Top 2 # Xem Nhiều Nhất Truyện Cổ Tích Bánh Chưng Bánh Dày Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Sự Tích Bánh Chưng, Bánh Dày

Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: “Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho”.

Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.

Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào.

Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành.”

Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.

Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất.

Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày Và 7 Sự Tích Về Ngày Tết Cổ Truyền Việt Nam

1. Nguồn gốc sự tích bánh chưng, bánh dày

Vào đời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đã dẹp xong giặc Ân, vua Hùng muốn truyền ngôi lại cho con. Nhân lễ Tiêu Vương, Vua Hùng truyền cho 20 người con rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay đem trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”.

Sau lời vua cha, các lang đều háo hức, chạy khắp nơi đi tìm của ngon vật lạ để dâng lên tổ tiên nhằm tiếp nối ngai vàng. Tuy nhiên, riêng chàng hoàng tử 18 – Lang Liêu là chàng hoàng tử hiền lành, đức hạnh, giàu lòng nhân từ và rất hiếu thảo vì mất mẹ từ sớm nên không ai giúp đỡ nên loay hoay hoài mà không biết làm thế nào.

Nhưng may mắn thay, anh lại được một vị Thần mách bảo trong giấc mộng của mình. Vị Thần chỉ dạy chàng quý nhất vẫn là gạo. Vậy nên, Thần khuyên Lang Liêu làm bánh từ gạo để dâng cho vua cha. Một là bánh hình tròn tượng trưng cho Trời. Hai là bánh hình vuông tượng trưng cho Đất. Và bảo chàng dùng lá bọc ngoài, đặt nhân vào ruột bánh để tượng trưng cho sự sinh thành của cha mẹ.

Được sự mách bảo đó, Lang Liêu nhanh chóng làm theo lời và kết quả là thuận ý vua cha vì bánh không chỉ ngon mà còn ý nghĩa. Từ đó về sau, việc gói bánh chưng, bánh dày trở thành tục lễ mỗi độ Tết đến của người Việt Nam.

2. Nguyên liệu làm bánh chưng, bánh dày

Những nguyên liệu cơ bản để làm bánh chưng:

Gạo nếp: Loại ngon, dẻo ngọt, được đãi sạch, xóc muối, ngâm nở.

Đỗ xanh: Đãi sạch, trộn cùng chút muối, vàng ươm, thơm ngon.

Thịt lợn: Là thịt ba chỉ, vừa mỡ vừa nạc để nhân có cả vị béo chứ không chỉ khô bã.

Lá dong: Lá tươi xanh, mướt mắt, được chần sơ qua nước sôi, đặt vào khuôn gói, bao quanh chiếc bánh.

Dây lạt: Những sợi lạt dai mềm, buộc chặt chiếc bánh không để nước thấm vào khi nấu.

Khi ăn, ăn kèm nước mắm ngon hoặc hành củ muối, dưa món chua ngọt đều rất ngon.

Bánh dày:

Làm từ gạo nếp (có thể cho thêm sữa tươi không đường để tạo độ béo, thơm). Gạo nếp phải là loại ngon, dẻo.

Sau khi nếp được đồ chín thì đổ ra cối giã nhuyễn. Tiếp đến, vo tròn rồi xếp vào lá dong. Chưa hết, chia thành từng cục bột nhỏ rồi nặn tròn và cuối cùng là ấn bẹp.

Chỉ với vài bước đơn giản là bạn đã hoàn thành xong món bánh dày của chàng Lang Liêu rồi đó. Khi ăn, người ta ăn kèm với giò, chả,… để tăng độ ngon cho món ăn.

Tuy nhiên, ngày nay người ta thường thêm nhân cho bánh dày chứ không còn là bánh dày không nhân như thời Lang Liêu nữa.

3. Ý nghĩa sự tích bánh chưng, bánh dày

3.1. Quan niệm về vũ trụ của người Việt ngày xưa

Chắc hẳn bạn đã biết, ngày xưa, người Việt quan niệm rằng trái đất hình vuông và bầu trời hình tròn.

Đó là lí do tại sao bánh chưng (tượng trưng cho Đất) lại có hình vuông và bánh dày (tượng trưng cho Trời) có hình tròn.

Bánh chưng là hình khối cụ thể thuộc âm, có hình vuông, có góc cạnh, tượng trưng cho Đất. Người ta quan niệm rằng nhân đậu và thịt của bánh tượng trưng cho muôn vật trên thế giới này.

Bánh dày là hình khối cụ thể thuộc dương, có hình tròn, không góc cạnh. Vì nó tượng trưng cho Trời nên phải màu trắng và không nhân vị giống như bánh chưng.

3.2. Bài ca về nền văn minh lúa nước

Sự tích bánh chưng, bánh dày là lời nhắc nhở tầm quan trọng của cây lúa đối với con người.

Hơn thế nữa, đó chính là minh chứng cho nền văn hóa lúa nước của người Việt ta. Sự đề cao, ca ngợi về thành tựu văn minh nông nghiệp ở buổi đầu sơ khai.

Một chiếc bánh nhưng gói ghém cả một nền văn minh lúc bấy giờ.

3.3. Mang ý nghĩa biểu trưng

Vì bánh chưng đại diện cho âm nên sẽ dành cho mẹ. Biểu tượng cho mẹ Tiên trong ngày lễ dâng cúng Giỗ Tổ Hùng Vương.

Bánh dày đại diện cho dương tức dành cho cha. Và nếu bánh chưng là biểu tượng cho mẹ Tiên thì bánh dày tức là biểu tượng cho cha Rồng.

Khi dùng bánh chưng, bánh dày làm quà biếu dâng lên cha mẹ thì nó cũng thể hiện được chữ hiếu của người con dành cho đấng sinh thành của mình.

3.4. Tin vào thần linh

Bánh dày thường được dùng để tế trời, tế thần.

Người Việt quan niệm bầu trời là nơi thần linh sinh sống. Chính vì vậy, họ dùng bánh dày để dâng lên trời nhằm cầu mong thời tiết mưa thuận gió hòa để muôn vật sinh sôi nảy nở, cho một năm ấm no, sung túc.

Không chỉ vậy, nó còn mang ý nghĩa cho lòng biết ơn sâu sắc với trời đất đã đem đến mùa màng bội thu cho người dân lao động.

Điều này cũng nói lên rằng, ở xã hội Việt Nam bấy giờ, người ta tin rằng Trời là Đấng khai sáng vũ trụ và là chủ tế của cả thế giới này.

3.5. Nét văn hóa, món ăn truyền thống

Đề cao nét đẹp, xem trọng giá trị sáng tạo của nhân dân, ca ngợi truyền thống cao đẹp của dân tộc.

Nó cũng là sự giải thích nguồn gốc cho thứ bánh truyền thống của ngày Tết cổ truyền Việt Nam.

Đây chính là món ăn truyền thống ngày Tết tô điểm thêm sự độc đáo, ấn tượng trong mắt bạn bè quốc tế của nước ta.

Dù đã trải qua nhiều năm tháng, nhưng tục gói bánh chưng, bánh dày vẫn còn đó, tồn tại mãi trong lòng người Việt và trong những cái Tết sum họp. (Bánh tét cũng là một loại na ná với bánh chưng).

4. Những sự tích về Tết cổ truyền

Sự tích ngày Tết Nguyên Đán: Câu chuyện kể về vương quốc nọ muốn tính tuổi con người. Nhà vua nghĩ ra một cách là mỗi lần hoa đào nở thì tính một tuổi. Người ta tính được mười hai lần trăng tròn rồi lại khuyết, hoa đào sẽ nở một lần. Những ngày vui ấy, sau này người ta gọi là Tết.

Sự tích cây nêu ngày Tết: Câu chuyện xưa kia kể về việc loài quỷ chiếm hết đất nước và ức hiếp dân làng. Tuy nhiên, được sự trợ giúp của Phật thì cuối cùng loài quỷ đã bị đuổi đi nhờ chiếc áo cà sa treo trên cây tre.

Sự tích hoa mai vàng: Câu chuyện kể về cô bé tốt bụng giúp dân làng diệt yêu quái. Tuy nhiên không may cô đã bị quấn chết. Khi được trời thương cho sống lại 9 ngày mỗi năm để ở cùng ba mẹ thì cô thường trở về trong chiếc áo màu vàng. Và khi cả gia đình đều mất, cô hóa thành cây hoa màu vàng là hoa mai mà ta thấy ngày nay.

Sự tích hoa đào: Cây đào to lớn là nơi có 2 vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ. Các vị diệt trừ ma quái, giúp người dân có được cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Khiếp sợ trước quyền năng của 2 vị thần, lũ yêu ma sợ luôn cây đào. Vì vậy để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ. Đây cũng là hoa Tết được nhiều người yêu thích.

Ngoài ra còn có nhiều sự tích khác như: Táo quân. bao lì xì,…

5. Những bài thơ về bánh chưng, bánh dày hay

5.1. Bài thơ của Lệ Hoa Trang

“Khi xưa ở nước Văn Lang, Đời vua thứ sáu có chàng Lang Liêu. Vua ra ý muốn một điều, Là thay đổi chủ trị điều nước non. Bèn ra quyết định chọn con, Thi nhau nấu món ăn ngon tuyệt vời. Cao sang mĩ vị trên đời, Làm sao có thể bằng trời tính cho.

Ấy nhưng mà lại hay ho, Chàng Lang Liêu được giúp cho còn gì. Trong khi suy nghĩ làm gì, Có ông tiên cụ nhắc ghi vài điều. Bình thường mà ý nghĩa nhiều, Bánh chưng ngày tết làm nhiều người mê. Bánh dày cũng chẳng ai chê, Bánh thơm gạo nếp tràn trề đậu xanh. Tượng trưng mặt đất màu xanh, Bánh chưng gói với lá xanh thành hình. Lấy xôi giã nặn tròn hình, Bánh dày là bánh tượng hình trời cao. Món ăn quý quá làm sao, Lang Liêu lên được chức cao vô cùng. Sau này xuân đến khắp vùng, Người ta lại thấy bánh chưng bánh dày.”

5.2. Bài thơ của Bằng Việt về sự tích bánh chưng, bánh dày

“Thuở tám tuổi trái đào Tôi thức ngủ giữa rất nhiều truyền thuyết Truyền thuyết sao mà đẹp: Trời đất vuông tròn như bánh dày,bánh chưng, Thế giới mỡ màu, đậm đà như nhân đỗ!

Bà tôi chỉ thích việc đời có hậu Suốt đời cả tin chuyện thuở Lang Liêu.

Tôi vẫn nghe Không nỡ lòng cãi lại Bà còn thọ bao năm, thôi chớ để bà buồn!

Nhưng năm lại chồng năm Sống gắn bó cùng bà Có nhiều lúc tôi muốn tin là thật Muốn tắc lưỡi cho việc đời đơn giản! Tự ru mình bằng quan điểm ấu thơ Ưa bám níu mãi niềm tin nguyên thuỷ.

Tôi mất nửa đời để thoát ra truyền thuyết Tấm bánh mang nhiều suy tưởng hơn xưa!”

Hồng Ân tổng hợp

Sự Tích Bánh Chưng Bánh Giầy – Wikisource Tiếng Việt

Bánh chưng là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh giầy (có người viết là bánh dầy hay thậm chí bánh dày ) là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Bánh thường được làm bằng xôi đã được giã thật mịn, có thể có nhân đậu xanh và sợi dừa với vị ngọt hoặc mặn. — Trích dẫn từ Bánh chưng của Wikipedia , bách khoa toàn thư mở. — Trích dẫn từ Bánh giầy của Wikipedia , bách khoa toàn thư mở.

Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.

Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: “Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho”.

Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.

Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu[1] có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào.

Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành”

Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Giầy[2]. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Giầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Giầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.

Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Giầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất.

Tết Bánh Trôi, Bánh Chay Của Người Việt

Bánh trôi – bánh chay là hai loại bánh cổ truyền tại miền Bắc Việt Nam. Hai loại bánh này thường đi liền với nhau, phổ biến nhất trong dịp Tết Hàn thực vào mùng 3 tháng 3 âm lịch hàng năm, còn gọi là “ngày giết sâu bọ”.

Truyền thống Việt Nam có nhiều ngày lễ Tết với những ý nghĩa, nguồn gốc và tên gọi khác nhau. Trong đó có một ngày Tết được “hóa danh” bằng tên gọi món ăn – Tết Hàn thực hay còn gọi là ngày Tết bánh trôi bánh

chay mùng 3 tháng 3 (âm lịch).

Mùa hè đến, người ta bắt đầu thấy chán ngán những thức ăn nóng, lắm mỡ, để lựa chọn món ăn thật mát, nhẹ nhàng. Không phải cứ vào Tết Hàn thực nhưng đĩa bánh trôi bánh chay vẫn được “trọng dụng”, xem như một

món quà ăn chơi trong cái nóng đầu hè và dần trở thành món quà vặt quen thuộc đối với người dân Việt.

Nếu như tuổi thơ, các em nhỏ vui sao khi được cùng mẹ xay, giã bột và vê những chiếc bánh trắng tròn, đẹp mắt. Không khí đầm ấm vui vẻ ấy luôn được người ta nhớ lại và so sánh hệt như kỷ niệm cùng mẹ gói và trông

nồi bánh chưng ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền. Và chắc hẳn tuổi thơ ai cũng có một hay nhiều kỷ niệm về ngày Tết Hàn thực, háo hức khi chờ đợi và thưởng thức từng viên bánh thơm mát, ngọt ngào mẹ làm.

Những thiếu nữ Việt ta khi lớn lên lại nhất định phải học cho được cách nặn bánh, luộc bánh sao cho chín vừa và ngon. Để khi có gia đình, mỗi dịp Tết Hàn thực những người phu nữ ấy sẽ tự tay làm bánh cho cả gia đình

như một truyền thống quý báu ngàn đời.

Trong xã hội hiện đại, người ta bận rộn với trăm công nghìn việc. Thế nên không phải ai cũng nhớ ngày Tết bánh trôi bánh chay. Mà dù người ta có còn nhớ thì đôi khi không có đủ thời gian để cùng gia đình quây quần tự

làm món bánh truyền thống.

Nhưng dù thế, không có bất cứ gia đình nào ở Việt Nam lại thiếu hai món bánh trôi bánh chay trong mâm cỗ Tết Hàn thực. Rảnh thì tự làm lấy, bận rộn hơn thì đặt bánh hoặc ra đầu ngõ mua của cô hàng rong vài đĩa.

Người nông dân nghỉ cấy cày, chuẩn bị mâm cơm cúng và tự làm bánh trôi bánh chay. Người làm công sở thì mua bánh, đặt bánh về cùng ăn với gia đình. Dường như, tục cúng bánh trôi bánh chay đã trở thành truyền thống, một nghi lễ quan trọng của người Việt Nam.

Người ta bảo, bánh trôi và bánh chay như cặp song sinh, như đôi tình nhân làm đẹp và ngọt ngào hơn cho ngày Tết Hàn thực. Nhận định ấy một phần bắt nguồn từ truyền thuyết về nguồn gốc ngày Tết, cũng một phần để

nhấn mạnh thêm cho việc xuất hiện song song và không thể thiếu bất kỳ một trong hai loại bánh trong ngày này.

Bánh trôi – bánh chay không chỉ là món ăn dân dã, mang nhiều truyền thống, kỷ niệm của người Việt Nam. Mà loại bánh này còn đi vào thơ ca từ ngàn xưa như một đề tài tinh tế, nhiều ý nghĩa. Chắc hẳn ai trong chúng ta

cũng một lần nghe đến bài thơ “Bánh trôi nước” của Bà chúa thơ Nôm từng học trong chương trình phổ thông. Cái danh của nhà thơ Hồ Xuân Hương cùng bài thơ được lưu truyền vang vọng như thế cũng thể hiện phần

nàocái tiếng của hương vị và tính truyền thống loại bánh này.

Tuổi thơ ai mà không từng được nghe bà, mẹ ngâm nga: “Thân em vừa trắng, lại vừa tròn/Bảy nổi ba chìm với nước non”. Hay “Ai được thoát thân, thì ăn bánh lọt/Trôi nước rất ngọt, để các thợ chài/Dầm mưa hoài hoài, thì

ăn bánh ướt/Bất toại vô phước, thì sẵn bánh bò”. Và, cứ như thế bánh trôi – bánh chay cùng ngày Tết Hàn thực truyền thống vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch luôn in sâu trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam.

Theo MonngonHanoi.com