu, một tinh thần lạc quan tin tưởng, một biểu tượng rất cao đẹp của người lính cụ Hồ:

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Đây là đỉnh cao của tình đồng chí. Vì nếu đêm nay giữa “rừng hoang sương muối” mà Anh hoặc Tôi không “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” thì mọi tình cảm thân ái như “chung chăn”, áo rách quần vá “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” còn có ý nghĩa gì? Câu thơ này có một từ bình thường nhưng không thay thế được đó là từ “đứng”. Có nhạc sĩ đã phổ nhạc bài thơ này và sửa lại thành “ngồi”. “Đứng” là thường trực chiến đấu mà “ngồi” là nghỉ ngơi. Với lại từ “đứng” có âm “đ” cứng, thanh trắc (dấu sắc) mạnh phô diễn được sức mạnh của tình đồng chí ở đỉnh cao. Nói như thế, nhà thơ cảm thấy hãy còn hữu hạn nên đã chọn một ấn tượng cho cái vô cùng của tình đồng chí:

“Đầu súng trăng treo”

Lãng mạn thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí! Cặp đồng chí này (súng và trăng) nói về cặp đồng chí kia (tôi và anh), nói được cái cụ thể và gợi đến vô cùng súng và trăng, gần và xa “Anh với tôi đôi người xa lạ, tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Súng và trăng, cứng rắn và dịu hiền; súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và trăng…là biểu hiện cao cả của tình đồng chí.

Sự kết hợp yếu tố hiện thực, tươi rói với tính chất lãng mạn trong trẻo là màu sắc mới mẻ mà Chính Hữu đã sớm mang lại cho thơ ca kháng chiến, thi ca cách mạng.