Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Truyện Cười Dân Gian Việt Nam Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Truyện Cười Trạng Quỳnh Dân Gian Việt Nam

Cùng Xem Qua Những Truyện Cười Dân Gian Thú Vị Không Thể Bỏ Lỡ

Truyện Cười Trong Tiếng Tiếng Anh

Tuyển Tập Truyện Cười Fpt.

Chia Sẻ Kiến Thức, Kết Nối Đam Mê

Full Trọn Bộ Truyện Cười Vôva Hay Nhất

Truyện Cười Dân Gian – Trạng Quỳnh

Tác giả : tổng hợp

Nghe và Cảm :

Truyện cười dân gian Trạng Quỳnh là một bộ truyện đã gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ thiếu nhi của Việt Nam được nhà xuất bản Đồng Nai phát hành giữa tháng 6 năm 2003.

Khi còn nhỏ, cậu Trạng Quỳnh có ba chỏm tóc, trang phục gồm một chiếc áo gồm hai túi và một cái quần có dây, mang dép. Lớn lên, cậu mang trang phục của một vị quan trạng, đội khăn đóng, ngoại hình trông chững chạc hơn

Trạng Quỳnh là một người tài giỏi, có tài trí vượt bậc, được mọi người kính phục. Nhưng cậu cũng hay nghịch ngợm, hay ở bẩn. Nhà nghèo, cha làm hương chức. Cốt truyện lấy bối cảnh vào thời chúa Nguyễn, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, nhưng những sự kiện xảy ra trong truyện không trùng lặp với những sự kiện xảy ra trên thực tế. Tác phẩm này ban đầu kể lại về cuộc đời của Trạng Quỳnh – một người có tính cách trào phúng dân gian Việt Nam.

Trong truyện này, Trạng Quỳnh vốn thông minh từ trong bụng mẹ. Trước khi cậu sinh ra, một lần bà mẹ ra ao giặt đồ, bỗng nhìn thấy một chú vịt, bà mẹ liền ngâm câu thơ, và lập tức có tiếng đối đáp lại trong bụng vịt. Bà cho rằng đó là điềm lạ, nghĩ rằng bà sẽ sinh ra một quý tử, hiểu biết hơn người, sẽ là người có tiếng tăm. Thời gian trôi qua, bà hạ sinh một bé trai, tư dung thông minh lạ thường, đặt tên là Quỳnh

Từ nhỏ, Quỳnh đã tỏ ra thông minh, học đâu nhớ đấy. Cậu ước mơ sau này sẽ làm ông trạng. Mặt khác, cậu cũng khá quậy, thường ở bẩn. Cậu gặp chuyện gì cũng có thể giải quyết, đối đáp rất giỏi. Ngay cả thầy và chúng bạn cũng khâm phục về tài trí của cậu Khi cậu trưởng thành, người ta bảo nhau rằng cậu ấy vẫn nghịch ngợm, nhưng điều đặc biệt là cậu không nghịch bằng hành động mà bằng trí thức của mình.

Tiếng cười của Trạng Quỳnh về căn bản là tiếng cười của thị dân Việt Nam hồi thế kỷ 18. Hình thái ý thức Trạng Quỳnh là hình thái ý thức có nhiều nhân tố thị dân đang bất mãn với hiện tại, đang khao khát một tương lai mới mẻ. Không có hình thái ý thức thị dân ấy, thì ở dưới chế độ phong kiến, không thể có thái độ chống giai cấp phong kiến có hệ thống và tương đối triệt để như thái độ Trạng Quỳnh

Tóm lại, truyện Trạng Quỳnh là một tác phẩm văn học có một nội dung chống giai cấp phong kiến thống trị, phong phú, mạnh mẽ, và một nghệ thuật trào phúng tinh vi, sắc bén. Đó là một tác phẩm văn học phê bình hiện thực có giá trị của nền văn học trào phúng Việt Nam

Trạng Quỳnh, một nhân vật đã gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ…!

Truyện Cười Tình Yêu Ngắn Hay Nhất

Truyện Cười Văn Phòng, Truyện Cười Công Sở Hay

Vài Chuyện Cười Cuối Năm

10 Chuyện Cười Hay Nhất Ngày Tết

Văn Học Dân Gian Thời Covid

Đề Tài Nghệ Thuật Truyện Cười Dân Gian Việt Nam

Đọc Truyện Đồn Đại Hại Chết Người Ta

100+ Từ Điển Tiếng Nghệ An – Vừa Buồn Cười Vừa Thâm Thúy

Cuốn Sách Những Câu Chuyện Vui Về Nghề Giáo

Tổng Hợp Truyện Cười Công Nghệ Hay

Câu Chuyện Ý Nghĩa Về Sự Lắng Nghe Và Lời Khuyên Dành Cho Bạn

Mở đầu

1.Mục đích, ý nghĩa chọn đề tài

Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trình lao động sản xuất và đời sống nhân dân. Khi tư duy con người tương đối phát triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười. Nó không chỉ đem lại tiếng cười mua vui cho thiên hạ để cho họ giải tỏa những mệt nhọc, vất vả sau một ngày lao động tích cực mà truyện cười còn có tác dụng phê phán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người. Có khi nó được xem như là một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại những bất công của tầng lớp trên. Mà tiếng cười ấy, nó phản ánh sự thông minh, tư duy sâu sắc của người Việt nói chung và nhưng con người có trí tuệ, khả năng giao tiếp nhanh nhạy nói riêng. Ở đó đã có sự kết tinh của một quá trình chọn lọc, khái quát và nó xứng đáng được xem là một tác phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn .

Đề tài “nghệ thuật truyện cười dân gian Việt Nam” còn khá mới mẻ, hấp dẫn. Cho nên tôi chọn đề tài này với mong muốn đi sâu khai thác một số biện pháp gây cười cũng như nó sẽ giúp tôi hiểu thêm về truyện cười dân gian Việt Nam – nó là một yếu tố quan trọng trong thi pháp truyện cười .Đề tài này với hi vọng sẽ góp phần khơi gợi sự chú ý của độc giả, nhằm tăng số lượng cũng như chất lượng cho người đọc về thể loại truyện cười.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài nghiên cứu truyện cười đã có một số các công trình của các nhà nghiên cứu như sau:

Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên – Võ Quang Nhơn(2006), Văn học dân gian Việt Nam(tái bản), Nxb Giáo dục

Hoàng Tiến Tựu (1997), Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân gian

Hoàng Tiến Tựu (1997), Bình giảng truyện dân gian

Vũ NGọc Khánh ( 1 ), Bình giảng thơ ca – truyện dân gian, Nxb Giáo dục

Nguyễn Xuân Kính( ), Tổng tập văn học dân gian người Việt,

Hoàng Bắc( ), Truyện cười người xưa,

Thu Trinh( ), Truyện cười xưa và nay

Nguyễn Đức Hiền(1995), 40 truyện Trạng Quỳnh, Nxb Thanh Hóa

Lữ Huy Nguyên( ), Truyện cười dân gian Việt Nam- truyện tiếu lâm và các Trạng

Chí Vĩnh(2006), Truyện Tiếu lâm Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin

Triều Nguyên(2004), Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt, Nxb Giáo dục

Còn nhiều bài phân tích, nghiên cứu của nhiều tác giả khác mà tôi chưa thể thống kê ra hết. Nó giúp cho bạn đọc hiểu biết sâu sắc và hứng thú hơn về truyện cười.

Mặc dầu đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện cười, nghệ thuật truyện cười, họ đã đưa những đánh giá, nhận xét và nhiều dẫn chứng chứng minh cho bài viết của mình nhưng nhìn một cách tổng thể thì số lượng các công trình nghiên cứu vẫn còn ít và chưa thực sự đáp ứng được hết những nhu cầu ngày càng cao của thể loại này.

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng

Với đề tài này, chúng tôi chủ yếu tập trung vào đối tượng nghệ thuật truyện cười dân gian Việt Nam.

3.2.Phạm vi

4.Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng các phương pháp như:

Phương pháp thống kê: thống kê các truyện dân gian Việt Nam ,các công trình nghiên cứu đi trước và nhiêu đánh giá, nhận xét .Trên cơ sở đó để ta có một cái nhìn khách quan, tổng thể hơn về vấn đề.

Phương pháp phân tích, tổng hợp: cùng với việc thống kê cần phải có một óc phân tích, tổng hợp một cách logic, hợp lý. Vừa tổng hợp vừa đưa ra những dẫn chứng để phân tích, mổ xẻ vấn đề.

Phương pháp thi pháp học: vận dụng các khái niệm,các phương pháp và các tri thức trong thi pháp học để làm rõ nghệ thuật truyện cười.

Phương pháp logic học: bất kì một vấn đề gì cũng cần phải sử dụng phương pháp này, dù ít dù nhiều. Bởi phương pháp logic giúp ta có một cách phân tích đúng đắn cả về trình tự sắp xếp, cách nghiên cứu khoa học và tiết kiệm được thời gian.

Phương pháp đối chiếu – so sánh: sử dụng phương pháp này để đối chiếu, so sánh sự giống và khác nhau giữa các truyện ở các vùng miền, các giai đoạn lịch sử hay là giữa truyện cười dân gian Việt Nam truyền thống và truyện cười hiện đại.

5.Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài chúng tôi kêt cấu gồm có ba chương sau:

Chương 1.Giới thiệu chung về truyện cười dân gian Việt Nam

Chương 2.Khảo sát một số biện pháp gây cười trong truyện cười dân gian Việt Nam.

Chương 3.Giá trị của tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam

6.Đóng góp của đề tài

Kế thừa và tiếp tục phát huy nhưng thành tựu của những công trình nghiên cứu nghệ thuật truyện cười đi trước, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm công sức vào việc khảo sát một số biện pháp nghệ thuật gây cười trong truyện cười dân gian Việt Nam- một trong những yếu tố quan trọng trong nghệ thật truyên cười dân gian.

Bằng các phương pháp hệ thống, phân tích- tổng hợp, so sánh- đối chiếu,phương pháp thi pháp học và phương pháp logic học, .để hệ thống hóa vấn đề nghệ thuật truyện cười dân gian Việt Nam một cách khái quát, đầy đủ nhất. Nhằm mục đích giúp bạn đọc tìm hiểu, khám phá và phân tích những phần tiếp theo .

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1.Mục đích, ý nghĩa chọn đề tài 1

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.2.Phạm vi 2

4.Phương pháp nghiên cứu 2

5.Bố cục của đề tài 3

6.Đóng góp của đề tài 3

NỘI DUNG 5

1.1. Khái niệm truyện cười 5

1.2. Một số đặc điểm về truyện cười dân gian Việt Nam 8

Chương 2. Khảo sát một số biện pháp gây cười trong truyện cười dân gian Việt Nam 10

2.1.Nhân vật 10

2.1.1. Cách đặt tên nhân vật 10

2.1.2. Lời nói đáng cười 11

2.1.3. Cử chỉ đáng cười 12

2.1.4. Tính cách đáng cười 13

2.1.5. Hoàn cảnh đáng cười 14

2.2 Kết cấu kịch tính, bất ngờ 16

2.2.1 Kết cấu “tiệm tiến” 16

2.2.2 Kết cấu “gói kín, mở nhanh” 17

2.3. Nghệ thuật chơi chữ trong truyện cười dân gian Viêt Nam 18

2.3.1 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ âm và chữ viết 18

2.3.2 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ nghĩa 25

2.3.3 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp 32

2.3.4 Chơi chữ dựa vào phương ngữ 36

2.3.5 Chơi chữ dựa vào tiếng lóng 38

2.4 Yếu tố tục trong truyện tiếu lâm Việt Nam 38

2.4.1 Nói tục là để thoát ly sự bực bội, để đối phó với trường họp bất bình trong xã hội 39

2.4.2 Nói tục là một cách gây cười để thỏa mãn sự nghịch ngợm của con người. 41

Chương 3. Giá trị của tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam 44

3.1 Mục đích của truyện cười dân gian Việt Nam 44

3.1.1 Truyện cười nhằm mục đích “mua vui” 44

3.1.2 Truyện cười nhằm mục đích đả kích, châm biếm 45

3.2 Ý nghĩa của truyện cười dân gian Việt Nam 49

3.2.1 Ý nghĩa xã hội 49

3.2.2 Ý nghĩa nhân sinh 51

Kết luận 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

2.3.2.5 Chơi chữ dựa vào sở chỉ

Sở chỉ (hoặc “cái sở chỉ”) là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định gồm những đối tượngcuj thể, được từ (có nghĩa ổn định) hay một tổ hợp lâm thời biểu thị.

+ Tạo nhiều tổ hợp cùng sở chỉ

Bên cạnh từ ngữ thường dùng, có các tổ hợp lâm thời được tạo ra để cùng chỉ một con người, một sự vật, hiện tượng. Do sự mâu thuẫn giữa chúng (các từ, các tổ hợp lâm thời này), mà ý nghĩa thẩm mĩ hình thành. Truyện cười sử dụng hình thức chơi chữ này để tạo ra tiếng cười.

Truyện Đậu phụ, “Nhà sư nọ ăn vụng thịt chó. Chú tiểu bắt gặp, bèn hỏi:

– Bạch sư cụ, cụ ăn gì đấy ạ ?

Ông sư nói dối:

– Ăn đậu phụ.

Một lát sau, có tiêng chó cắn nhau ầm ĩ ở sau chùa. Sư bảo tiểu ra xem chuyện gì. Chú tiểu ra xem, trở vào thưa:

– Bạch sư cụ, đó là đậu phụ làng cắn đậu phụ chùa đấy ạ!”

“Đậu phụ” và “chó” cùng chỉ loài khuyển cầy đang cắn nhau. Ông sư gọi thịt chó là đậu phụ, tức là đã thực hiện một sự đồng nhất (giữa hai loại thức ăn trong soong nồi), để che đậy; Chú tiểu gọi chó (đang cắn nhau) là đậu phụ, cũng là chuyện đánh đồng, nhưng thay vì cho khuất lấp đi, lại mở bung ra, sống động và “ầm ĩ” nữa.

Hay truyện Thuốc độc, “thuốc độc” và “rượu” cùng chỉ chất khiến anh đầy tớ “nằm oặt dưới đất, nồng nặc hơi men”, sau khi uông vào. Ông chủ muốn”dán nhãn” thuốc độc vào chai rượu nhằm răn đe anh đầy tớ, không ngờ anh ta ranh ma quá thể.

+ Tạo một tổ hợp có nhiều sở chỉ

“Một ông quan muốn ăn thịt ếch, sai lính không biết con tên là con thanh lịch, mới gọi là con thanh tịnh. Lính không biết con thanh tịnh là con gì gặp ai cũng hỏi.Hỏi nhằm nhà sư, nhà sư bảo: “Trên đời chỉ có kẻ tu hành là người thanh tịnh mà thôi”, Vậy là lính bắt nhà sư trói lại, mang về giam:

– Bẩm, con đã bắt được con thanh tịnh về đây rồi ạ.

Quan truyền: – Thế thì chặt đầu, lột da cho ta!

Sư nghe hoảng hồn, van nài:

– Nhờ các anh bẩm lại với quan, hôm nay tôi có ăn mấy miếng thịt cầy, không còn thanh tinh nữa.

“Thanh tịnh” trong cách hiểu của ông quan,là “ếch”; trong cách hiểu của ông sư, là “kẻ tu hành” ; còn trong cách hiểu của người lính, thì đó chính là ông sư nọ. Truyện nhằm đả kích cả quan lẫn sư.

+ Tạo một tổ hợp không phải gọi tên gọi thường dùng, để gọi tên người, và goi tên sự vật, hiện tượng.

Dùng tên sư vật này để gọi sư vật kia, khi giữa chúng có mối quan hệ này xác định tuy nếu A nhưng thực chất là nói đến B.

. “Có anh nọ đến nhà anh kia. Đến bữa, anh kia thành thực mời:

– Chẳng mấy khi lại chơi, xin mời anh dùng vơi vợ chồng tôi bữa cơm rau.

Liếc nhìn mâm cơm chỉ có rau muống và đĩa mắn, anh nọ xoa tay:

– Thôi, thôi!…Anh cứ vẻ , để khi khác.

Anh kia giận dỗi:

– Anh chê cơm nhà tôi nghèo?

-Ấy chết ! Đâu phải. Nói anh tha lỗi, thật tình là tôi ăn rồi.

Đúng lúc đó, vợ anh kia bưng đĩa thịt gà thơm phức lên, kèm mấy quả ớt chín đỏ, đặt vào bàn. Mắt anh nọ sáng lên:

– Ồ, ớt tươi à! Có ớt tươi thì tôi ăn vậy”.

“Bác” ở lời ú ớ của lão say, chỉ một người cùng mâm trong bữa ăn cỗ; còn trong ngữ cảnh, đối tượng tương ứng là con chó. Hàm ý đánh đồng lão say cùng hàng với con chó để phê phán.

2.3.3 Chơi chữ bằng phương tiện ngữ pháp

2.3.3.1 Chơi chữ theo cách tách, ghép từ ngữ

Tách từ ngữ làm đôi, không cho chúng hợp nhất như vốn có, hoặc ghép hai đơn vị tưởng rằng chẳng có quan hệ gì với nhau, nhưng thật ra là hai yếu tố, thành tố của một từ ngữ, để chơi chữ, là điều thường gặp. Có thể chia hình thức chơi chữ này thành hai phần: cách tách, ghép từ; và cách tách ngữ.

Hình thức tách, ghép từ ngữ này cũng được sử dụng trong truyện cười nhưng số lượng của nó chiếm tỉ lệ nhỏ.

2.3.3.2 Chơi chữ theo cách đảo trật tự, vị trí từ ngữ

Đảo trật tự, vị trí từ ngữ sẽ làm thay đổi chức năng ngữ pháp, ngữ nghĩa (của từ, ngữ, câu, đoạn, văn bản được đảo). Có hai loại cơ bản sau: đảo một bộ phận tùy chọn trong cấu trúc văn bản và đảo toàn bộ văn bản.

Cô bé đối lại: – “Quan huyện là quan huyện thằng, xử kiện lằng nhằng là thằng quan huyện.”

“Huyện thằng” là chức quan đặt ra thời Lê mạt, cho nhà giàu nộp thóc để lấy, hàng dưới tri huyện, chuyên trách việc tuần phòng. Cái thú vị của câu này là cách vần vè dân dã và lối đảo: “học trò con” (học trò bé nhỏ)đối với “con học trò” (cô bé học trò); “Quan huyện thằng” (quan huyện loại “thằng”) đối với “thằng quan huyện” (thằng cha quan huyện).

Hay truyện “Anh chàng say rượu chân nam đá chân xiêu trở về. Vợ thấy vậy ra đón vào, than thở: – Khổ quá! Đã bảo uống vừa vừa thôi kẻo say…

“Ba say chưa chai” tức là ba chai chưa say. ở đây từ ngữ đã bị đảo vị trí do anh chàng này say rượu nên nói năng không còn là trật tự lôgic thông thường nữa.

2.3.3.3. Chơi chữ theo cách chuyển từ ra ngữ, câu và rút gọn ngữ, câu

+ Chuyển từ ra ngữ, câu

. Chuyển từ đa tiết ra ngữ tự do

Truyện Chị nỡ lòng nào…, “tương truyền, Trạng Quỳnh (quê ở Hoằng Hóa), đã đùa cô bán bánh giầy, quê ở Tuyên Quang, bằng bài thơ sau:

Tuyên Quang , Hoằng Hóa cũng thì vua

Nắng cực cho nên phải mất mùa

Lại đứng bên hàng xin xỏ chị

Nỡ nào mà chị lại không cho!”

Người phê đơn không có ý ngắt giọng giữa câu, nhưng người được phê thì cứ ngắt theo cách phù hợp với mình (mẩu truyện ngắt sau “cải giá”).

Buông lửng câu: là hình thức được sử dụng vào chơi chữ, chủ yếu là buông lửng ở cuối câu, cuối vế câu nhằm thể hiện những nội dung vừa nói. Ở đây, chỗ buông lửng (kkhoong nói ra) lại là điều cần biểu đạt, là thông tin mới.

Từ, ngữ buông lửng được nhận ra nhờ ngữ cảnh, hoàn cảnh nói, và hiểu biết, kinh nghiệm của người tiếp nhận. Có hai dạng buông lửng câu để chơi chữ thường gặp: dùng hình thức buông lửng câu để tạo nghĩa ở một số vị trí thích hợp trong văn bản; và dùng hình thức buông lửng câu để tạo nghĩa ở cuối hai vế câu đối, cuối các dòng của bài thất ngôn bát cú luật Đường.

Buông lửng trong truyện cười có khác với buông lửng tronh thơ, câu đối, ở chỗ chúng luôn có “lời giải”. Lời giải này chính là yếu tố gây cười của truyện cười.

“Ngôn: Tao có thể nói hai câu với mày, câu khen thì mày nổi giận còn câu chê thì mày sẽ vui sướng. Mày tin không?

Ngữ: Thử đi!

Ngôn: Mày là một thằng hâm…

Ngữ (nổi xung): Mày nói gì?

Ngôn: Khoan đã, tao bảo mày là một thằng hâm…mộ bóng đá thứ thiệt đó.

Ngữ: Có thế chứ.

Ngôn: Không những thế, mày còn như một ông thần…

Ngữ: Thật hả?

Ngôn: Ừ, thần… kinh nặng! (nói xong chuồn vội)”.

2.3.4 Chơi chữ dựa vào phương ngữ

Phương ngữ ở đây được hiểu là những biến thể tiếng Việt ở các địa phương (vùng, miền, tỉnh…). Thường chia thành ba vùng phương ngữ lớn: vùng phương ngữ Bắc (gồm các tỉnh Bắc Bộ), vùng phương ngữ Trung (gồm các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên – Huế) và vùng phương ngữ Nam (từ Đà Nẵng trở vào). Mỗi vùng phương ngữ có những đặc điểm riêng về cách phát âm, các lớp từ vựng (có hay không tương ứng với ngôn ngữ phổ thông).

Dựa vào phương ngữ để chơi chữ, tức chủ động tạo ra sự “lệch lạc” của việc phát âm hay của lớp từ vựng thuộc một phương ngữ, trong tương ứng với ngôn ngữ phổ thông, cũng mang lại hiệu quả thú vị. Phương thức chơi chữ chủ yếu ở đây là cùng âm phương ngữ.

Phương ngữ Bắc: ví dụ trong truyện Trạng Lợn, “Trạng Lợn đi cùng hai người bạn, ngang qua một cổng làng lạ.Bạn thấy cổng ghi “thủ chư dự” (“lấy trong quẻ dự”, chữ ở Kinh Dịch), mới đọc lên. Chung Nhi nghe thế, hiểu lầm ra “thủ chư” là thủ lợn, nên bảo bạn:

-Tối nay, anh em ta được chén thủ lợn!

Hai anh bạn nghe nói cả cười. Không ngờ là sau đó ở trọ nhà ông Tiên Chỉ, gặp ngày tế xuân, làng đem biếu ông ta một cái thủ lợn, và ông sai pha thủ lợn thiết khách”. phương ngữ –

Thì ra, thời ấy, ở vùng xảy ra câu chuyện (Nghệ Tĩnh), “bệnh tình” được giới ăn chơi dùng để chỉ các bệnh hoa liễu. Và ông thầy thuốc đã gặp may cái may kiểu Trạng Lợn. “bệnh tình” (tình hình bệnh), cách dùng của ông thầy lang, là một từ thuộc ngôn ngữ phổ thông. Khi ông sư hiểu “bệnh tình” là chứng bệnh mà mình đang mắc phải (một dạng bệnh hoa liễu) tức dùng theo lối tiếng lóng.

2.4 Yếu tố tục trong truyện tiếu lâm Việt Nam

Chuyện nói tục, thiên về cía tục là chuyện chung của loài người. Người Việt Nam cũng khoái nói tục. Vấn đề tưởng chừng rất đơn giản nhưng rất khó cắt nghĩa. Có nhiều ý kiến trái ngược nhau, nên tìm hiểu để giải đáp cho thỏa đáng vấn đề này là không dễ chút nào.

2.4.1 Nói tục là để thoát ly sự bực bội, để đối phó với trường họp bất bình trong xã hội

Con người ta ở đâu cũng thế, khi gặp một việc không vừa ý, thường thốt lên những tiếng rất gay gắt, thô bạo, người ta bảo “giận quá mất khôn” là thế. Người ta gọi đó là văng tục. Tôi thường gặp những cảnh rất khó chịu như: hai người bạn đang chơi, nói chuyện với nhau rất vui vẻ, bỗng nhiên vì một lời nói trái tai, người bạn bực mình văng tục: Đ. mẹ mi! con C.! hay “làm ăn như cái đếch!”, …

Trong truyện tiếu lâm thường sử dụng những yếu tố “tục” cũng nhằm mục đích phản ứng lại những cái xã hội đương thời – xấu xa, bỉ ổi, đầy rẫy những tệ nạn, áp bức, bóc lột, … Đó là những điều, những vật, những việc thầm kín mà người ta thường che dấu, nhất là sinh thực khí của nam và nữ cùng là việc nam nữ phối hợp. Điều mà ta cần lưu ý là: chính vì ở nước ta lễ giáo phong kiến rất kị các yếu tố “tục” ấy. Lễ giáo phong kiến muốn tô vẽ cho các nhân vật phong kiến nét mặt đạo mạo, trang nhã. Nhân dân có ý thức về sự giả tạo ấy, cho nên trong khi cười – bản thân cái cười đã phá tan cái không khí trang nghiêm đạo mạo ấy rồi – lại còn phá thêm vào việc đáng cười yếu tố “tục”. Yếu tố “tục” ấy có tính chất phản phong, dầu là nó được ghép vào sự việc gì và ghép vào cho ai. Nhưng khi nó được ghép vào các công việc của các nhân vật phong kiến thì tính chất phản phong của truyện càng mạnh hơn. Chẳng hạn như trong truyện “ Đối đáp với Tú Cát”

Với yếu tố tục trong truyện cười, nhân dân ta đã ném vào bộ mặt đạo đức giả của bọn phong kiến những cái mà chúng cho là “bùn nhơ” là “bẩn thỉu”. Yếu tố tục trong truyện cười thường làm cho tính chất trào phúng được nâng lên đến độ chót của nó. Nó làm cho tiếng cười giòn giã hơn, sự chế giễu cay đọc hơn. Và nó là đặc điểm của truyện tiếu lâm. Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là nói đến yếu tố tục là nói đến cái bộ phận sinh dục mà chính cốt là đem đối chiếu song song những cái thấp hèn với cái cao thượng. Do đó, nếu đẩy sự giải thích đến chỗ cho rằng người nông dân cho sự trần truồng là bình thường, và giai cấp phong kiến hay sợ cái tục… là một cách giải thích cưỡng ép, không đúng với sự thật.

2.4.2 Nói tục là một cách gây cười để thỏa mãn sự nghịch ngợm của con người.

Theo lý thuyết của Freud – nhà khoa học người Đức, giải thích rằng: “nói tục là lợi khí của một bản tính, của dục tình; lúc nào cũng đem lại một sự khoái lạc. Con người luôn luôn muốn hành động theo bản năng, nhưng thường bị xã hội (đạo đức và lương tâm) cấm đoán. Freud bảo đó là sự “bị kiểm duyệt”. Vì sợ bị kiểm duyệt nên nó bị kìm nén để chờ có cơ hội bật ra. Nén xuống bằng cách cắn răng chịu đựng, hoặc bằng cách thổ lộ nhờ những phương tiện nghệ thuật như thơ nhạc, hoặc có khi phải chọn con đường thoát ly sự sống. Nhưng bấy nhiêu cách ấy đều không phù hợp với tất cả mọi người. Chỉ có một cách là cười! cười sẽ làm cho người ta thích thú, thỏa mãn được cái dâm bằng cách nghe (thính dâm). Hành động thì dễ gây tội lỗi, nghe thì không có việc gì xẩy ra. Chuyện tục có thể thỏa mãn cho con người thoát khỏi sự kiểm duyệt. Nhưng tât nhiên người ta cũng sẽ cấm việc nói tục. Càng ngăn cấm, nó lại càng bật ra để con người cười thoải mái. Lý thuyết này của Freud được nhiều người chấp nhận vì nó lý giải một cách phù hợp với tâm lý con người.

Yếu tố tục trong truyện tiếu lâm không những dùng để châm biếm, đả kích, phê phán các hành vi xấu xa hay phản ứng lại chế độ áp bức phong kiến mà nó còn được sử dụng vào mục đích mua vui, chỉ là để thỏa mãn sự nghịch ngợm. Sau một ngày lao động vất vả và chịu nhiều áp lực tâm sinh lý, con người cảm tìm đến với nhau để tâm sự, trò chuyện, kể cho nhau nghe những câu chuyện vui, đặc biệt là những yếu tố tục trong truyện tiếu lâm giúp người ta cười sảng khoái, giòn tan và tan biến mọi lo âu, mệt nhọc.

Họ không chỉ sử dụng truyện cười để phản ứng lại những điều bất bình trong xã hội mà truyện cười được xem như la một thú vui tích cực, một trò tiêu khiển rất thú vị như: trong Có chi lạ mà xem? , sử dụng yếu tố tục “tồng ngồng”, “cởi truồng”. Qua hai chuyện này, Ba Giai đã tạo cho mọi người một tiếng cười vui sảng khoái, và cũng dạy cho cô bán hàng một bài học quý. Còn truyện Của cô mày tròn hay méo , tượng vốn là một vật vô tri vô giác, là thứ tuiowngj trưng để thờ thần, nhưng trạng Quỳnh đã phóng bút đề lên tượng bài thơ nôm, yểm cho hết thói đỏng đảnh, đành hanh, hiếp đáp thiên hạ. Trong đó nói lên hiện tượng phi lý đáng cười, tượng mà cũng trêu ghẹo tiểu, “ngứa nghề”,…thật chẳng có gì trạng Quỳnh không dám làm, chẳng có ai khiến cho Quỳnh phải sợ. Quỳnh tha hồ phóng bút, phát ngôn đối đáp thoải mái, được sử dụng tài năng trí tuệ vào việc đả phá, chống lại những thói hư tật xấu trong cái xã hội ấy.

Ngoài mục đích đả kích, châm biếm hệ thống vương quyền và thần quyền trong chế độ phong kiến lúc bấy giờ, truyện cười còn đả kích vào thói kiêu ngạo, ngang ngược, khinh thị của các nước lớn, các nước Đế quốc thực dân đi xâm lược nước nhỏ. Nhưng chúng đã nhầm, nước ta tuy nhỏ bé về diện tích, còn nghèo về kinh tế nhưng con người Việt Nam thông minh, trí tuệ, con người bất khuất anh hùng. Đó là bọn thống trị phương Bắc như truyện Chọi trâu, Ngựa mẹ ngựa con, Cây gòn…đã làm cho độc giả dân gian phải khâm phục trước những sự thông minh, nhạy bén của Quỳnh, đối đáp đâu ra đấy, mưu mẹo rất khôn ngoan. Đồng thời, truyện còn phê phán lên án thói vô cớ gây sự của bọn phong kiến Trung Hoa. Trạng Quỳnh thay mặt nhân dân ta đấu trí với kẻ thù xâm lược – bọn phong kiến phương Bắc, bằng vũ khí “chất xám” ,giành uy thế trên trường ngoại giao, khiến chúng phải “ nể”. Nhờ đó mà nước ta cũng lần lượt chứng tỏ sức mạnh của dân tộc, sức mạnh của trí tuệ và lòng dũng cảm. Hết thi vẽ lại chọi trâu thắng (con trâu nghé khát sữa của Quỳnh đã thắng con trâu mộng đực to xác của nước Tàu), rồi đến việc đập vỡ bình lấy nước, đặc biệt trêu vào chú lái đò, cô hàng ! đã làm cho bọn sứ Tàu sững sờ, run sợ, thán phục đồng thời bẽ bàng trước trí tuệ của con người Việt Nam bé nhỏ.

3.2 Ý nghĩa của truyện cười dân gian Việt Nam

3.2.1 Ý nghĩa xã hội

Truyện cười phản ánh thực trạng của xã hội phong kiến, thực dân nửa phong kiến – xã hội đầy rẫy những cảnh bất công mà như Vũ Trọng Phụng đã nói đó là “xã hội chó đểu”. Một xã hội có phân chia giai cấp, có áp bức bóc lột, khắp nơi trong xã hội “cảnh kẻ ăn không hết, người lần không ra” và sự phân chia giàu nghèo rất rõ. Trong cái xã hội ấy, tình cảnh khốn khó của người dân lao động đến mức thê thảm. Họ bị bóc lột đến tận xương tận tủy, đến manh áo mặc cũng vá chằng chịt, cơm cũng không đủ ăn,…Còn những tầng lớp trên thì sao? Cuộc sống “ngồi mát ăn bát vàng”, tiền cho vay nặng lãi, tiền thu tô cao thuế nặng,…chúng vơ vét bao nhiêu của cải trong nhân dân đưa về chiếm đoạt làm của riêng. Cái xã hội bất công ấy đã được truyện cười phản ánh vào trong từng câu chuyện cười. Dù nó không phải là miêu tả tỉ mỉ hay kể lại mà truyện bao giờ nó cũng phản ánh hiện thực. Nhất là hiện thực xã hội giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII chế độ phong kiến càng trên dốc thẳm của sự suy vong, những bản chất sâu xa bấy lâu đuocj bộc lộ sâu sắc và rõ ràng. Những mặt xấu, mặt ác hiện nguyên hình cái “đạo đức giả” của vỏ bọc bề ngoài của tầng lớp thống trị. Hiện thực càng phức tạp, xã hội càng thối nát, mục ruỗng thì truyện cười càng phát triển cả số lượng và chất lượng . Truyện cười tố cáo, đả kích mạnh mẽ hơn (từ truyện Trạng Lợn, phát triển cao ở truyện trạng Quỳnh và kế thừa nó truyện Ba Giai, Tú Xuất và truyện Xiển Bột). Các truyện của Ba Giai, Tú Xuất và đặc biệt là truyện Xiển Bột xuất hiện và muộn hơn khi Việt Nam ở thế kỷ XIX – XX ở giai đoạn giao thời, Pháp lồng lên chế độ phong kiến nước ta ách thống trị của chúng, truyện cười tiếp tục phát triển nhằm đúng, nhằm thẳng kẻ thù mà đánh.

Truyện cười mang tính giai cấp, đứng trên lập trường của giai cấp nông dân nói riêng và người lao động nói chung, tác giả dân gian sáng tác truyện cười nhằm góp phần trong cuộc đấu tranh giai cấp, đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ thống trị có giai cấp. Tác giả dân gian sáng tác ra truyện cười, chủ yếu nhằm mục đích đả kích phê phán bọn thực dân, phong kiến và tay sai của chúng cho nên truyện cười đã thấm đẫm trong nó một tư tưởng, quan điểm lập trường của giai cấp nông dân. Họ đã ý thức tiến bộ về kẻ thù của giai cấp mình – kẻ đã gây ra đau thương cho họ. Đó là chế độ phong kiến, bọn thực dân đế quốc. Họ sáng tác truyện cười để cười nhạo, báng bổ, đập phá vào mọi ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, đánh vào những hủ tục lạc hậu của tôn giáo phong kiến không hợp thời nữa và đả kích những áp bức bóc lột của tầng lớp thống trị. Đồng thời qua đó, họ bày tỏ lòng yêu nước, căm thù giặc cao độ. Nó phản ánh quy luật phát triển tất yếu của lịch sử: chế độ phong kiến ắt phải sụp đổ để nhường cho xã hội mới tiến bộ hơn – xã hội không phân chia giai cấp, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hay còn gọi là xã hội chủ nghĩa.

3.2.2 Ý nghĩa nhân sinh

Trước hết, truyện cười có sức tố cáo mạnh mẽ tọi ác của bọn thực dân phong kiến và tay sai, bênh vực cho quyền lợi nhân dân. Như đã nói ở trên, truyện cười không chỉ có mục đích mua vui mà có mục đích đả kích, châm biếm sâu sắc những thói bịp bợm, ranh ma, những cảnh áp bức, bóc lột trong xã hội. Nó vạch trần bộ mặt thật của chế độ thực dân nửa phong kiến cùng với những lễ giáo, hủ tục lạc hậu. Đồng thời, nó ránuwcs bênh vực cho những cái thiện, cái tốt, cái đẹp hay là những kẻ yếu và tìm cách đấu tranh loại bỏ những gì xấu xa, “rác rưởi”, “những cặn bã trong xã hội”, nhằm kích thích, làm sống dậy cái trí nhớ về những giá trị cao (chân, thiện, mỹ), sỉ nhục sự ngu dốt, thấp hèn. Bằng cách tống tiễn mọi cái lỗi thời “vào vương quốc bóng tối” (Sê đrin), châm biếm bảo vệ cái tích cực, bảo vệ sự sống chân chính.

Do đó, truyện cười đã trở thành một vũ khí lợi hại để cùng với phong trào đấu tranh vũ trang, bạo lực chống lại mọi lực lượng đế quốc phong kiến, mọi âm mưu thù địch của chúng mang lại niềm tin, lạc quan vào tương lai cuộc sống. Xã hội ngày càng phát triển thay đổi cả “màu da lẫn xác thịt”, cảnh bất công ngày càng giảm bớt, xã hội có xu hướng ngày càng phát triển đi lên trên tiến trình lịch sử tất yếu của cuộc cách mạng không ngừng. Xã hội Việt Nam đặc biệt ở giai đoạn thế kỷ XX trở đi liên tục phát triển cùng với các thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có tác động mạnh mẽ đến đời sống nhân dân. Đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần ngày càng được cải thiện. Truyện cười vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ của nó là mua vui, đem lại nụ cười sảng khoái, giải trí cho con người và không ngừng phát triển cả về ý nghĩa phê phán, châm biếm nhưng cũng tùy đặc điểm của từng thời kỳ, từng hoàn cảnh lịch sử để nó vận dụng cho phù hợp. Tuy nhiên truyện cười dù ở thời điểm nào thì nó vẫn mang ý nghĩa mục đích gây cười của nó, làm cho con người có thể lạc quan, yêu đời và tin tưởng vào tương lai, vào hoạt động lao động sản xuất và chiến đấu.

Hơn thế nữa, truyện cười còn có một ý nghĩa quan trọng nữa là: giúp con người rèn luyện, mài giũa năng lực và tư duy nhanh nhạy, khả năng sử dụng từ ngữ tiếng Việt thành thạo. Truyện cười không phải ai cũng có thể phát ra tiếng cười được khi mới đọc, có người vừa đọc xong là phát ra tiếng cười giòn, có người phải ngẫm nghĩ một hồi lâu mới cười được, phát hiện ra chỗ gây cười, để cười đòi hỏi phải có một đầu óc thông minh, một vốn kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt tốt. Vì vậy, truyện cười rất bổ ích trong quá trình đọc hiểu văn bản cũng như trong quá trình học các môn khác, giúp ta phát hiện nhanh hơn, hứng thú hơn với bài học. Từ đó mà nâng cao dần tình yêu tiếng mẹ đẻ, làm giàu cho tiếng Việt.

Hiện nay, truyện cười cũng phát triển một cách mạnh mẽ trên các tờ báo, tạp chí… trong mọi lúc mọi nơi của đời sống xã hội có thể xuất hiện cái cười, tiếng cười làm cho các mối quan hệ xã hội được cải tạo. Tiếng cười làm cho không khí cuộc hội họp sôi động, vui vẻ hơn, giúp cho con người gần lại nhau hơn. Tiếng cười hiện đại có giọng điệu nhẹ nhàng hơn, không còn là giọng điệu đả kích, châm biếm, đấu tranh giai cấp nữa mà thay vào đó là tiếng cười nhằm mục đích phê và tự phê. Đó là tiếng cười chế giễu các thói hư tật xấu của con người như: lười nhác, ỷ lại, tham lam, ích kỷ, … hay đấu tranh chống lại các vấn đề đi ngược lại lợi ích của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam như: vấn đề ma túy, mại dâm, ô nhiễm môi trường , tham nhũng, buôn bán hàng lậu hàng giả… Tóm lại, truyện cười có giá trị thanh lọc tâm hồn con người, hướng con người tới những điều tốt đẹp hơn và góp phần vào công cuộ xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – đó chính là giá trị nhân sinh lớn lao.

Kết luận

1. Một truyện cười dân gian Việt Nam luôn luôn vận động phát triển và có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh, giữ gìn và phát triển những giá trị tinh thần tốt đẹp của con người. Cùng với sự phát triển của lịch sử, kinh tế, xã hội, truyện cười dân gian Việt Nam càng ngày càng phong phú và đa dạng cả về số lượng và chất lượng, cả về nội dung cũng như hình thức. Nội dung của truyện cười ngày càng được mở rộng và phát triển qua chiều sâu đời sống nội tâm của con người. Nó phản ánh một cách hài hước, sâu sắc những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… của cuộc sống. Từ việc phản ánh những thói hư tật xấu của con người, những bất công trong xã hội có giai cấp, truyện cười dần khai thác thế giới bên trong của con người. Đó không còn là những mâu thuẫn giai cấp nữa mà chủ yếu là các vấn đề gây bất ổn cho xã hội, đi ngược lại đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và lợi ích nhân dân, đối tượng đả kích, châm biếm, nhân vật chính của truyện cười không còn là kẻ thù giai cấp mà là kẻ thù của chính mình, ngay bên trong của con người. Nội dung phản ánh thay đổi đòi hỏi hình thức biểu hiện cũng phát triển theo; truyện cười dân gian Việt Nam không chỉ có mục đích mua vui mà còn là vũ khí sắc bén để đả kích, châm biếm chế độ phong kiến, thực dân xâm lược – xã hội người bóc lột người, đầy bất công; nó vừa có ý nghĩa xã hội sâu sắc vừa có ý nghĩa nhân sinh cao đẹp. Như vậy, truyện cười đã đem lại cho con người những nụ cười tươi vui thoải mái, giúp cho con người thêm yêu thêm tin cuộc sống hơn.

2. Truyện cười dân gian Việt Nam mang nét độc đáo, giàu bản sắc văn hóa dân tộc

Tiếng cười luôn đồng hành cùng cuộc sống con người cùng bao thăng trầm của lịch sử, dù đau buồn hay cả lúc vui vẻ nhất tiếng cười cũng có thể trào ra. Cái cười ấy có chất hài, niềm vui, có chất lạc quan sôi nổi hay sâu lắng, có khi (nhiều khi) có cả bi hài lẫn lộn, nhưng đã làm cho nó thêm đa dạng và phong phú. Cái cười Việt Nam, khi là một thái độ hiền hòa cởi mở, khi là một tâm trạng “tư lự”, bẽ bàng. Cái cười nhiều lần đã là vũ khí đấu tranh, mà cũng đã là lời mời vẫy gọi. Cái cười có thể tôn tạo mà cũng có thể san bằng. Cười có thể giải thoát, là từ chối khổ đau, nhưng cũng có thể để chìm sâu trong xót xa, rầu rĩ. Có rất nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này. Nhưng xét về phương diện nào thì tiếng cười Việt Nam vẫn mang một nét độc đáo riêng của một dân tộc gắn liền với đấu tranh chống ngoại xâm và đấu tranh chốnggiai cấp thống trị. Tiếng cười có khi hồn nhiên, ngay thẳng, bông lơn, trêu đùa chứa chút ngang tàng nghịch ngợm (truyện Trạng Quỳnh) có khi lại gay gắt, bốp chát, tục tĩu để đả kích, châm biếm những bất công, những tầng lớp thống trị hay bọn ngoại xâm.

Trên cơ sỡ nền tảng chung cho giá trị và nghệ thuật truyện cười của các nước trên thế giới thì truyện cười dân gian Việt Nam có màu sắc độc đáo riêng. Đã là truyện cười thì mục đích của nó bao giờ cũng mang lại tiếng cười là trước hết. Cái cười là chung, mà nhiều sự kiện làm nảy ra tiếng cười cũng có thể rất giống ở khắp mọi nơi. Câu chuyện nói láo gạt một người nào đó đã được ghép cho hầu như với tất cả các nhân vật ở các nơi. Chàng Tin bên Đức , chàng Aphantin, chàng Thơ Mênh Chây ở mấy nước cạnh Việt Nam, rồi những ông Ó, Thủ Thiệm ở miền Nam, miền Trung nước ta đều có cách gạt vua chúa giống nhau. Những mô típ nói láo, bịa đặt như nhau. Hầu như nhưng nội dung chủ yếu trong truyện cười giông nhau.

Nét đặc sắc nhất trong truyện cười dân gian Việt Nam là nghệ thuật chơi chữ bằng biện pháp nói lái. Do ngôn ngữ tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đa âm tiết nên trong truyện cười Việt Nam giàu vần vè, có nhịp điệu. Hầu hết các truyện cười Việt Nam sử dụng lối nói giàu nhạc điệu. Truyện cười vận dụng nói lái thành thạo, thậm chí lái đưa đến cái tục tằn để gây cái cười giòn.

Cùng với truyện cổ tích, truyện cười dân gian đứng về phía lẽ phải, về phía chính nghĩa chống lại cái vô lí, cái phi nghĩa. Truyện cười dân gian từ xưa truyền lại vẫn có vẫn có giá trị hiện đại. Ngày nay, tiếng cười trào phúng, đả kích đang có tác dụng trong cuộc đấu tranh chống bọn đế quốc và tay sai, kẻ thù của nhân dân và đang góp phần vào việc phê bình nội bộ trong hành ngũ nhân dân.Và những kinh nghiệm cũng như thành tựu của truyện cười dân gian rất có ích đối với chúng ta.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trí Vĩnh (2006), truyện tiếu lâm Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin

2.Nguyễn Đức Hiền (1995), 40 truyện Trạng Quỳnh, Nxb. Thanh Hóa

3. Đinh Gia Khánh (2006), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. giáo dục

4. Vũ Ngọc Khánh (1997), Hành trình vào xứ sở cười, Nxb. Giáo dục

5. Nguyễn Xuân Kính (1995), Tổng tập văn học dân gian người Việt, Nxb. Khoa học xã hội

6. Triều Nguyên (2004), Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt, Nxb. Giáo dục

7. Lê Minh Quốc ( ), Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam, Nxb.Phụ nữ

8. Lưỡng Kim Thành ( ), Trạng cười Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa

9. Hoàng Tiến Tựu (1997), Bình Giảng truyện dân gian, Nxb.

10. Trần Hùng (1996), Văn học dân gian Quảng Bình, Nxb. Quảng Bình

11. Ninh Viết Giao (1994), Kho tàng truyện kể dân gian Xứ Nghệ, Nxb. Nghệ An

12. Vũ Ngọc Khánh (2003), Hành trình vào xứ sở cười, Nxb. Giáo dục, Đà Nẵng

13. Vũ Ngọc Khánh (1994), Truyện tiếu lâm, Nxb. Văn hóa thông tin

14. Trương Chính (1987), Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb. Khoa học và công ty phát hành sách Đồng Tháp

15. Tôn Thất Bình (1997), Nụ cười xứ Huế, Nxb. Thuận Hóa

MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

Tieu luan cua Nhan.doc

Truyện Ngụ Ngôn Việt Nam

Sưu Tầm Một Số Chuyện Vui

Truyện Cười 18+ Tục Tĩu Bậy Bạ Và Bựa Phần 2

Truyện Cười Người Lớn Archives

Những Câu Đố Tục Giảng Thanh Cực Kỳ Hay 2022

Tiếng Cười Dân Gian Hiện Đại Việt Nam

Từ Vựng Và Hội Thoại Học Tiếng Hàn Qua Truyện Ngắn Song Ngữ

List 05 Truyện Cưới Nhanh Và Chỉ Sủng Một Người Hay Cho Fan Ngôn Tình

Truyện Cười Nước Ngoài #38

Truyện Cười Nước Ngoài #11

Truyện Cười Nước Ngoài #18

Lời thưa,

Nếu  không có dịp di Hà Nội dự Đại hội Nhà văn trẻ toàn quốc lần IV (ngày 26.4.1994), tôi đã không cùng bạn thơ Phan Hoàng đến Trường Viết văn Nguyễn Du. Nếu không đến đó ắt không có tập sách này. Đêm ấy cúp điện, ngồi trên sân thượng cùng các bạn còn đang theo học khóa ấy như Đặng Thanh Hương, Phạm Tường Vân… tôi đã nghe nhiều câu hò vè truyền miệng. Nghe và ghi chép. Về chúng tôi tôi viết bài đầu tiên “Thơ dân gian ở Trường Viết văn Nguyễn Du” và gửi đăng trên Tuổi Trẻ Cười. Lúc đó, nhà báo Nam Đồng phụ trách tòa soạn. Dần dà, tôi cứ viết mãi và in thành sách. Mỗi lần in lại bổ sung thêm… Còn khá nhiều thơ dân gian như thế, nhưng chưa viết…

LÊ MINH QUỐC

VIII.2012

Lê Minh Quốc và những chuyện cười làng văn

Với cuốn “Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam”, Hoàng Thiếu Phủ (bút danh của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan) đánh giá rằng đây là một “công trình sinh thú” và “được giới thiệu bằng bút pháp sở trường”. Lời khen tặng ấy quả không quá lời.

Với cuốn “Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam”, Hoàng Thiếu Phủ (bút danh của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan) đánh giá rằng đây là một “công trình sinh thú” và “được giới thiệu bằng bút pháp sở trường”. Lời khen tặng ấy quả không quá lời.

Tặng cuốn Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam (NXB Phụ nữ -2005) cho tôi, nhà thơ Lê Minh Quốc hình như “ngứa tay” ghi thêm dưới dòng đề tặng mấy câu thơ “xuất thần”: Mai sau còn lại gì không/ Vẫn còn cát bụi phiêu bồng chân mây/ Cười lúc tỉnh, khóc lúc say/ Tỉnh say ai biết rằng ai vui buồn?!.

Cái chuyện “cười lúc tỉnh, khóc lúc say” nghe có vẻ rạch ròi quá, dường như nó không đúng với cái “tạng” của Lê Minh Quốc, một con người mà tôi biết: tỉnh say, buồn vui lẫn lộn. Cũng lắm khi cười lúc say mà khóc thầm lúc tỉnh ấy chứ!

Vốn là dân đất Quảng nên coi bộ Lê Minh Quốc rất “ưu tiên” cho quê nhà. Trong tập sách Tiếng cười dân gian hiện đại Việt , phần “Tản mạn về tiếng cười đất Quảng” đọc rất “đã”, có khi cười chảy nước mắt, cười rồi chợt rưng rưng một nỗi nhớ đồng quê lam lũ. Ngay từ hồi còn nhỏ, sống ở làng quê, tôi biết mấy người đàn bà đi cấy là hay kể chuyện tục lắm. Kể nghe để vui cười, để quên đi mệt nhọc. Chuyện tục nhưng tâm trong, hồn nhẹ… Tất cả bay lên cùng tiếng cười.

Trần Vệ Giang

Theo nguồn văn nghệ công an – 28/08/2005

http://huongsenviet.vn/?tab=detail_news&catid=Mjk=&id=NDE3NQ==

6:00, 18/08/2005

“Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam” – Những thang thuốc bổ

 Một tiếng cười bằng mười thang thuốc bổ. Bạn đang mệt mỏi hay cảm thấy buồn rầu? Hãy nghe một câu chuyện và cất tiếng cười sảng khoái. Nỗi buồn rồi sẽ nguôi ngoai và sự mệt mỏi kia cũng dường như tan biến. Cuốn sách “Tiếng cười dân gian và hiện đại Việt Nam” của tác giả Lê Minh Quốc (NXB Phụ nữ) sẽ đem lại cho bạn cảm giác thật thoải mái sau những giờ làm việc căng thẳng

(Bản in lần thứ hai)

Có lẽ chẳng đâu như ở Việt Nam – xứ sở này không chỉ có những ông trạng cười, mà còn có cả làng cười, địa phương cười. Tác giả Lê Minh Quốc đã đem đến cho bạn đọc những tiếng cười sảng khoái. Mọi gian khổ, buồn giận … trong cuộc sống đều bị xóa mờ, chỉ còn tiếng cười và niềm vui lấp lánh.

Những Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh với những trò lố lăng, học đòi Âu hóa khi xưa cho tới chuyện người lính ngoài chiến trường, chuyện vợ chồng hay là những chàng sinh viên ngày nay có “chữ ký đẹp vì nhiều lần ký nợ”! đã được tác giả dày công sưu tầm.

Người xứ Nghệ ưa nói chữ, chơi chữ để tạo nên những tiếng cười trí tuệ, sâu cay. Trong truyện “Con cá gỗ”, họ dám cười chính những thói bị coi là “xấu” của mình. Ở truyện “Bán chó hơn quan”, tiếng cười vui vẻ mà thâm trầm, đánh thẳng vào đám tham quan ô lại.

Tiếng cười xứ Quảng lại thể hiện một cá tính mạnh mẽ, không rào đón, che đậy, nghiêng về cãi lý hơn là chữ tình nhưng cũng không kém phần thâm thúy. Ví như chuyện danh nhân đất Quảng – “Ông Ích Khiêm” kể rằng: sau khi vua Tự Đức băng hà, quần thần chẳng ai lo việc nước. Ông làm cơm mời các quan. Cuối bữa, chưa có nước uống, ông mắng người nhà: “Chúng bay chỉ cắm mặt vào ăn, chẳng đứa nào chịu lo việc nước cả!”

Việt Dũng

(Nguồn: http://www.vtv.vn/vi-VN/thegioisach/2005/8/62967.vtv)

Từ đằng xa đã thấy anh cười

“Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam” là tập sách mới nhất của nhà văn, nhà thơ, nhà báo Lê Minh Quốc. Nụ cười là ấn tượng dễ cảm mến mà Lê Minh Quốc dành cho mọi người, nói như nhà văn Hoàng Thiếu Phủ thì “Gặp anh, ngay từ đằng xa đã thấy anh cười. Cả đôi môi lẫn đôi mắt đều chung một cái cười có vẻ chân thật và hồn nhiên như trẻ thơ”. Có thể nói, tập sách là một công trình “cười”.

Phần lớn những mẫu sưu tầm trong tuyển tập này là sáng tác truyền khẩu của nhiều tác giả khuyết danh. Anh đã dày công tập hợp, hệ thống hóa và giới thiệu bằng bút pháp sở trường của mình như: Có bao nhiêu kiểu cười, Đôi nét về làng cười, Trạng cười Việt Nam, Những nhân vật hài nước trên báo chí 60 năm trước, Vua hề Sac-lô cười gì khi đến Việt Nam, Tản mạn về tiếng cười đất Quảng, Chuyện cổ tích dành cho thầy cô, Cười với con cháu bác Ba Phi, Đùa với bút danh văn nghệ sĩ, Cùng cười với sinh viên, Từ những vần thơ “não tình” trong lưu bút mùa hè xanh… cả đến chuyện Cấm đàn ông đọc và Chuyện phòng the… Bạn đọc dễ dàng cảm thụ được một loại văn học trào phúng dân gian trẻ trung, dí dỏm, trí tuệ và sinh động ngay ở trong sinh hoạt thường ngày của mình.

Có thể nói, trước nay những gì mà Lê Minh Quốc trình làng với người đọc bao giờ cũng được chăm chút rất kỹ vì anh không hề chạy theo số lượng, tập sách này cũng thế, anh đã chuẩn bị nó từ rất lâu rồi… Mỗi ngày một chút, sự dày công của anh đã khiến cho người đọc khâm phục. Trong lời giới thiệu, nhà văn Hoàng Thiếu Phủ tâm đắc viết: “… Với Lê Minh Quốc, mọi gian khổ, thương hận, bất bằng gì cũng có thể xóa mờ, chỉ còn những tiếng cười hào sảng, khinh khoái đọng lại trên tâm hồn và những trang sách của anh. Với hơn 300 trang sách, anh đã gửi đến bạn đọc không biết bao tín hiệu màu xanh, màu hồng mà anh đã ghi nhận được từ hiện trường của cuộc sống, kể cả những cuộc sống không dễ gì cười nổi của người lính ngoài mặt trận, của những “giáo chức dứt cháo, thầy giáo tháo giày” hay những chàng sinh viên có “chữ ký đẹp” vì nhiều lần ký nợ… Với Lê Minh Quốc, tôi mong rằng công việc không chỉ dừng lại ở bấy nhiêu trang sách này mà những điều “kỳ lạ”, cuộc sống muôn màu muôn vẻ sẽ còn được anh tiếp tục khám phá…”

Sách trình bày trang nhã, ấn tượng. NXB Phụ nữ ấn hành. Giá: 30.000 đồng.

Song Minh

(nguồn: báo Giáo dục chúng tôi 28.7.2005)

Điểm sách

Thứ ba, 27/03/2012, 11:57

Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam của Lê Minh Quốc

Đọc sách báo cũ, đi công tác, du lịch, bên cuộc nhậu với bạn bè… đi đâu, làm gì, Lê Minh Quốc cũng nghe ngóng, ghi chép các truyện hài, thơ, hò vè, khẩu ngữ dân gian. Anh in sách chia sẻ với bạn đọc những tiếng cười, kiểu cười cho đời thêm vui.

Cười hay khóc là những hoạt động không thiếu được trong cuộc đời một con người. Có tác giả thích viết về nỗi buồn, về nước mắt, về những số phận nổi nênh, cũng có người thích xem cuộc đời là chuyến du hí với đầy ắp tiếng cười. Lê Minh Quốc tâm sự, từ nhiều năm nay, anh vẫn dành thời gian sưu tầm “lời ăn tiếng nói”, những câu vần, mẩu chuyện hài hước, tiếu lâm… vì với anh đó là những giá trị gần với “sự thật”. Những câu chuyện đầy ắp tiếng cười, sự trào phúng thường phản ánh đúng bản chất sự vật một cách khách quan.

Đầu cuốn sách Tiếng cười dân gian hiện đại, Lê Minh Quốc làm cái việc khá hài hước là… ngồi đếm xem có bao nhiêu từ gọi tên, mô tả bản chất tiếng cười. Gần ba trang sách, anh liệt kê một loạt từ như thế: cười vang, cười vo, cười vãi đái, cười vô duyên, cười vu vơ, cười vô tội vạ, cười rôm rả, cười ran, cười ré, cười the thé… Hàng trăm tiếng cười đi cùng đời sống con người, biểu thị đầy đủ sắc thái tình cảm, và còn bộc lộ cả nội tâm của chủ sở hữu nụ cười đó.

Với tinh thần “Thấy gì cũng chép cũng ghi/ Không biết thì hỏi tự ti làm gì?”, mỗi khi có dịp đi xa, đi công tác hay lục tìm sách báo cũ bắt được tư liệu, tài liệu quý về tiếng cười dân gian, lục tìm trên mạng được mẩu truyện cười tâm đắc, Lê Minh Quốc vui như bắt được vàng… Anh làm công việc lượm lặt, ghi chép và sưu tầm tiếng cười với tất cả sự thích thú, say mê rồi sắp xếp lại và chia sẻ với bạn đọc “liều thuốc bổ tinh thần” quý giá ấy.

Bìa cuốn “Tiếng cười dân gian hiện đại” của Lê Minh Quốc biên soạn.

Trong tập Người Quảng Nam, Lê Minh Quốc từng nói về tiếng cười của người Quảng, còn trong cuốn sách mới, anh giới thiệu tiếng cười của nhiều vùng miền, tiếng cười từ Nam chí Bắc, từ mọi ngành nghề, mọi đối tượng trong xã hội… Tiếng cười của mỗi vùng, mỗi thành phần, mỗi người, mỗi lĩnh vực nghề nghiệp… đều có nét đặc trưng riêng, cái duyên riêng.

Tiếng cười dân gian Việt Nam rất đa dạng, nhân vật, tác giả trào phúng thì có: Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Bột, Ba Giai – Tú Xuất… trong sân khấu có hề chèo bỡn quan, Mẹ Đốp… Nhân vật hài hước trên báo chí Việt gần 100 năm trước có: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh…

Lê Minh Quốc sưu tầm trên báo Phong Hóa, nhà văn, nhà báo Thạch Lam từng phỏng vấn vua hài Charlie Chaplin nhân dịp vua hài thế giới đến Hà Nội cùng người vợ mới cưới. Những bài báo, ảnh minh họa sự kiện này được dẫn lại cho thấy phẩm chất hài hước vốn có của người Việt Nam, hòa quyện với cái hài của bạn bè thế giới.

Tác giả cuốn sách còn giới thiệu đến bạn đọc tiếng cười hiện đại, mà không kém phần hóm hỉnh. Đó nét duyên hài của nhà văn, nhà báo Nguyễn Hữu Tùng, cha của nữ nhà văn Bích Ngân. Ông Nguyễn Hữu Tùng người có những câu thơ thấm đậm chất hài hước, đọc là cười, kiểu như:

“Qua nhà cha vợ lần đầu

Bước vô, chú rể hỏi chào rất xôm

Bận ra, sửa bộ cho ngon

Quýnh nhè nói ngược: “Thưa con, ba về!”.

Tiếng cười dù từ giới hàn lâm hay giới bình dân, đều để lại dấu ấn nếu đó là tiếng cười hóm, không dung tục mà vẫn giữ được sự tinh quái, hài hước làm người đọc thấy thích thú, tạm quên đi cái mệt nhọc của cuộc mưu sinh hàng ngày.

“Nếu biết rằng em đã lấy chồng

Không buồn, không trách, chỉ ước mong

Đãi được chồng em nhậu một bữa

Để cảm ơn chàng lãnh giùm gông”

(thơ cải biên)

Nói về tập sách Tiếng cười dân gian hiện đại Việt Nam, nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển chia sẻ: “Viết văn cười, nghiên cứu về nụ cười tạo ra tác dụng tích cực về nhiều mặt. Bản thân tác giả đạt được niềm vui khi nhìn mọi hoạt động xã hội dưới cái nhìn hài hước, trào phúng. Người đọc cũng nhận được niềm vui, có nơi giải trí và giải tỏa tâm hồn. Không có gì đáng sợ hơn nếu hàng ngày ta phải đọc và suy nghĩ về những thông tin xấu của cuộc sống. Cho nên, kiếm được một nụ cười, đọc được cái đáng tức cười là điều hết sức quý giá đối với bạn đọc”.

Thất Sơn

(nguồn:

http://evan.vnexpss.net/News/diem-sach/2012/03/10593-tieng-cuoi-dan-gian-hien-dai-viet-nam/

Truyện Cười Ý Nghĩa Nhất – Trung Tâm Đào Tạo Kế Toán Bắc Ninh Uy Tín Và Chất Lượng

20 Câu Chuyện Cười Hay Nhất Về Ngành Bảo Hiểm

Thần Chết Cũng Bó Tay Với Tuyệt Chiêu Của Việt Nam

Lý Thông Siêu Hài Hước Cười Té Ghế

Truyện Cười Chết Trong Tủ Lạnh

Đọc Truyện Cười Dân Gian Việt Nam Hay Nhất: Tứ Chứng Nan Y

Chính Tả: Trung Thu Độc Lập Trang 77 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 1

Tổng Hợp Truyện Cười Dân Gian Viện Nam, Truyện Tiếu Lâm Hay Nhất

Truyện Cười Tiếng Trung: Chủ Đề Vợ Chồng

Văn Hóa Vật Chất Qua Truyện Cười Việt Nam Và Nhật Bản Một Cái Nhìn So Sánh

Truyện Cười Thể Thao Việt Nam Và Thế Giới

Tứ chứng nan y

Xiển làm thuốc. cho nên vua thường vời vào kinh chữa bệnh. Một hôm, vua đang nô đùa cùng bầy cung phi, thì thấy Xiển bước vào. Vua ngạc nhin hỏi có việc gì. Xiển đáp:

– Hạ thần nghe nói Hoàng thượng mắc phải bốn bệnh hiểm nghèo mà sách gọi là “tứ chứng nan y”, nên vội vàng vào thăm Hoàng thượng.

Đọc truyện cười dân gian Việt Nam hay nhất: Tứ chứng nan y

Vua khó chịu nói:

– Thiên hạ ác miệng nói càn như vậy, chứ lâu nay Trẫm vẫn khỏe mạnh, có việc gì đâu! À thế “tứ chứng nan y” là những bệnh gì?

Xiển tâu: – Dạ “tứ chứng nan y” họ nói đó là què, mù, câm điếc.

Vua nổi giận:

– Ðộc ác đến mức ấy là cùng! Trẫm mà biết kẻ nào bịa chuyện phao đồn ra đầu tiên thì Trẫm sẽ cắt lưỡi chứ không tha!

Xiển nói:

– Hạ thần nghe thiên hạ đồn như vậy. Bây giờ mới biết là sai. Nhưng nghĩ cho kỹ, thì lại thấy là có nguyên do cả đấy ạ!

Vua hỏi: – Nguyên do như thế nào?

Xiển giả bộ rụt rè: – Xin Hoàng thượng tha tội kẻ hạ thần mới dám nói.

Vua bằng lòng. Xiển nói:

– Thiên hạ thấy Hoàng thượng suốt năm chỉ quanh quẩn trong cung điện nên họ lầm tưởng là ngài què. Nước sắp mất mà Hoàng thượng vẫn ung dung vui thú, nên họ lầm tưởng là ngài mù. Trước cảnh núi sông bị quân giặc dày xéo mà Hoàng thượng cứ ngồi im, nên họ tưởng là ngài câm. Khắp nơi người ta đều kêu Hoàng thượng là kẻ hèn yếu, khiếp nhược nhưng ngài vẫn làm ngơ ký hòa ước hàng giặc, nên họn lầm tưởng là ngài điếc.

Vua biết Xiển chửi mình, tức uất người nhưng không đủ lý lẽ để bắt tội được.

__HẾT__

Video: Thầy Bói Xem Voi

Phân Tích Truyện “Thầy Bói Xem Voi”

Tuyển Tập Truyện Cười Nguyễn Ngọc Ngạn Và Cao Kỳ Duyên ❤️ Paris By Night 2022

Top Truyện Cười Ngắn Hài Hước Cực Vui Dành Cho Bạn

Truyện Cười Tục Tĩu Hài Hước Bá Đạo

🌟 Home
🌟 Top