Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Thơ Hay Về Quê Hương Bắc Giang Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ: Bắc Giang Quê Tôi

Chùm Thơ Hay Viết Về Quê Hương Xứ Kinh Bắc

Hình Ảnh Quê Hương Quảng Bình Trong Thơ Xuân Hoàng

Top 10 Bài Hát Hay Nhất Về Quê Hương Quảng Bình

Bài Thơ Viết Về Quê Hương Để Gửi Cho Những Thế Hệ Sau

Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh

Nếu bạn thấy quê hương ,vùng đất mình đang sống hiện hữu trong bài thơ: thì đó là điều tuyệt vời nhất tôi đang biết về vùng đất quê hương nơi có bạn và tôi

Đôi chút về quê hương “Mời bạn đến thăm “Bắc Giang Quê Tôi

Ai về Kinh Bắc miền đất cổ xưa

Gọi lòng để nhớ hai từ Bắc Giang

Bao câu”Quan Họ” câu hát mời trầu

Câu hát trao duyên người ơi đừng về

Đất cổ xưa kinh bắc mãi còn vang

“Làng Thổ Hà” vẫn vang câu quan họ

“Rượu Làng Vân” thơm chén say người

Tôi vẫn đi khắp đường làng ngõ hẹp

Bỗng hiện về cội nguồn “gốm lừng danh”

Đã xưa rồi còn lại những rêu phong

Con đường nhỏ những con ngõ song song

Người nơi đây đặc sản như đã có

Bánh đa nem nổi tiếng đất gần xa

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê Tôi

Về Lục Ngạn ăn quả vải trên cành

Là”Vải Thiều” của hương rừng gió núi

Rượu men lá bạn đã thử chưa nào

Món “Khâu nhục” ở nơi đây đặc sản

“Sôi trứng kiến” ngon mới lạ làm sao

Tô “Mỳ Chũ” chẳng chê được chút nào

Ôi tự hào nó mới sướng làm sao

Là đặc sản của bắc giang tôi đó

Bạn đã từng lên núi để thăm quan

Hồ cấm sơn mênh mang trời non nước

Về khuôn thần duyên dáng chốn sơn trang

Bạn ơi Hãy tới Sơn Động Bắc Giang

Gió đồng “Cao Nguyên” mát tận tâm hồn

Đêm đốt lửa ,ngồi quây quần ta hát

Tây yên Tử rừng nguyên sinh khe rỗ

Để thiên nhiên chân thật mới trở về

Đến Lục Nam bạn dừng chân nghỉ lại

Mời quả” Na ” ăn củ đậu nơi này

Thấy lòng người qua những cái bắt tay

Ấm áp yêu thương gần gũi thật thà

Ngồi nơi đây Tôi kể để bạn nghe

Đền trung đền thượng hương khói vi vu

“Đền Suối Mỡ” thờ thượng ngàn thánh mẫu

Đất thiêng liêng đưa ta về lịch sử

Sự tích nàng Công chúa Quế mỵ Nương

Người có công khai mở vực Mỡ này

Đừng vội vàng bạn bỏ qua kỳ diệu

Đến Lạng Giang thăm “Dã Hương” nghìn tuổi

Chẳng biết nữa cây có từ bao giờ

Vẫn sừng sững giữa đất trời hiên ngang

Cho người lớn cùng trẻ em bóng mát

Như cấp thêm dinh dưỡng cho nơi này

Bạn thấy không bạn đã nở nụ cười

Cho người Bắc Giang thêm niềm hy vọng

Dẫn bạn đến nơi tâm hồn thanh tịnh

Chùa “Đức La” tức “Vĩnh Nghiêm” bây giờ

Hơn bẩy trăm năm lịch sử khắc ghi

Chốn tổ Vĩnh Nghiêm là nơi thanh tịnh

Nơi bắt đầu Hội phật giáo Đầu Tiên

Huyện yên dũng nhiều điều ta khám phá

Món “Cua Da” rồi “Tương La” đặc sản

Bạn sẽ đến thưởng thức ở nơi này

Không xa nữa đâu chính là Thành Phố

Mua cái”Bánh Đa Kế” để làm quà

Rồi thưởng thức bún chả”Bún Đa Mai”

Ăn bánh đúc đồng quan”Chè Đỗ đãi

Bạn đang thưởng thức mùi vị quê hương

Đặt tay lên môi suỵt tiếng nhẹ nhàng

Nhắc đến bắc giang cảm giác tuyệt vời

Tôi thấy yên bình màu xanh của lá

Cảm giác nhẹ nhàng không khí quê hương

Bạn thấy vui không ta đi câu cá

Về hiệp hoà bắt cá mè ao nuôi

Làm gỏi cá đặc sản của quê hương

Làm mê mẩn biết bao là thực khách

Chỉ nghĩ thôi miệng đã ngọt lắm rồi

“Nham vân xuyên” cho mùi thơm béo ngậy

Tôi chắc bạn muốn nếm thử bạn ơi

Còn muốn thăm quan “Di tích lăng mộ”

Cấp quốc gia đã công nhận nơi này

Đến Bắc Giang đừng bỏ qua Yên Thế

Nơi vùng đất nuôi đặc sản “gà đồi”

Có vườn cây hoa trái thật tốt tươi

“Cam sành Bố Hạ” dinh dưỡng nơi này

Là vùng đất Người Anh Hùng Áo Vải

Hoàng Hoa Thám mãi mãi sẽ còn vang

Xin cho con được cúi đầu tưởng nhớ

Xin Tạ ơn Người áo vải Hoàng Hoa

Còn đây”Di tích khởi nghĩa” vang xa

Cho chúng con hàng năm về tưởng nhớ

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê Tôi

Để lửa lòng cháy lại những yêu thương

Còn thấy được nét tinh hoa lưu giữ

Nền văn hoá của người xưa để lại

“Chùa Bổ Đà” Việt Yên bạn đã đến

Thấy lối vào cổ kính những rêu phong

Lời ca luyến láy mà say lòng người

Làn quan họ vẫn ngân vang câu hát

Rằng người ơi người ở” í…a” đừng về

Mời bạn đến thăm Bắc Giang Quê Tôi

Bữa cơm đạm bạc mà sang lòng người

Chén rượu nâng lên chén trà thêm nhớ

Tâm sự cuộc đời chuyện bạn và tôi

Chuyện vùng đất mà tôi đang đã kể

Chẳng dấu diếm hay giữ lại trong lòng

Để mời bạn đến với người Bắc Giang

Sáng tác: butdanh hgt

(hoanggia thao)

Bài Hát “bạc Liêu Quê Tôi”: Nhớ Ngày Giải Phóng…

Bài Văn Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh Hay

Tìm Hiểu Và Nêu Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Quê Hương Của Tế Hanh

Top 5 Đoạn Văn Mẫu Viết Về Quê Hương Bằng Tiếng Anh Hay Nhất

Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính

Bài Thơ Quê Hương Của Giang Nam

Bài Văn Tả Cảnh Quê Hương Vào Buổi Sáng Mùa Hè Lớp 6 Hay Nhất

Chọn Lọc 100 Bài Thơ Về Thầy Cô Giáo Tự Sáng Tác Ngắn Hay Nhất

Những Bài Thơ Về Thầy Cô Hay Nhất ❤️ Thơ Chúc Mừng 20/11

16 Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Và Mái Trường Yêu Dấu

Thơ Tiếng Anh Về Thầy Cô

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Nhớ những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được…

Chưa đánh roi nào đã khóc

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích…

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)!

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được

một lời…

Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi

Hòa bình tôi trở về đây

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

– Chuyện chồng con… (khó nói lắm anh ơi)!

Tôi nắm bàn tay, ngậm ngùi, nhỏ nhắn

Em để yên trong tay tôi nóng bỏng

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích em ơi!

Đau xé lòng anh chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi

***

Когато бях дете и ходех на училище,

обиквах родната страна

със всяка страница на детската ми книга.

Там пишеше : “Кой казва, че е трудно

да пасеш биволи в гората, на полето ?”

И закопнях за песните на птиците в гората. . .

Понявга майка ме улавяше, когато

край блатото подгонех пеперуда,

вместо да ида в клас. Да бяхте чули

как жално плачех, преди да са ме още били !

Едно момиченце в съседната ни къща

ме гледаше и дяволито се усмихваше.

Покриха вражи сенки моята страна.

Сбогувах се със майка и заминах.

И, представете си, съседското момиче

и то поело в горските усои.

Веднъж случайно я видях по пътя.

Тя пак тъй дяволито се усмихна,

очите й блестяха черно-черни.

Защо така привличаха очите й ?

Не разменихме дума : аз бях в строй,

но се обръщах дълго, много дълго.

Над нас валеше. В мен блестеше слънце.

Мирът настъпи. Върнах се във къщи,

в училище, в оризището при браздите.

И пак видях съседката ни млада,

която криеше главица зад пердето.

Тя се усмихваше – потайна, дяволита.

Когато я запитах един ден

дали сърцето й все е свободно,

“Въпросът ти е, знаеш, неудобен. . .”

отвърна и главата си наведе.

Цял разтреперан, пълнен с бяла нежност,

аз хванах тънките й пръсти.

Тя ги остави да почиват в ръцете ми горещи.

И връхлетя внезапно новината –

така ужасна, че не смея да повярвам :

Убили са те, сестро, о, любима !

Захвърлили те нейде във гората.

Защо ли ? През войната

ти си си била – ето твоя грях.

Сърцето ми раздират остри пръсти.

Не зная, жив ли съм, или съм вече прах. . .

Като дете обичах родната страна за птиците и пеперудите й.

С тях ходех на училище в гората.

Обичам днес страната си, защото всяка нейна шепа пръст

съдържа малко от кръвта на моята любима.

Превел Стефан Гечев

– Bài thơ làm trong một giờ.

“Hồi đó, tôi giác ngộ cách mạng rất sớm, từ năm 20 tuổi, lại được người anh trai – nhà cách mạng Nguyễn Lưu- truyền cho bầu nhiệt huyết, nên luôn sôi sục ý chí chiến đấu và sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Có năng khiếu chữ nghĩa nên khi vào hoạt động cách mạng, tôi được giao nhiệm vụ tuyên huấn”- nhà thơ Giang Nam bồi hồi nhớ lại. Chính những ngày làm cán bộ dân chính, Giang Nam đã nảy nở tình yêu với bà Phạm Thị Chiều – người đã đi suốt cuộc hành trình của đời ông và cũng chính là nhân vật làm bật lên cảm xúc để ông viết bài thơ Quê hương. Thời khắc nghiệt của chiến tranh, tình yêu bung nở một cách giản dị nhưng có sức gắn kết bền chặt đến phi thường. “Cùng làm ở cơ quan dân chính Phú Khánh, hồi đó tôi rất thích vợ tôi nhưng xung quanh cô ấy lại có rất nhiều người theo đuổi, nên tôi chỉ còn cách mỗi lần đến đưa công văn, gửi kèm cho cô ấy một lá thư chứ không dám đến hỏi thêm gì. Viết thư cũng chỉ dám hỏi mấy câu đơn giản như; anh có ý thích em, em nghĩ thế nào?”. Sau lá thứ hai, Giang Nam bồn chồn chờ đợi suốt cả tuần lễ, cuối cùng cũng nhận được hồi âm… Từ đó, họ bắt đầu một tình yêu và không lâu sau thì làm đám cưới (vào đầu năm 1955).

Nhà thơ Giang Nam

Cưới xong ở với nhau được đúng hai đêm, ông lại phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định. Đây cũng là cái mốc đánh dấu cho những chuỗi ngày xa nhau đằng đẵng của ông bà. Ông miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới, hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang. Khi Mỹ nguỵ tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ. Tổ chức đã sắp xếp để ông bà chuyển vùng hoạt động về Biên Hoà. “Lần đoàn tụ này, chúng tôi vô cùng xúc động nhưng vẫn phải giữ bí mật tuyệt đối cho cách mạng. Cũng tại Biên Hòa, vợ tôi sinh hạ đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến giờ, ngay sau khi vợ sinh, tôi được tổ chức rút về lại KhánhHoà. Sau đó không lâu, vào một buổi tối giữa năm 1960, giữa lúc trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành, có thể vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Bình Dương). Đau đớn đến bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên. Tất cả những kỷ niệm cũ, tình yêu nghẹn ngào, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt như sống dậy xót xa, nhức nhối, tôi đã phải bật khóc nức nở và chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã viết xong bài thơ Quê hương. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay đổi” – Giang Nam bộc bạch sự ra đời của bài thơ Quê hương.

Tạo cảm hứng cho một đời

Dù những ngày tháng đau khổ đã đi qua, rất lâu, nhưng mỗi lần nhắc đến những mất mát hy sinh, từ phía sau cặp kính cận, khuôn mặt Giang Nam vẫn như nặng trĩu nỗi ưu tư. Những kỷ niệm chiến trường găm sâu trong ký ức lại trỗi dậy. Ông thổ lộ rằng: “Với tôi, đau thương cũng là một sức mạnh. Sau khi làm xong bài Quê hương, tôi đưa cho cấp trên đọc, ngay lập tức nhận được sự đồng cảm. Rồi sau đó ít ngày, tôi gửi bài thơ ấy cho báo Thống Nhất ở Hà Nội. Tháng 9.1961, đang trên đường công tác ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), tôi bất chợt nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bài thơ Quê hươngcủa mình và thông báo được giải Nhì báo Văn Nghệ.

Trong giây phút vui mừng đó, tất cả hình ảnh người vợ thân yêu cùng đứa con nhỏ của mình lại ùa về. Một lần nữa tôi bật khóc. Có lẽ mỗi câu thơ trong bài Quê hương đều hàm chứa hình ảnh người vợ của tôi. Cũng từ đó, tôi lao vào làm thơ phục vụ cách mạng, làm báo tuyên truyền, cổ vũ đồng chí của mình như một nhiệm vụ cao cả” – Nhà thơ Giang Nam bồi hồi kể lại. Ngày nhận thư của nhà thơ Hoàng Trung Thông mời ra Ha Nội nhận giải, Giang Nam đau đáu trong lòng một suy nghĩ: Phải chăng những tình cảm tha thiết, chân thành, xót xa đã giúp người ta có những câu thơ hay. Cũng từ đó, ông luôn nuôi cho mình một ý thức viết một cách chân thành và tha thiết nhất. Đúng vào ngày nhận giải, nhà thơ Chế Lan Viên đã gọi Giang Nam lại và nhận xét rằng: “Cả bài thơ Quê hương của Giang Nam và Núi đôi của Vũ Cao đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Nhưng, bài Quê hươngcủa Giang Nam đau quá! Tuy bài thơ được giải Nhì nhưng sẽ có sức sống vượt thời gian”. Sau khi bài thơ Quê hương được công bố, rất nhiều cuộc mít tinh chớp nhoáng đã lấy bài thơ này ra đọc lên như một sự cổ vũ. “Lúc đó, tôi vô cùng sung sướng, thấy mình như được tiếp thêm niềm đam mê, viết không ngưng nghỉ” – Giang Nam cho biết.

Nguyễn Quang Sáng, Hoài Vũ, Giang Nam, Chim Trắng ở chiến trường Tây Ninh (năm 1974).

Cuộc sống luôn hàm chứa những bất ngờ, cứ đinh ninh vợ con đã bị địch giết chết nhưng giữa năm 1962, bà Chiều và con gái bất ngờ được thả về, do địch không tìm ra căn cứ kết tội. Nỗi vui mừng chưa được bao lâu, năm 1968, vợ Giang Nam lại bị địch bắt lần thứ hai cho đến mãi năm 1973 mới được thả, nhờ một luật sư giỏi bào chữa. Nhớ lại thời kỳ này, giọng ông lại nấc lên: “Suốt hai lần vào tù, ra tội, những ngày dài sống đằng đẵng trong xà lim, đứa con gái duy nhất của tôi vẫn phải bám sát lấy mẹ. Ai có tách ra nó cũng không chịu. Có những ngày bị lạnh tím tái, tưởng chừng như đã ra đi. Có lúc sợ nó nhớ tôi, vợ tôi đã trùm chiếc áo cũ tôi lên người nó. ‘Tận khổ cam lai’, giờ vợ và con tôi vẫn khỏe mạnh. Sau ngày giải phóng, tôi có đi tìm lại người luật sư bào chữa cho vợ tôi để cảm ơn nhưng không gặp”.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, theo điều động của tổ chức, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Năm 1978, chấp hành ý kiến của cấp trên, ông ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn VN. Năm1989 (tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm phó chủ tịch UBND tỉnh – Phụ trách văn xã. Cứ tưởng rằng bước vào đường quan, cảm xúc thơ của ông sẽ giảm đi nhưng đúng như ông nói: “Có về nơi cuối trời vẫn đau đáu với quê hương, với thơ ca. Được làm việc trên quê hương của mình, được phục vụ nhân dân, lại được nhiều người quý trọng và nhớ đến bài thơ Quê hương nổi tiếng nên tôi vẫn miệt mài viết, viết cho đến hơi thở cuối cùng mới thôi”.

Chính trong thời gian làm phó chủ tịch tỉnh, có dịp tiếp cận nhiều hơn với người dân cũng như muôn mặt của cuộc sống nên ông đã cho ra đời trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết. Vì cái đam mê viết nên hiện nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn làm đại diện báo Văn Nghệ tại Khánh Hòa.

Chùm Thơ Người Xa Quê Của Nhiều Tác Giả

Thơ Hay Về Cuộc Sống Xa Quê

Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ Để Thấy Được Cảnh Sắc Mùa Thu Và Nỗi Nhớ Quê Hương

Quê Hương Và Nỗi Nhớ Trong Thơ Bùi Đức Ánh

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Giang Nam

Trường Thpt Nguyễn Thị Minh Khai

Nhà Thơ Giang Nam Và Bài Thơ Quê Hương

Bài Tả Quả Chuối Lớp 5 Hay Nhất

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi

Bài Thơ Quả Na Đặc Sắc : Nuôi Dưỡng Tâm Hồn Thiếu Nhi

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được…

Chưa đánh roi nào đã khóc!

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích…

***

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên – (có ai ngờ!)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại…

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…

***

Hoà bình tôi trở về đây

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa…

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)

Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi…

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi

1960

Bài thơ được sáng tác năm 1960 tại khu căn cứ bí mật Tỉnh uỷ Khánh Hoà ( dưới chân núi Hòn Dù )sau khi nghe tin người vợ thân yêu đang hoạt động nội thành bị giặc bắt tra tấn và hi sinh trong tù. Trong giây phút đau đớn lặng người ông đã viết liền một mạch thơ như trải nỗi đau mình lên trang giấy

Cảm nhận về bài thơ Quê hương của nhà thơ Giang Nam

Quê hương, chỉ hai từ thôi nhưng vô cùng thân thương đến lạ. Quê hương, nơi mình sinh ra, nơi mình lớn lên, nơi lưu giữ những kỉ niệm tuổi thơ. Khi nhắc đến quê hương ai cũng cảm thấy tự hào, đó là một thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao cả.

Và với bài thơ Quê hương của nhà thơ Giang Nam cũng thế. Quê hương, dòng chảy bất tận của ký ức, quê hương là nơi ta tìm về sau những phong ba của cuộc đời.

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.

Những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được…

Chưa đánh roi nào đã khóc

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích

Mắt đen tròn thương thương quá đi thôi.

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ về tuổi thơ, là niềm thương nhớ và yêu quê hương từ thuở “cắp sách tới trường” từ thuở “chăn trâu cắt cỏ”. Không gian thơ mở ra với bàng bạc nỗi nhớ về thuở ấu thơ, với những trò nghịch ngợm của trẻ thơ đó là “trốn học”, “đuổi bướm…Những vần thơ mộc mạc, giản dị càng đọc càng thấm thía về một quê hương tuổi thơ trong kỉ niệm.

Dòng thời gian trôi mãi, tuổi thơ rồi lớn lên, đất nước kêu gọi, cậu bé ngày ấy nay đã trưởng thành, lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Thật bất ngờ, “cô bé nhà bên” ngày xưa ấy cũng trở thành đồng chí:

Cách mạng bùng lên

Rồi kháng chiến trường kì

Quê tôi đầy bóng giặc.

Từ biệt mẹ tôi đi

Cô bé nhà bên – (có ai ngờ)

Cũng vào du kích.

Tình bạn trẻ thơ giờ đã trưởng thành thêm một bậc, sự trưởng thành này phù hợp với hoàn cảnh xã hội chung lúc bấy giờ, như một điều tất yếu.

Chính vì có được nền tảng là tình bạn từ những ngày ấu thơ nên khi bất chợt gặp nhau trên giữa đường hành quân, dẫu “mưa đầy trời” nhưng chàng trai vẫn thấy “lòng tôi ấm mãi” bởi nụ cười khúc khích và cảm xúc “thương thương quá đi thôi” đan xen giữa quá khứ và hiện tại.

Chiến tranh, kẻ thù xâm lược dẫu tàn ác cũng không xóa bỏ được nét trong trẻo trong tâm hồn của những chàng trai cô gái một thời. Họ vượt lên trên sự tàn ác của kẻ thù bằng chính sự thiện lương, trong trẻo được nuôi dưỡng bởi chiều sâu văn hóa, tình người của dân tộc. Điều này Nguyễn Đình Thi đã từng thể hiện:

Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không ngăn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà (Nguyễn Đình Thi – Đất nước).

Bởi thế mà dù trải qua bao thăng trầm, bao súng đạn, bao chiến trường, ngày gặp lại, cô gái ngày xưa ấy vẫn

“Thẹn thùng nép sau cánh cửa

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ

Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)”.

Điệu cười khúc khích như điệp khúc, như từng đợt sóng lòng trùng điệp mà đợt sau cao hơn đợt trước; để rồi chàng trai không cầm lòng được mà:

“Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…”

Tình yêu thời chiến đến thật nhẹ nhàng như một điều hiển nhiên. Tình yêu đôi lứa ấy được đặt trên nền tảng vững chắc của tình bạn thuở ấu thơ và tình đồng chí, cùng chung lí tưởng của khi trưởng thành.

Chính điều này làm cho tình yêu lứa đôi hòa vào tình yêu quê hương đất nước, cái riêng đã hòa vào cái chung khiến cho tình yêu chung cho quê hương thêm sâu sắc mà cũng khiến cho tình cảm riêng càng trở nên rộng lớn, bền vững hơn.

Ít ai biết bài thơ có một nguyên mẫu trong đời thực: “cô bé nhà bên” chính là người vợ, người bạn đời của tác giả. Hoàn cảnh bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh khá đặt biệt: Năm 1960, nhà thơ nhận được tin vợ và con mình bị giặc giết hại trong nhà tù Phú Lợi; cảm xúc cuộn lên chất ngất, ngay trong đêm bài thơ được ra đời, những câu thơ cứ ùa về cùng với nỗi đau không thể kìm nén:

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật

Giặc bắn em rồi quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng anh chết nửa con người.

Nỗi đau xót đến tê tái, đến chết lịm người khi nghe tin “em” bị “giặc bắn em rôi quăng mất xác” tình cảm càng bền vững, càng nên thơ khi mất càng gây đau đớn. Từ cô bạn ấu thơ, rồi đồng đội đồng chí, đến người yêu, giờ “giặc bắn em rồi quăng mất xác” càng đau đớn, càng xót xa và tố cáo tội ác của giặc xâm lược.

Tình yêu quê hương bây giờ đã khác:

Xưa yêu quê hương vì có hoa có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Tình riêng giờ hòa vào tình chung, không chỉ là ở nghĩa biểu tượng mà ở nghĩa thực của nó. Quê hương không chỉ là khái niệm chung chung mà gắn với người con gái ta yêu, là một phần của cuộc đời, một phần không thể tách rời của thân thể.

Chàng Tây “xuyên Tạc” Thơ Qua Đèo Ngang

Phân Tích Bài Thơ ‘qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan

Phân Tích Nhận Xét Của Tế Hanh Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”

Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Đôi Điều Cảm Nhận Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Củabàhuyện Thanh Quan

Các Bài Thơ Về Chủ Đề Quê Hương Đất Nước Bắc Hồ

Soạn Bài: Quê Hương – Ngữ Văn 8 Tập 2

Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một ?

“Bài Thơ Quê Hương”, Một Bài Thơ Ít Biết Của Nguyễn Bính – Nguyễn Đình Minh – Hội Nhà Văn Hải Phòng – Văn Hải Phòng – Văn Thơ Hải Phòng – Văn Học Hải Phòng

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )

Bài Văn: Phân Tích Bài Thơ “Quê Hương”

1.Thơ: “ về quê”

“ Nghỉ hè bé lại thăm quê

Được đi lên rẫy, được về tắm sông

Thăm bà rồi lại thăm ông

Thả diều câu cá sướng không chi bằng

Đêm về bé ngắm ông trăng

Nghe ông kể chuyện chị Hằng ngày xưa

Bà rang đậu lạc thơm chưa

Mời ông bà, bé say sưa chuyện trò”

( Nguyễn Thắng)

2.Thơ: “ Ảnh Bác”

Nhà em treo ảnh Bác Hồ

Bên trên là một lá cờ

Ngày ngày Bác mỉm miệng cười

Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà

Ngoài sân có mấy con gà

Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi

Em nghe như Bác dạy lời

Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa

Trồng rau, quét bếp, đuổi gà

Thấy tàu bay Mĩ nhớ ra hầm ngồi

*

Bác lo bao việc trên đời

Ngày ngày Bác vẫn mỉm cười với em…

Trần Đăng Khoa

3.Thơ: “ bác Hồ của em”

Khi em ra đời

Đã không còn Bác

Chỉ còn tiếng hát

Chỉ còn lời ca

Chỉ còn câu chuyện

Chỉ còn bài thơ

Mà em vẫn thấy Bác sao rất gần

Năm điều Bác dạy mãi còn vang ngân

4. Dậy sớm

Ai dậy sớm

Bước ra nhà

Cau ra hoa

Đang chờ đón

Ai dạy sớm

Đi ra đồng

Có vầng đông

Đang chờ đón

Ai dậy sớm

Chạy lên đồi

Cả đất trời

Đang chờ đón

(Võ Quảng)

5.Hồ Sen

Hoa sen đã nở

Rực rỡ đầy hồ

Thoang thoảng gió đưa

Mùi hương thơm ngát

Lá sen xanh mát

Đọng hạt sương đêm

Gió rung êm đềm

Sương long lanh chạy.

(Nhược Thủy)

6. Bác thăm nhà cháu

Hôm nao Bác đấn thăm nhà

Cháu vui vui cả là hoa ngoài vườn

Bác ôm đầu cháu Bác hôn

Bác thương em cháu xúc cơm vụng về

Bác ngồi ngay ở bên hè

Bón cho em cháu những thìa cơm ngon

Nhìn em mắt sáng xoe tròn…

7. BÔNG SEN DÂNG BÁC

Bông sen đầu mùa

Hương thơm đất nước

Cháu dâng lên Bác

Bác Hồ kính yêu

Nhớ lại một chiều,Mừng sinh nhật

BácTrắm con chim hót

Trăm đóa hoa thơm

Chúng cháu là chim

Là hoa quanh Bác

Ôi gương mặt Bác

Hống hào vui tươi

Bác nói Bác cười

Bác hôn từng đứa

Kẹo thơm mùi sữa

Bác trao đầy tay

Bác ơi từng ngày

Cháu vẫn còn thấy

Bàn tay bác vẫy

Mắt hiền nhìn theo.

Sưu Tầm Một Số Bài Thơ Hay Về Chủ Đề “quê Hương

Bài Thơ Viết Thay Một Nỗi Lòng

Sơn La Ký Sự

Tân Nhạc Vn – Thơ Phổ Nhạc – “Quê Hương” – Đỗ Trung Quân & Giáp Văn Thạch

Những Bài Thơ Ca Ngợi Miền Quê Việt Nam Rất Đỗi Giản Dị Và Thanh Bình

🌟 Home
🌟 Top