Top 9 # Xem Nhiều Nhất Văn Nghị Luận Về Bài Thơ Sang Thu Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Nghị Luận Về Sang Thu Của Hữu Thỉnh

Nghị luận về Sang thu của Hữu Thỉnh – Bài số 2

Nghị luận về Sang thu của Hữu Thỉnh – Bài số 2. Mùa thu quả nhiên là mùa nhạy cảm bậc nhất trong năm. Con người cùng Tạo vật thảy đều nhạy cảm. Tuy nhiên, cái thời điểm mà sự nhạy cảm của hồn tạo vật luôn thách thức với sự nhạy cảm của hồn người vẫn là thời khắc giao mùa – chớm thu. Các kênh cảm giác và cả tâm cảm nữa của mỗi hồn thơ dường như đều được huy động tối đa để nắm bắt những làn sóng, những tín hiệu mơ hồ nhất từ những giao chuyển âm thầm trong vạn vật.

Chả thế mà, bao đời nay luôn có sự đua ganh giữa hồn thơ với hồn tạo vật. Chỉ cần điểm sơ qua những tín hiệu từng được hồn thơ từ cổ chí kim nắm bắt trong những thi ảnh không thôi, cũng khó đủ giấy mực rồi. Gọn nhẹ hơn, chỉ điểm qua những thi tứ nổi bật dành cho nhịp chuyển mùa thôi, chắc cũng không xuể. Cho nên, tôi sẽ không nấn ná làm cái việc rút tỉa những thi ảnh và thi tứ tiêu biểu về thời điểm nhạy cảm ấy của thơ ca các thời, nghĩa là không tái hiện lại một truyền thống, một tiền đề nữa. Mà cùng Hữu Thỉnh, bước ngay… Sang thu

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi

Thu, 1977

Tôi mừng cho Hữu Thỉnh và bài thơ, nó vừa giành được một chỗ xứng đáng trong chương trình Văn và Tiếng Việt của nhà trường. Kể từ nay, hương ổi của thi phẩm sẽ phả vào tâm hồn của nhiều thế hệ học trò, sẽ được những tâm hồn ấy mang tới bao nẻo thu, đến cả những miền chưa từng có mùa thu nữa.

Trước tiên, thử đi vào cấu trúc của thi phẩm. Hình thái tổ chức của Sang thu đâu dễ nhận diện. Về bố cục, ai chẳng thấy chính tác giả đã tự chia bài thơ thành ba khổ khúc chiết. Nhưng về ý tứ ? Xem chừng ý khổ này cứ “dính” vào khổ kia, chả chịu rành mạch gì cả. Thì quanh đi quẩn lại vẫn là thế : hương ổi, gió se, sương chùng chình, sông dềnh dàng, chim vội vã, nắng vẫn còn, mưa đã vơi, sấm bớt bất ngờ, hàng cây đứng tuổi… chẳng dáng nét thu về, thì hình sắc thu sang, đấy thay đổi tinh vi, đây đổi thay tinh tế. Ý đâu có khác gì nhau. Đến nỗi, ngay cả “Sách giáo viên” hướng dẫn người dạy khai thác và soạn giảng chừng như cũng ” bí” trong việc phân định . Hay việc chia thành ba khổ thế chỉ hoàn toàn do cảm tính lúc viết của thi sĩ, còn ý thơ thì vốn thiếu rành mạch, vô tổ chức ? Không hẳn.

Đọc kĩ hơn thì thấy rằng: cùng viết về thiên nhiên lúc giao mùa, nhưng mỗi khổ thơ vẫn nghiêng về một ý. Về cảnh vật, khổ một nghiêng về những tín hiệu mách bảo sự hiện diện đây đó của mùa thu, từ góc nhìn vườn ngõ : Bỗng nhận ra hương ổi /Phả vào trong gió se /Sương chùng chình qua ngõ /Hình như thu đã về. Khổ hai lại nghiêng về những cảnh sắc trời mây sông nước đang chuyển mình sang thu, với tầm nhìn rộng xa vào bầu trời mặt đất : Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã/Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu. Trong khi đó, khổ ba lại nghiêng về những biến đổi bên trong các hiện tượng thiên nhiên và tạo vật : Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa/Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi. Như vậy, ba khổ thơ đã được liên kết thành một chỉnh thể nhuần nhị nhờ vào một trật tự khá tự nhiên : từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ ngoài vào trong, với các lớp cảnh càng ngày càng đi vào chiều sâu… Một trật tự hợp lí tự nhiên bao giờ cũng là điều sinh tử để một sản phẩm nghệ thuật hiện ra như một sinh thể !

Cảm nhận tạo vật lúc sang thu, đa phần các thi sĩ nghiêng về vẻ biến suy một chiều của cảnh. Vì thế, thần thái của cảnh thu thường hiện lên qua vẻ tiêu sơ. Ví như bài Thu cảm, tiếng thơ khá tinh tế của một thi sĩ đương thời : Mướp tàn sen cũng đi tu / Lá tre đã thả một mùa heo may / Con sông không ốm mà gầy / Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn. Cảm nhận của Hữu Thỉnh khác, không đơn tuyến. Tôi cho rằng, một trong những nét đặc sắc của bài Sang thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau, song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu. Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. Nhịp mạnh bao gồm những động thái, sắc thái dương tính (mạnh, nhanh, nhiều…) : hương ổi phả – chim vội vã – vẫn còn bao nhiêu nắng… Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm, chậm, ít…) : sương chùng chình, sông dềnh dàng, mưa vơi dần… Lúc bất giác nhận ra hương ổi “phả” vào trong gió se, thì cũng là lúc bắt gặp sương “chùng chình” qua ngõ. Chính lúc sông “dềnh dàng” là lúc chim “vội vã”. Khi nắng “còn” cũng là khi mưa “vơi”. Đừng nghĩ thi sĩ cố ý đặt bày hai mạch tương phản nhằm chơi trò lạ hoá. Nó chính là hiện tượng trái chiều mà cùng hướng ta vẫn thường thấy trong mỗi cuộc đổi thay. Chẳng phải thế sao ? Chẳng phải bao mạch sống đang cần mẫn chuyển lưu trong lòng tạo vật làm nên cõi sống trường cửu này vốn vẫn tương sinh tương khắc như vậy sao ? Và chẳng phải những vận động trái chiều mà cùng hướng vẫn thường đem đến cho sự sống thế quân bình ngay trong lòng mỗi nhịp biến thiên hay sao ? Cho nên, thật thú vị mà cũng thật hiển nhiên là hai nhịp mạnh – nhẹ với hệ thống hưng – suy, tiêu – trưởng kia lại đan dệt trong nhau khá nhuần nhuyễn tạo nên cái bản giao hưởng gợi cảm của đất trời thu. Có thể xem đó là nét phức điệu trong cảm nhận ngoại giới của hồn thơ Hữu Thỉnh. Toàn cảnh thu trong bước chuyển mùa, nhờ lối cảm ấy, đã hiện ra không chỉ có biến thiên, mà đây đó còn cả thế quân bình. Luôn thấy được thế quân bình ngay giữa những biến thiên thì ít bất ngờ chao đảo. Trong thiên nhiên đã vậy. Trong cuộc đời cũng thế. Và, tôi ngờ rằng cảm quan quân bình về đời sống đã ngấm ngầm xui thi sĩ tìm đến cái kết điềm tĩnh trước ba động, giấu cương sau nhu này :

Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi ?

Nói đến câu kết kia, không thể không thêm vài lời về cách lập tứ dẫn tới kết. Nó rõ nhất ở khổ ba : Vẫn còn bao nhiêu nắng /Đã vơi dần cơn mưa /Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Để ý một chút, sẽ thấy rằng đến đây, tâm thế thi sĩ không còn ngỡ ngàng bất giác như khổ một, say sưa tri giác như khổ hai, mà lòng đã nặng hơn, đã ra chiều trầm ngâm với suy ngẫm rồi. Lớp từ mang sắc thái đong đếm ở đây mách với ta điều đó. Hệ thống các từ còn (-hết), vơi (-đầy), bớt (-thêm) bảo rằng thi sĩ đang suy xét, đúc kết, chiêm nghiệm. Chiêm nghiệm điều gì ? Về một lẽ đời trong hai chiều biến đổi trái nhau. Ba câu trên : nắng “vẫn còn”, tức là đã giảm ; mưa “vơi dần” rõ là giảm ; sấm “bớt bất ngờ” càng giảm. Cả ba nghiêng về chiều giảm. Nhưng, khi câu ba nối vào câu kết, thì chiều giảm đột ngột thành chiều tăng, một chiều tăng kín đáo : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Ấy là sự từng trải tăng lên, là cây đã trưởng thành. Nhờ lối viết nén, mấy chữ “bớt bất ngờ” như một nút buộc, câu thơ bỗng có “cú pháp dính”, lời thơ súc tích hẳn nhờ các làn nghĩa giao nhập ràng néo nhau : sấm bớt gây bất ngờ (sấm đã e cây), hay cây bớt bị bất ngờ (cây thôi e sấm)? Có lẽ là cả hai, nhưng xem chừng, cái vế sau mới là chốt hạ. Nhờ ngữ pháp ấy mà cái ý cương kia liền được giấu kín nhẹm, thậm chí được nhu hoá. Có thể nói, đây là lối kết theo kiểu “đảo phách”. Một cú đảo phách ngoạn mục. Bởi đảo mà cứ như không.

Sang thu là bài thơ tinh tế. Điều này khỏi bàn thêm. Chẳng thế mà các chi tiết gợi cảm của thi phẩm đã cuốn hút nhiều người yêu thơ. Nào những hương ổi phả vào trong gió se, nào sương chùng chình qua ngõ, rồi thì sông được lúc dềnh dàng… xem ra, thi ảnh nào cũng tài hoa. Mà ấn tượng nhất hẳn phải là cảnh tượng Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu. Làm xác định cái không xác định, khiến cái vô hình thành hữu hình, làm định dạng cái vốn mơ hồ, là lối viết đâu có gì lạ về thi pháp. Thế mà thi ảnh lại mới, hình sắc lại gợi. Đám mây thực thế mà ảo thế ! Cái cách “vắt nửa mình” kia sao mà thi vị ! Có thật chăng một đám mây vốn của mùa hè đang mải mê lấn sân sang mùa thu ? Có mà không có, thật mà không thật. Cứ y như giữa mùa thu và mùa hè vẫn có một lằn ranh làm bằng sợi dây vô hình giăng ra giữa thinh không, khiến đám mây yêu kiều và đỏng đảnh kia có thể vắt nửa mình qua đó mà khoe sắc phô duyên vậy!

Mà đâu chỉ trong quan sát, ở thi phẩm này, Hữu Thỉnh còn tỏ ra tinh hơn nữa trong sự đồng điệu với nhịp chuyển mùa. Những hiện tượng riêng lẻ thì gồm cả hai hệ thống tín hiệu trái chiều, có chậm có nhanh. Nhưng cái nhịp luân chuyển chung chi phối vạn vật thì bao giờ cũng khẩn trương và mau lẹ. Nhịp luân chuyển ấy dường như đã nhập vào mấy chữ tưởng rất không đâu mà lại thần tình này: Sông được lúc dềnh dàng/Chim bắt đầu vội vã ; Vẫn còn bao nhiêu nắng/Đã vơi dần cơn mưa”. Mấy chữ ấy đi với nhau thành cặp, hô ứng và tiếp ứng nhau làm hiển thị cái nhịp luân chuyển trong tạo vật vốn mải mê mà vô hình.

Người đọc cũng dễ say với những nét tài hoa trong việc sử dụng nhuần nhuyễn yếu tố cổ điển của thi sĩ. Đọc Hữu Thỉnh, có một chất rất dễ nhận : dân gian. Còn có một chất khác, luôn cặp kè, mà xem ra lại khó thấy : Đường thi. Sao lại cặp kè ? Thì một trong những chiêu rất Hữu Thỉnh chẳng phải là chế tác thi liệu dân gian bằng thi pháp Đường ư ? Cố nhiên, anh không chỉ có chiêu này. Ở Sang Thu, cái súc tích Đường thi kết hợp với chất hồn nhiên thơ trẻ cứ loáng thoáng đâu đó trong cách nhìn tạo vật, trong cách kiệm lời, mà hiển lộ nhất là ở phép đối ngẫu được dùng khá nhuyễn : Sông được lúc dềnh dàng-Chim bắt đầu vội vã ; Vẫn còn bao nhiêu nắng-Đã vơi dần cơn mưa. Có lẽ khi đọc các cặp ấy, tâm trí ta bị trôi theo lời thơ bình đạm, ít ai để ý đến nghệ thuật tổ chức, chỉ lúc chợt ngoái lại, thì mới vỡ lẽ: ồ, ra là phép đối ! Thế là nhuyễn, là tinh chứ sao !

Tuy nhiên, đó vẫn là những tinh tế tiểu tiết và dễ viết.

Đôi khi quá chú mục vào cái tinh tế trong tiểu tiết có thể quên sự tinh vi trong đại cục. Tôi muốn nói đến điều khác : ý tưởng bao trùm. Nó mới là nét tinh vi thuộc về đại cục. Ý tưởng Sang thu được gói kín vào thi tứ. Một thi tứ đa tầng khiến hình tượng thơ thành đa nghĩa. Nhờ đó, thi phẩm nhỏ đã mang thi tứ lớn. Sang thu đa nghĩa, vì ít nhất, có sự chất chồng và giao thoa của ba lớp nghĩa : trời đất sang thu, đời sống sang thu và đời người sang thu. Lớp nghĩa thứ nhất dễ thấy. Vì nó ở bề nổi của văn bản thơ. Nó khiến bài thơ như một bức tranh thiên nhiên. Không. Có lẽ như những thước phim về cảnh vật thiên nhiên thì phải hơn. Tranh thì tĩnh, phim mới động. Sự mẫn cảm của tâm hồn thi sĩ đã được dịp phô diễn qua những thi ảnh giàu mỹ cảm trong việc nắm bắt bao vận động, chuyển động, biến động âm thầm và sâu kín của thiên nhiên. Nhưng, nếu chỉ thế thôi, Sang thu cũng mới là thơ tạo vật. Hữu Thỉnh chưa đem đến cái gì mới hơn so với các tiếng thơ thuộc thi đề thu của những người đi trước. Đồng thời, cũng chưa phổ được vào đó hơi thở của thời mình, tinh thần của thế hệ mình.

Hai lớp nghĩa sau mới thật là thứ hương ổi riêng mà Hữu Thỉnh phả vào trong thi đề này. Tất nhiên, những hàm ý kín đáo kia toát lên trước hết từ nghĩa bóng đây đó của các thi ảnh. Ai cũng có thể thấy những ẩn ý nào đó thấp thoáng sau lối viết ẩn dụ trong các thi ảnh rải rác ngay từ đầu sương chùng chình, sông dềnh dàng, chim vội vã v.v… Nhưng nếu chỉ có thế thì ý nghĩa của chúng còn lờ mờ, chưa xa gì hơn một lối nói sinh động về sự vật, chưa đủ tạo hẳn ra một lớp nghĩa khác cho văn bản. Lớp nghĩa kia chỉ thực sự bật hầm khi hình ảnh cuối cùng đột hiện : Sấm cũng bớt bất ngờ / Trên hàng cây đứng tuổi. Chữ “đứng tuổi” bật sáng, phát động một lớp nghĩa khác cho bài thơ. Nó đâu chỉ nói cây, mà còn nói người. Nhân hoá cây là bề nổi, giấu người vào cây là bề sâu. Tự dưng, chúng ta thấy từ mạch hình ảnh thiên nhiên rải khắp bài thơ bỗng bừng dậy một lớp nghĩa khác gắn với con người và cuộc đời.

Có thể thấy rõ hơn nữa, khi nhìn trong tương quan khác.

Cảm thụ nghệ thuật, căn cứ quan trọng nhất là văn bản. Nhưng, chỉ bó hẹp trong văn bản không thôi, dễ làm nghèo nghệ thuật. Trong thực tế, thông điệp nghệ thuật của một tác phẩm không chỉ cất lên từ những gì thuộc nội bộ văn bản, mà còn vang lên cả từ tương quan giữa văn bản với những thứ bên ngoài vốn thiết thân với nó nữa. Ví như hoàn cảnh sáng tác . Tác giả cho biết thời điểm viết Sang thu là mùa thu 1977, ở nhiều lần in cũng ghi rõ như vậy. Điều này ngẫu nhiên chăng ? vô nghĩa chăng ? Không hẳn. Bấy giờ, cuộc sống vừa qua khỏi thời chiến đầy khốc liệt đang chuyển sang thời bình êm ả. Nghĩa là, đời sống cũng vừa sang thu. Đây là lúc trong lòng đời có bao trăn trở xao động. Nhìn bài thơ trong tương quan với thời điểm ấy, tự dưng chúng ta thấy các hình ảnh đó đây nhấp nháy lên những nghĩa khác : nghĩa thế sự. Đặc biệt từ khổ hai trở đi. Nếu ở khổ đầu, thơ còn nặng về tạo vật, thì từ khổ thứ hai đã bảng lảng cái bóng đời. Hèn chi, cùng diễn tả nhịp vận động chầm chậm, nhưng Sương chùng chình qua ngõ thật khác với Sông được lúc dềnh dàng. “Chùng chình” còn dễ ưa, “dềnh dàng” đã khó ưa. “Dềnh dàng” đâu chỉ nói về nét riêng của dòng chảy đã chậm hơn khi con sông vào thu. Dường như nó còn ngầm tỏ thái độ về cái điệu sống của những đối tượng nào đó hồi mùa hạ hăng hái xông pha là thế, giờ vào thu đã tự cho phép mình được dềnh dàng, được xả hơi chăng ? Chả phải vô cớ mà thi sĩ đem chữ “được lúc” gắn với cái thói “dềnh dàng” ấy của sông. Cũng như thế, Chim bắt đầu vội vã có phải chỉ đơn thuần nói về các loài chim lúc sang thu đang gấp gáp bay đi lánh rét không thôi ? Xem ra, nó còn muốn nói tới đối tượng sống tuỳ thời, xu thời nào đó nữa ấy chứ ? Đến khổ thứ ba, cái lớp nghĩa thế sự bảng lảng này còn tỏ hơn nữa. Tôi ngờ rằng đây là khổ thơ mà anh chàng thi sĩ cũng vừa trải qua một mùa hè bỏng rát đang kín đáo nói về thế hệ mình và chính mình ? Vâng, tuy đã sang thu, nhưng lòng vẫn còn bao nhiêu nắng. Đồng thời, bao tủi sầu yếu đuối, bao cơn mưa thở than nay cũng đã vơi dần. Bước sang thu, hàng cây trẻ hồi nào giờ đã đứng tuổi. Sự từng trải đã giúp cây trưởng thành, đủ vững trãi đối đầu với mọi ba động, mọi cú giáng của cuộc đời : Sấm cũng bớt bất ngờ /Trên hàng cây đứng tuổi. Không có chữ “đứng tuổi” cứ như lạc hệ thống này, mọi suy cảm trên sẽ thành võ đoán, lớp nghĩa thời sự vốn khuất mình không thể phát sáng được. Không có nó, ý ngầm của kẻ viết vừa khó phát lộ vừa khó gói ghém.

Một cái kết quá là khôn ngoan.

Thì ra, mùa thu đâu chỉ có chuyện tiêu sơ. Mùa thu còn là chuyện trưởng thành. Mùa thu đâu chỉ có biến thiên. Mùa thu còn tàng ẩn cả những quân bình tự tại nữa. Chẳng phải đó là những nét độc đáo mà Hữu Thỉnh đã đem đến cho một thi đề tưởng đã quá ư quen thuộc hay sao ? Từ thơ tạo vật, Sang thu đã lẳng lặng thành thơ cuộc đời !

Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ “Sang Thu” Của Hữu Tỉnh

Bài văn mẫu Nghị luận xã hội về bài thơ “Sang Thu” của Hữu Tỉnh

Bao đời nay, mùa thu luôn là bạn của thi nhân và là nguồn cảm hứng dồi dào cho thơ ca. Ta đã bắt gặp một mùa thu trong trẻo của làng quê Bắc Bộ trong ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến; một mùa thu lạnh giá và u sầu ở phương Bắc trong Tu hứng của Đỗ Phủ; một mùa thu trẻ trung, đẹp và buồn đến nao lòng trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu; hay một mùa thu mơ màng trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư. Ấy vậy mà, đứng trước mùa thu chớm sang trong bài Sang thu của Hữu Tỉnh, ta lại có thêm một khám phá mới mẻ về mùa thu nước mình. Đó là bức tranh giao mùa thật tinh tế, sâu lắng và gợi cảm như thâu tóm hết linh hồn của mùa thu những ngày đầu vào trong câu chữ.

Khoảnh khắc giao mùa giữa hạ và thu là khoảnh khắc lạ lùng và xốn xang của tự nhiên. Nó gieo vào lòng người những xôn xao, rung động và cả những suy tư sâu lắng. Hữu Tỉnh cũng nhè nhẹ góp “một chút này” cho đề tài giao mùa. Nhiều nhà thơ khác cảm nhận mùa thu qua sắc vàng của hoa cúc, của lá ngô đồng hay qua tiếng lá khô xào xạc:

Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi… vàng rơi… Tu mênh mông (Bích Khê) Hay: Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô (Tiếng thu, Lưu Trọng Lư)

Xuân Diệu cảm nhận mùa thu đến từ những rung động nội tại:

Những luồng run rẩy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh (Đây mùa thu tới, Xuân Diệu) Nhà thơ Hữu Tỉnh lại đón nhận mùa thu bắt đầu với tín hiệu tinh tế của mùi hương: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se

Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

(Đất nước, Nguyễn Đình Ti)

Nguyễn Đình Ti khắc khoải với một mùa thu trong quá khứ, với “hương cốm mới” thân thuộc đất Hà Tành. Còn Hữu Tỉnh đón nhận mùa thu hiện tại đang ở ngay quanh mình với tất cả sự thư thái và tĩnh lặng của tâm hồn.

Tâm hồn nhà thơ dường như đã trở thành một bức lụa tinh khiết dành riêng cho mùa thu tự họa bức chân dung của mình:

Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

Hữu Tỉnh huy động sự cảm nhận của nhiều giác quan trước bức tranh giao mùa. Từ sự phát hiện của khứu giác, nhà thơ tiếp tục hình dung dáng hình, chuyển động của mùa thu bằng thị giác. Sương thu như có hồn, có hình hài và có cả tâm trạng. “Chùng chình qua ngõ” là phong cách chuyển động “rất thu”. Câu thơ miêu tả sương thu là câu thơ đắt giá trong đoạn này. Nhẹ nhàng, điềm đạm, ung dung và chậm rãi, là trạng thái của vạn vật khi bước vào mùa thu. Những chuyển biến khác lạ của thiên nhiên đều khiến Hữu Tỉnh chú ý và thích thú. Không gian có sự hoà hợp giữa hương ổi dịu dàng, gió thu se lạnh và sương thu mơ màng tạo nên một ấn tượng đặc biệt mà ta khó lòng quên được. Vạn vật trong thời khắc chuyển mùa vì thế càng trở nên duyên dáng, nhịp nhàng. Cảm quan tinh tế của nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp rất riêng, rất duyên, để rồi xao xuyến “Hình như thu đã về”. Có thể nói, khoảnh khắc giao mùa, biểu cảm giao mùa thể hiện tập trung nhất trong khổ hai của bài thơ:

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Khổ hai mở ra không gian rộng rãi, mênh mang của sông thu, trời thu, mây thu. Ta đã cảm nhận cái “chùng chình” của sương thu, thì giờ đây, trạng thái “dềnh dàng”, hiền hòa của dòng sông lại khiến ta ấn tượng hơn với nhịp điệu mùa độc đáo. Đều là con sông quê hương nhưng nó êm đềm trong mùa xuân, vội vã trong mùa hạ, im lìm giữa mùa đông và “dềnh dàng” chậm rãi trong mùa thu. Hình ảnh con sông đã đi vào thơ ca bao đời nay như một biểu tượng của thiên nhiên, của quê hương đất nước. Trong tâm hồn Hữu Tỉnh, con sông ấy còn gắn với phút giao mùa, gắn với phong thái điềm đạm, ung dung, thư thái của mùa thu xứ Bắc.

Bước đi của khoảnh khắc đất trời giao mùa được nhà thơ thâu tóm trong trạng thái động của tạo vật: Cánh chim vội vã hơn bởi bắt đầu lo cái rét đang đến gần, đám mây mùa hạ đã “vắt nửa mình sang thu”. Đây là những hình ảnh đáng yêu, ngộ nghĩnh, sống động và cũng thơ mộng nhất của bức tranh thiên nhiên. Sông dưới mặt đất, chim ở trên trời; sông “dềnh dàng” chậm rãi, chim “vội vã” lo lắng… Hình ảnh thơ đăng đối hài hòa, cân xứng, gợi những chuyển động tinh tế trong khắp không gian. Đám mây và cánh chim là những thi liệu quen thuộc trong thơ ca. Ta đã biết đến cánh chim cô đơn chở trên đôi cánh cả bầu trời chiều “chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” trong thơ Huy Cận; cánh chim mỏi mệt, vô định: “Ngàn mai Những gió cuốn chim bay mỏi” trong thơ Bà Huyện Tanh Quan. Ta cũng bắt gặp chòm mây cô đơn giữa trời: “Cô vân mạn mạn độ thiên không” trong thơ Hồ Chí Minh, hay những đám mây trùng trùng điệp điệp kì vĩ: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” trong thơ Huy Cận. Nhưng đến với Sang thu của Hữu Tỉnh, tạo vật sao mà trong trẻo, thư thái và êm đềm đến thế. Những âu lo cuộc đời dường như đều dừng lại ở ngưỡng cửa ngoài kia, ở đây chỉ còn lại câu chuyện của thiên nhiên với hành trình chuyển mình từ hạ sang thu! Chi tiết đám mây “vắt nửa mình sang thu” có thể coi là chi tiết đắt giá thể hiện thật sinh động trạng thái và chuyển động giao mùa.

Nắng của mùa hạ đấy! Mưa của mùa hạ đấy! Nhưng chúng đều không còn ở những giây phút mạnh mẽ nhất, khỏe khoắn nhất, dồi dào nhất của hạ nữa mà đang chuyển biến từ bên trong để bước sang mùa thu. Cách nói “vẫn còn” hay “đã vơi dần” vừa khẳng định mùa hạ chưa rời bước hoàn toàn khỏi không gian, vừa cho thấy sự chuyển giao thời gian của tạo hóa. Có lẽ nhận ra bước đi thời gian cũng là lúc nhà thơ có những suy tư, chiêm nghiệm đến cuộc đời mình và quy luật nói chung của nhân gian. Những hình ảnh biểu tượng nắng, mưa, sấm, hàng cây đứng tuổi, cùng nghệ thuật nhân hóa giúp Hữu Tỉnh bộc bạch, trải nghiệm một cách hình ảnh và gợi cảm. Sấm biểu tượng cho những thăng trầm, biến chuyển lớn, đột ngột trong đời. Hàng cây đứng tuổi gợi ra những con người đã bước vào độ tuổi chín chắn, từng trải, giàu kinh nghiệm. Khi đã đi qua nhiều giông bão và vui buồn, con người sẽ bớt đi những bất ngờ, thảng thốt, những cuống quýt hay sự thiếu bình tĩnh của tuổi trẻ để đón nhận tất cả với một thái độ điềm đạm hơn, bình thản hơn. Quy luật tưởng chừng giản đơn ấy lại chỉ có thể nhận ra sau nhiều tháng năm sống trong sự vô thường của đời người và chỉ có thể tự mình nhận ra mà không thể vay mượn sự trải nghiệm của người khác. Những câu thơ ngắn gọn mà dồn nén chiều dài đằng đẵng của bao năm tháng vất vả, nhọc nhằn.

Tời khắc “sang thu” trong bài thơ của Hữu Tỉnh mang một vẻ đẹp tinh tế, trong sáng và dịu nhẹ. Đó là mùa thu của những rung động hồn nhiên, giản dị trong tâm hồn một nhà thơ đã “đứng tuổi”. Và cũng bởi vậy, bài thơ không chỉ đẹp bởi những hình ảnh thơ xinh xắn, đáng yêu mà còn bởi một tâm hồn nhạy cảm, giàu chất suy tư và rất đỗi nhân hậu với cuộc đời. Cảm ơn nhà thơ Hữu Tỉnh đã góp thêm một bức tranh thu bằng ngôn từ thân thuộc, gần gũi và có chiều sâu tư tưởng và cuộc triển lãm tranh thu Việt Nam.

Nghị Luận Văn Học: Vẻ Đẹp Tâm Hồn Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu

Đề bài: Nghị luận văn học: Vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Khuyến qua bài thơ Câu cá mùa thu để thấy bức tranh mùa thu và bức tranh tâm cảnh của nhà văn Nguyễn Khuyến.

I. Dàn ý chi tiết

1.

Mở bài

Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

+ Nguyễn Khuyến là nhà thơ làng cảnh Việt Nam,

+ Một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Nguyễn Khuyến có thể kể đến là “Câu cá mùa thu”.

2. Thân bài

– Bài thơ “Câu cá mùa thu” không chỉ phác họa đầy sinh động bức tranh mùa thu ở một vùng quê Bắc Bộ mà qua bức tranh đó nhà thơ còn gửi gắm những tâm sự thầm kín, những tình cảm riêng tư

– Cảnh thu trong “câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyễn thật đặc biệt, thi cảnh vừa trong vừa tình.

– Trong hai câu thực, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã tập trung khắc họa những dấu hiệu đặc trưng của mùa thu, đó là hình ảnh lá vàng, sóng biếc, là những cơn gió thu nhẹ nhưng vô tình.

– Bức tranh mùa thu không còn tĩnh lặng tuyệt đối mà đã có những vận động cụ thể, thế nhưng nhịp vận động ấy lại gợi ra nỗi buồn của sự đơn độc, chia phôi,

– Không gian trong Câu cá mùa thu là không gian tĩnh lặng, vắng người, vắng cả những âm thanh thường nhật của cuộc sống

– hai câu thơ cuối Nguyễn Khuyến đã trực tiếp bộc lộ những tâm sự thông qua việc miêu tả chân dung con người trong không gian mùa thu.

– Bài thơ “Câu cá mùa thu” không chỉ đơn thuần kể lại câu chuyện câu cá của nhà thơ, mượn hành động câu cá, nhà thơ đã thể hiện những cảm nhận rất đỗi tinh tế về những khoảnh khắc buồn nhưng quý giá của ngày thu.

3. Kết bài

Thông qua bài thơ Câu cá mùa thu, ta thấy được hân dung đẹp đẽ trong tâm hồn của Nguyễn Khuyến, nhà thơ không chỉ có tấm lòng yêu thương cuộc sống, tinh tế trong rung động và phát hiện cái đẹp mà còn là con người có lối sống thanh sạch và luôn trăn trở về trách nhiệm với cuộc đời.

II. Bài tham khảo

Nguyễn Khuyến là nhà thơ làng cảnh Việt Nam, khung cảnh làng quê Việt Nam mộc mạc mà gần gũi thân tình đã trở thành nguồn thi hứng bất tận cho cảm hứng sáng tác của người thi nhân. Nguyễn Khuyến viết về thiên nhiên bằng tấm lòng yêu thương, gắn bó sâu sắc cùng ngòi bút ấm áp giản dị đan xen cùng những tâm sự, quan niệm đã làm nổi bật lên cái “thần”, cái nét rất đặc trưng cho thơ Nguyễn Khuyến. Một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Nguyễn Khuyến có thể kể đến là “Câu cá mùa thu”.

Bài thơ “Câu cá mùa thu” không chỉ phác họa đầy sinh động bức tranh mùa thu ở một vùng quê Bắc Bộ mà qua bức tranh đó nhà thơ còn gửi gắm những tâm sự thầm kín, những tình cảm riêng tư.

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

Cảnh thu trong “câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyễn thật đặc biệt, thi cảnh vừa trong vừa tình. Cảnh thu đẹp đẽ nhưng cũng thật tĩnh lặng và đượm buồn với những hình ảnh vừa quen vừa lạ “ao thu”, “thuyền câu”. Quen vì đó đều là những hình ảnh quen thuộc gắn liền với mỗi vùng quê Việt Nam, lạ bởi cảm xúc bâng khuâng, xuyến xao mà khung cảnh mùa thu ấy mang đến trong cảm nhận của người đọc.

Khung cảnh mùa thu dường như trở nên rộng lớn, tĩnh lặng và đơn độc hơn trước cách miêu tả “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Trong hai câu thực, nhà thơ Nguyễn Khuyến đã tập trung khắc họa những dấu hiệu đặc trưng của mùa thu, đó là hình ảnh lá vàng, sóng biếc, là những cơn gió thu nhẹ nhưng vô tình. Bức tranh mùa thu không còn tĩnh lặng tuyệt đối mà đã có những vận động cụ thể, thế nhưng nhịp vận động ấy lại gợi ra nỗi buồn của sự đơn độc, chia phôi:

“Sóng biếc theo làn hơi gợi tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Không gian trong Câu cá mùa thu là không gian tĩnh lặng, vắng người, vắng cả những âm thanh thường nhật của cuộc sống:

“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

Không chỉ hướng đến miêu tả không gian, cảnh sắc mùa thu, đến hai câu thơ cuối Nguyễn Khuyến đã trực tiếp bộc lộ những tâm sự thông qua việc miêu tả chân dung con người trong không gian mùa thu ấy:

“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

“Cá đâu đớp động” ở đâu không phải hư từ phủ định mà là một đại từ phiếm chỉ. Sự xuất hiện của âm thanh duy nhất trong bài thơ không xua đi được cái tĩnh lặng, tịch mịch của thu cảnh mà dường như càng gợi ấn tượng sâu sắc hơn về sự yên ắng, tĩnh mịch ấy. Cái tĩnh được làm bật lên bởi một từ “động” rất nhỏ, rất khẽ thôi. Lấy động nói tĩnh là thủ pháp nghệ thuật quen thuộc của thơ cổ điển được Nguyễn Khuyến sử dụng rất hiệu quả trong bài thơ này.

Bài thơ “Câu cá mùa thu” không chỉ đơn thuần kể lại câu chuyện câu cá của nhà thơ, mượn hành động câu cá, nhà thơ đã thể hiện những cảm nhận rất đỗi tinh tế về những khoảnh khắc buồn nhưng quý giá của ngày thu. Cảnh thơ buồn tẻ, tĩnh lặng hay đó cũng chính là cái tĩnh lặng trong tâm hồn của nhà thơ.Sự tĩnh lặng, nỗi lòng trong tâm hồn nhà thơ được khắc họa rõ nét thông qua tiếng động của cá đớp mồi dưới chân bèo. Cái động nhỏ đến từ ngoại cảnh lại tô nét cho tâm cảnh tĩnh lặng đến tuyệt đối. Dự tĩnh lặng ấy mang đến cho độc giả cảm nhận về nỗi cô quạnh, u uẩn nhiều tâm sự trong lòng nhà thơ.

Thông qua bài thơ Câu cá mùa thu, ta thấy được hân dung đẹp đẽ trong tâm hồn của Nguyễn Khuyến, nhà thơ không chỉ có tấm lòng yêu thương cuộc sống, tinh tế trong rung động và phát hiện cái đẹp mà còn là con người có lối sống thanh sạch và luôn trăn trở về trách nhiệm với cuộc đời.

Cảm Nhận Bài Thơ Sang Thu

Cũng như mùa xuân, mùa thu đã trở thành đề tài muôn thuở của thi ca Việt Nam. Có rất nhiều nhà thơ viết về mùa thu Việt Nam và mỗi người đều có một cảm nhận riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Với Nguyễn Khuyến mùa thu là bầu trời thu xanh ngắt, ngõ trúc quanh co… Với Xuân Diệu mùa thu là dáng liễu buồn, là màu áo mơ phai… Với Lưu Trọng Lư mùa thu là “Con nai vàng ngơ ngác/đạp trên lá vàng khô”. Và Hữu Thỉnh, một nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ đã góp vào tuyển tập những bài thơ thu Việt Nam một ấn tượng mới mẻ về mùa thu qua bài thơ “Sang thu”. Bài thơ đã đem lại cho người đọc cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng trước sự biến chuyển nhẹ nhàng của đất trời lúc giao mùa hạ – thu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ qua sự cảm nhận tinh tế của tác giả.

Bài thơ chỉ có 12 câu thơ năm chữ nhưng đã miêu tả một cách tinh tế sự biến chuyển nhẹ nhàng, giao cảm của đất trời lúc giao mùa hạ thu. Nếu như trong thơ của Xuân Diệu, tín hiệu bắt đầu là màu sắc “mơ phai” của lá vàng:

“Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

Thì tín hiệu bắt đầu mùa thu trong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh lại là hương ổi chín trong làn gió se se lạnh:

Sự biến đổi của đất trời lúc sang thu được nhà thơ phát hiện ra nhờ tín hiệu của sự chuyển mùa là làn gió se nhè nhẹ mang theo hương ổi chín lan vào không gian, một mùi hương đặc biệt của mùa thu ở nông thôn Việt Nam. Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc một cảm giác bất ngờ ngay dòng thơ đầu tiên. “Bỗng” là bất chợt có pha chút ngỡ ngàng. Một mùi hương vốn dĩ quen thuộc mà có lúc nào đó bị bỏ quên đã bắt đầu trở về khi chớm sang thu để người đọc có cảm giác tưởng lạ mà quen. Hương vị thân thuộc của làng quê.

Từ “phả” có nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra thành luồng, nhà thơ không tả mà chỉ gợi cho người đọc sự liên tưởng về màu vàng và hương thơm lừng tỏa ra từ những trái ổi chín nơi vườn quê Bắc Bộ. Làn gió se, nhẹ, khô và hơi lạnh của mùa thu càng làm cho hương ổi thêm nồng nàn. Mùi hương ổi chín vốn quen thuộc với người Việt nam nhưng lại xa lạ với thơ ca đã được tác giả đưa vào thơ hết sức tự nhiên. Và cũng từ đây một loạt hình ảnh quen mà lạ đã xuất hiện trong bài thơ để tạo nên một bức tranh mùa thu đẹp đẽ, trong sáng kì lạ. Sự kết hợp hài hòa giữa “động” và “tĩnh”, “mạnh” và “nhẹ” tạo cho câu thơ nhiều cung bậc như cảm xúc của nhà thơ lúc giao mùa.

Sau làn gió se lạnh mang theo hương ổi chín là làn sương mỏng giăng mắc, nhẹ nhàng, chuyển động chầm chậm nơi đường thôn ngõ xóm

“Sương chùng chình qua ngõ

Hai chữ “chùng chình” đã diễn tả rất nên thơ bước đi chầm chậm khi trở về của mùa thu. Và rõ ràng sự có mặt của hương ổi chín và làn sương mỏng đã khiến tác giả ngỡ ngàng, bâng khuâng khi nhận ra mùa thu đã về. Nếu như từ “bỗng” bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên của tác giả khi mùa thu về thì từ “hình như” lại thể hiện sự phỏng đoán một cách mơ hồ của tác giả. Và để cảm nhận được bức tranh đẹp đẽ đó, tác giả đã huy động tất cả các giác quan và cả sự rung động tinh tế của mình.

“Sông được lúc dềnh dàng

Nét độc đáo của bài thơ sự chuyển đổi tầm nhìn từ trong vườn ra ngoài ngõ rồi mở rộng ra không gian bao la bên ngoài với sông với bầu trời bao la và khép lại sự nghiền ngẫm giá trị sống trong cõi đời. Tất cả các sự vật được tác giả lựa chọn để miêu tả cảnh đất trời sang thu đều ở trạng thái ngập ngừng. Dòng sông dường như cố ý trôi một cách chậm chạp, thanh thản, nhẹ nhàng gợi lên vẻ đẹp êm dịu của bức tranh mùa thu. Những cánh chim đã bắt đầu vội vã bởi vì mùa thu đã về, nó phải gấp gáp làm tổ, tha mồi chuẩn bị cho mùa đông rét mướt hoặc bay về phương Nam tránh rét. Hai tốc độ trái chiều nhau giữa chậm và nhanh của hai hình ảnh trên là quy luật tự nhiên không đồng đều ở thời điểm giao thoa của muôn loài, muôn vật những đồng thời cũng diễn tả tâm trạng con người trước đổi thay của cuộc sống.

Nét chấm phá độc đáo trong bức tranh thơ gợi nhiều suy tưởng cho người đọc có lẽ ở hai câu thơ sau:

Mùa hạ, mùa thu là hai đầu bến và đám mây là nhịp cầu ô thước vắt qua. Nhịp cầu duyên dáng nối hai bờ thời gian. Đây là một hình ảnh thơ đầy sáng tạo và thú vị của Hữu Thỉnh. Nhà thơ đã lấy không gian để miêu tả thời gian. Do đó câu thơ diễn tả cảm giác lúc giao mùa tinh tế, sống động hơn và hình ảnh hơn. Ẩn sau hình ảnh thơ ấy, nếu tinh tế người đọc sẽ cảm nhận một thoáng bâng khuâng trong tâm trạng nhà thơ. Âm điệu hai câu thơ có phần trầm lắng trong cảm xúc nhè nhẹ mà sâu lắng. Bài thơ viết năm 1977, hai năm sau chiến tranh chống Mỹ kết thúc. Là một người lính trở về cuộc sống đời thường, cảm nhận giây phút chuyển mùa ấy, có thể bất giác Hữu Thỉnh nghĩ về những đồng đội của mình đã an nghỉ mãi mãi giữa tuổi thanh xuân mang theo cả những ước mơ khát vọng cháy bỏng “đám mây mùa hạ” cống hiến cho quê hương, Tổ quốc. Có chút gì đó nuối tiếc, có chút gì đó vấn vương, hồi tưởng như đám mây hạ nhè nhẹ trôi qua bầu trời rồi ngập ngừng nên câu thơ “vắt nửa mình sang thu” không chỉ miêu tả hình ảnh thiên nhiên vào thu mà còn lắng đọng lòng người nỗi ưu tư, trăn trở.

Nắng, mưa, sấm, chớp là những hiện tượng thiên nhiên cũng được nhà thơ nhắc đến trong thời điểm giao mùa này.

Trên hàng cây đứng tuổi.”

Mùa thu đến nhưng mùa hạ chưa đi nên vẫn còn bao nhiêu nắng. Cái nắng cuối hạ vẫn còn nồng, còn sáng nhưng cũng đã bắt đầu nhạt dần. Và trong thời điểm giao mùa này, những cơn mưa rào mùa hạ thường hay ào ạt, bất ngờ cũng vơi dần đi. Theo đó, những tiếng sấm bất ngờ thường gắn với cơn mưa mùa hạ cũng ít đi và nó không còn làm cho những hàng cây xanh cổ thụ giật mình nữa. Những thi liệu như “nắng, sấm, mưa” là những hình ảnh đặc trưng của mùa hạ nhưng độ gay gắt của mùa hạ đang chuyển hóa thành dịu êm. Đây là dấu hiệu của mùa thu và sự phân hóa giữa hai bờ ranh giới hạ – thu cũng thật là mong manh. Người ta chỉ có thể xác định được bằng sự nhạy cảm của giác quan. Làm sao có thể đong đếm đầy vơi, nhiều ít, mau thưa? Người ta chỉ có thể ước lượng trong hồn mình mà thôi.

Âm điệu khổ thơ trở nên trầm lắng suy tư. Có “đầy” thì có “vơi”, có “còn” thì có “hết”, có “nắng” thì có “mưa”. Đó là quy luật của tự nhiên, của cuộc đời. Chính vì thế con người phải tiếp nhận một cách an nhiên. Trong hai câu cuối của bài thơ, hình ảnh hàng cây đứng tuổi giống như một chứng nhân đang quan sát và lắng nghe sự chuyển mình của vạn vật xung quanh nó và hình ảnh này cũng là những suy ngẫm mà tác giả muốn gởi gắm trong bài thơ. Tiếng sấm chính là những vang động bất thường của ngoại cảnh, hàng cây đứng tuổi là hình ảnh những người đã từng trải. Khi con người đã từng trải, đã đi qua mùa going bão thì cũng vững vàng hơn trước những tác động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. Có đặt hai câu thơ trong hoàn cảnh đất nước ta những năm đầy khó khăn thử thách thì mới thấy hết được ý nghĩa của hai câu kết. Nó khẳng định bản lĩnh cứng cỏi sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thử thách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.

Tóm lại, bằng các hình ảnh giàu sức biểu cảm và sự cảm nhận tinh tế, bài thơ “Sang thu” đã miêu tả thành công sự biến chuyển nhẹ nhàng mà rõ rệt của đất trời lúc cuối hạ sang đầu thu và qua hình ảnh thiên nhiên nhà thơ đã gửi gắm những suy ngẫm của mình về cuộc đời. Bài thơ “Sang thu” đã tôn thêm vẻ đẹp cho đất nước quê hương trong tiết trời thu và khiến cho ta thêm yêu quý đất trời quê hương mình.