Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Tác Giả Của Bài Thơ Quê Hương Là Ai Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Ai Là Tác Giả Của Bài Thơ “đôi Dép” ?

Tả Một Đồ Vật Trong Viện Bảo Tàng Lớp 5

Từ Bài Thơ “đôi Dép” Ngẫm Về Tình Yêu “đôi Lứa”

Thuyết Minh Về Đôi Dép Cao Su

Phút Trải Lòng Hiếm Hoi Của Tác Giả Bài Thơ “đôi Dép”

Bài Thơ: Đôi Dép Thần Kì (Phạm Hổ)

Thậm chí, Nguyễn quang trung – Nam – 21 tuổi – Từ Hà Nam còn đăng một phiên bản khác của bài Đôi dép để dẫn chứng lời mình nói: “Post thêm một phiên bản của bài thơ này nữa_ ai cũng nhận của mình, chả biết đâu mà lần…tuy nhiên đọc đều rất hay…:

Bài thơ đầu anh viết tặng em. Là bài thơ anh kể về đôi dép. Khi nỗi nhớ nhung trong lòng da diết. Những vật tầm thường cũng hoá thành thơ. Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ. Có yêu đâu mà chẳng rời nửa bước. Cùng chung sức những nẻo đường xuôi ngược. Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau. Cùng bước cùng mòn chẳng kẻ thấp người cao. Cùng gánh vác sức người chà đạp. Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác. Số phận chiếc này như phụ thuộc chiếc kia. Nếu một ngày một chiếc dép mất đi. Mọi thay thế đều trở nên khập khiễng. Giống nhau lắm nhưng mọi người sẽ biết. Hai chiếc này không phải một đôi chân. Như chúng mình mỗi lúc vắng nhau. Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía. Dẫu bên cạnh đã có người thay thế. Sao trong lòng nỗi nhớ cửa chênh vênh. Đôi dép vô tri khăng khít bước song hành. Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái. Tôi yêu em ở những điều ngược lại. Gắn bó cuộc đời bởi một lối đi chung. Hai mảnh đời thầm nặng bước song song. Chỉ dừng lại khi chỉ còn một chiếc. Chỉ một chiếc là không còn gì hết. Đến khi nào mới tìm được chiếc thứ hai kia!”

Để minh chứng đây là bài của tác giả Nguyễn Trung Kiên, PHUC VINH – Nam – 40 tuổi – Từ Tp.Hồ Chí Minh kể lại nguồn gốc ra đời bài thơ: “Tôi là 1 một người may mắn được chính tác giả Nguyễn Trung Kiên viết tặng bài thơ này. Đó là 1 buổi tối uống cafe ở Thanh Đa, cách đây hơn 20 năm rồi. Hôm đó Kiên đọc 2 bài thơ để tặng cho mọi người, tôi rất thích cả 2 bài thơ nên Kiên đã tặng cho tôi bài “Chuyện Tình Thủy Tinh” được đánh máy sẵn, còn bài “Đôi dép” Kiên chép lại cho tôi.

Tôi rất thích cả 2 bài này nên đã giữ rất kỹ, hôm nay tình cờ đọc lại bài thơ Đôi dép lòng tôi lại trào dâng những cảm xúc y như lần đầu tiên được chính tác giả Kiên đọc Nhân đây, tôi cũng xin mạn phép Trung Kiên gởi đến các đọc giả yêu thơ bài “Chuyện Tình Thủy Tinh”, bài thơ này gây ấn tượng với mình ở sự cảm thông của Kiên đối với Thủy Tinh – 1 ý lạ nhưng rất thú vị

“Mỵ nương hỡi ngàn năm em có biết? Còn một người mãi tha thiết yêu em? Vì bất công mà lỡ mảnh oan duyên Phải ôm hận dưới đại dương sóng nộ. Em có nhớ buổi cầu hôn hôm đó Trước sân rồng tôi đã trổ oai linh Sức anh hùng đâu thua kém Sơn Tinh So văn võ ngang tài thần núi Tản Khó phân định nên Vua cha ra hạn : Sáng hôm sau dâng Lễ vật cầu hôn Thật bất công khi núi Tản gần hơn Mà em lại thuộc về người tới trước Giữa đại dương làm sao tôi tìm được “Voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao” Những thứ này chỉ có ở núi cao Mà tôi lại là thần coi dưới biển Đám trung thần, vì tôi, xin tình nguyện Hóa thân thành lễ vật để dâng cha Nhưng tới nơi thì em đã đi xa Thua oan ức, Mỵ Nương ơi, có thấu! Đám bạch tuộc, ba ba, cá sấu Lũ tôm cua, cá mập, thuồng luồng Cãi lời tôi, cố theo đuổi Mỵ Nương Để bày tỏ công bằng và lẽ phải Nhưng Sơn Tinh đã ra tay sát hại Giết thủy dân xác ngập, máu tràn Một cuộc tình để trăm mạng thác oan Tôi là kẻ ngàn đời mang tiếng nhục Tôi có thể dùng cuồng phong, bạo lực Tung sóng triều dâng ngập núi Tản Viên Nhưng chỉ vì sợ làm hại đến em Và không muốn máu thường dân phải đổ Em có thấy đại dương cuồng sóng nộ Là mỗi lần tôi thương nhớ đến em Mãi ngàn đời sóng không thể lặng yên Vì thần biển chưa quên tình tuyệt vọng.

BIÊN HÒA THÁNG 8 – TRUNG KIÊN”

Trong khi đó,Nguyễn Việt Hoài – Nữ – 20 tuổi – Từ Hà Nội khẳng định “chắc như đinh đóng cột”: “Bài thơ này vốn là của nhà thơ Puskin nên tôi nghĩ việc sử dụng từ “tác giả” ở đây không thực sự phù hợp. Vì được dịch từ một bài thơ Nga nên có nhiều bản dịch khác nhau cũng là chuyện rất đương nhiên. Bản thân tôi cũng rất thích bản dịch thơ của Nguyễn Trung Kiên. Nó rất hay và giàu cảm xúc, không làm mất giá trị của bài thơ gốc. Tôi biết bài thơ từ khi còn là học sinh cấp 3. Tôi có thể dám chắc bất cứ ai khi đọc bài thơ cũng có những suy nghĩ rất riêng về nó. Việc giữ lại nguyên vẹn được ý nghĩa của bài thơ gốc không phải là dễ. Đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng theo tôi nghĩ bài viết nên có dẫn chứng nguồn cụ thể về tác giả gốc của bài thơ để tránh gây hiểu nhầm và nhầm lẫn”.

Quang trung – Nam – 21 tuổi – Từ Hà Nội mong đợi: “Ôi bài này mình đọc ít nhất là 3 hay 4 phiên bản gì đó, chả biết chính xác mới chính là tác giả Đôi dép luôn… Rất mong được biết tác giả để độc giả chúng tôi còn biết ngưỡng mộ đúng người”.

Tương tự, Võ Văn Mạnh – Nam – 31 tuổi – Từ Tp.Hồ Chí Minh hy vọng: “Cách đây 5 năm mình đọc bài này thấy có một số chỗ khác biệt, chẳng hạn câu “khi nỗi nhớ trong lòng da diết” thì bài trước đó là “khi nỗi nhớ trở nên da diết”…Và một số câu nữa cũng khác. Sở dĩ mình rất nhớ từng câu từng chữ bài thơ này vì nó rất hay, một lối rất đơn giản, nhẹ nhàng…Vần thơ quen thuộc nhưng lại cảm giác rất mới… Hy vọng một ngày nào đó chúng ta sẽ được biết bối cảnh ra đời của bài thơ này”

Ngược lại, Thumap – Nam – 27 tuổi – Từ Hà Nội cho rằng một bài thơ hay là quá đủ không nhất thiết phải “vạch vòi”: “Theo tôi được biết, thì ai là tác giả bài thơ này còn là một vấn đề gây tranh cãi. Một số người nói là của Nguyễn Trung Kiên, một số lại cho rằng đây là của tác giả Thuận Hóa. Về bài thơ với những câu chữ như trên, thì tác giả được ghi là Nguyễn Trung Kiên. Còn bài thơ Đôi dép ghi tác giả là Thuận Hóa thì có khác đi một số từ. Tuy nhiên, tôi trân trọng nội dung bài thơ, thấy cái hay của nó vượt lên trên tầm những tranh cãi vụn vặt về quyền tác giả. Một bài thơ tuyệt vời!”.

Một lần nữa, Bui Hong Nhung – Nữ – 22 tuổi – Từ Hà Nội bày tỏ nguyện vọng không chỉ của riêng mình: “Mình cũng thích bài thơ này từ rất lâu rồi. Nó rất ý nghĩa. Tuy nhiên, rất nhiều bản truyền khác nhau, mình cũng không biết tác giả thực sự của bài thơ này. Theo mình, bài thơ tuyệt vời này thì mình cũng như mọi người đều rất yêu thích và trân trọng nội dung của nó. Chính vì vậy, mình nghĩ, tác giả thật sự của bài thơ nên có tiếng nói, để mọi người không những được biết đến, được trân trọng người đó mà quan trọng là có thể giữ được nguyên bản của bài thơ. Mình trân trọng và yêu nó bởi chính cái nội dung giản dị nhưng đi vào lòng người. Một lần nữa mình cảm ơn và rất muốn biết tên tác giả của bài thơ!”

Đôi Dép Bác Hồ Nguồn Cảm Hứng Thi Ca

Bài Thơ Đôi Dép (Nguyễn Trung Kiên)

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Đôi Dép

Thơ Về Ngày 20/11 ❤️ Bài Thơ Hay Về Thầy Cô Ý Nghĩa

Các Bài Hát Về Thầy Cô Và Mái Trường Ngày 20/11 Hay Nhất

Thử Tìm Hiểu Ai Là Tác Giả Bài Thơ Thần

Từ “Nam Quốc Sơn Hà”, “Bình Ngô Đại Cáo” Đến “Tuyên Ngôn Độc Lập”

Soạn Bài: Nói Với Con – Ngữ Văn 9 Tập 2

Gợi Ý Đọc Hiểu Bài Thơ “Nói Với Con”

Bài Văn: Gợi Ý Đọc Hiểu Bài Thơ “Nói Với Con”

Nói Với Con Của Y Phương

THỬ TÌM HIỂU AI  LÀ TÁC GIẢ BÀI THƠ THẦN – NAM QUỐC SƠN HÀ.

  Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

  Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

                        Tạm dịch:

Sông núi nước Nam vua Việt ở,

Sách trời đã định rõ mười mươi.

Nếu như giặc cướp sang xâm phạm,

Chúng sẽ thấy ngay thất bại thôi.

1- Xuất xứ:

Bài thơ “Thần – Nam Quốc Sơn Hà – NQSH ” được xem là bài Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt, từ lâu bài thơ này luôn gắn với tên tuổi của Lý Thường Kiệt (1019-1105), xuất phát từ cuộc kháng chiến chống nhà Tống xâm lăng năm 1077, kết thúc bằng trận chiến trên sông Như Nguyệt, được ghi lại trong Đại Việt Sử Kí Toàn Thư  như sau:

“Mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu  thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, ….sang xâm lấn nước ta. Vua sai Lý thường Kiệt đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn 1 nghìn người, Quách Quỳ lui quân, lại lấy châu Quảng Nguyên của ta. (Người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào dọc theo sông để cố thủ. Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên phân định tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” 

Sau đó quả nhiên như thế.”

Ngoài ra bài thơ này còn xuất hiện ở nhiều văn bản khác với những khác biệt nhất định, đáng kể nhất là Lĩnh Nam Chích Quái.

            “Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần nhân cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to, gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Hoàng thiên dĩ định  tại thiên thư.

Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,

Bạch nhẫn phiên thành phá trúc dư.

Quân Tống nghe thơ, xéo đạp vào nhau mà chạy tan…Lê Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân …sai dân phụng thờ …nay vẫn còn là phúc thần”. cho rằng tác giả NQSH có thể là đại sư Khuông Việt hay như Lê Mạnh Thát tên thật là Dương Minh Nghiêm, Pháp Hiệu là Không Lộ, quê ở Hải Thanh, Giao Thủy, Tỉnh Nam Định. Ông xuất thân làm nghề chài lưới, nhưng giỏi văn chương và mộ đạo Phật. Không Lộ kết bạn tu hành với các Thiền sư Từ Đạo Hạnh và Giác Hải, tôn Đạo Hạnh làm huynh trưởng, nhưng cùng Giác Hải đi vân du rồi cùng về tu tại chùa Hà Trạch trong khi Đạo Hạnh về tu tại chùa Sài Sơn, Quốc Oai. Không Lộ là một thiền sư lớn đời Lý được phong làm Quốc sư, đã từng tu các chùa Nghiêm Quang (chùa Keo), Hà Trạch, Chúc Thánh. Không Lộ vừa được xem là thiền sư thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông vừa được cho là thuộc thiền phái Thảo Đường.

Sự nghiệp văn chương của Thiền sư Không Lộ hiện nay còn hai bài thơ, Ngôn hoài và Ngư nhàn, ở đây tôi đặc biệt tìm hiểu về bài Ngôn hoài, từ đó đem so sánh với bài Nam Quốc Sơn Hà để thấy những mối tương đồng giữa hai bài thơ.

擇得龍蛇地可居, 

野情終日樂無餘。 

有時直上孤峰頂, 

長叫一聲寒太虛。

Ngôn hoài (NH)                                                                                                                                              

Trạch đắc long xà địa khả cư,

Dã tình chung nhật lạc vô dư.

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh,

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Tạm dịch :

     Nỗi lòng.

Chọn được đất thiêng để ở đời,

Tình quê vui thú suốt ngày chơi.

Đúng thời lên thẳng non cao xanh thẳm,

Hét một tiếng vang lạnh thấu trời.

Bài Ngôn hoài là một kiệt tác của Không Lộ, do đó cần nghiên cứu bài thơ một cách toàn diện, từ thân thế tác giả, không gian và thời gian bài thơ ra đời, ngôn từ được xử dụng trong bài thơ, biện pháp nghệ thuật và thông điệp mà bài thơ mang lại, cuối cùng là xâu chuỗi tất cả những yếu tố ấy vào một chỉnh thể thống nhất. Chỉ khi nào làm được như thế ta mới thuyết phục được chính mình và người đọc.

Câu 1. Trạch đắc long xà địa khả cư,

Bài thơ này trước đây đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bình giảng, như Đặng Thai Mai đã viết: không thấy có thuật ngữ long xà địa, vậy chúng ta tìm hiểu theo hướng khác.

– Trong Kinh Dịch viết rằng: “Long xà chi chập, dĩ tồn thân dã ” dịch nghĩa  “rồng rắn mà ẩn nấp cốt để giữ  mình vậy”

 Như thế là đã rõ, thuật ngữ  “long xà” có nghĩa là ở ẩn, ẩn ở đây không phải là tìm vào chốn xa xôi, hẻo lánh, mà là hòa mình vào cuộc đời của người quân tử khi chưa đúng thời. Người quân tử ở đây là người có khả năng giúp nước, giúp đời, khi quốc gia hữu sự thì người quân tử phải dấn thân mà bảo vệ tổ quốc, khi hòa bình thì họ cũng như bao công dân khác hòa mình vào xã hội, âm thầm xây dựng quê hương (rồng thành rắn hay rồng đất). Như thế câu này có nghĩa là: Chọn được cuộc đất tốt có thể ở được.

            Như tiểu sử của ông cho biết, ông sinh năm 1016, chỉ sáu năm sau khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, ông đã lớn lên cùng với hào khí của một đất nước trong một vận hội mới, một thời kỳ mà chưa một triều đại nào trước đó làm được, đó là khẳng định nền độc lập của đất nước, từ nền độc lập này, nước Việt đã phát triển trên mọi mặt, nhất là đối với nhân dân, những người luôn phải chịu đau khổ trước nhất khi không có hòa bình, độc lập. Mọi hoài bão đó được gởi vào hai chữ  “Thăng Long”.  “Thăng Long” là  “rồng dậy, rồng lên”, như thế có nghĩa là rồng này không phải ở trên trời mà từ mặt đất, từ lòng người, là ý chí độc lập, tự cường, là khát vọng hòa bình, hạnh phúc. Tự cái việc dùng từ  “Thăng” đủ cho thấy Lý Thái Tổ đã nhận thức về sức mạnh của nhân dân như thế nào, “Thăng Long” cũng chỉ cho bản thân Lý Thái Tổ mà cũng là tiêu biểu cho nhân dân. “Thăng” là  “vươn từ dưới lên”, như  “thăng tiến”, chuyển từ trạng thái sang trạng thái khác, như  “thăng hoa”, điều đó cho thấy yếu tố phong thủy chỉ là thứ yếu trong quyết định này, điều này đã thể hiện rõ trong Chiếu dời đô, trước là “trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân” sau mới nói địa thế  “rồng sinh, hổ ở”.

            Sau những nhiễu nhương của triều đại trước đó, chính Thiền sư Vạn Hạnh đã chủ động đề nghị Lý Công Uẩn hãy vì quốc gia mà nắm lấy triều chính và chắc chắn rằng những công việc triều chính sau đó phải có sự tham gia của Vạn Hạnh, tất nhiên quyết định dời đô về Đại La không nằm ngoài dự tính của Vạn Hạnh. Ngày nay, khi đọc vào lịch sử, chỉ thấy ghi lại chiếu chỉ dời đô ngắn ngủi của Lý Thái Tổ, nhưng chúng ta phải hiểu rằng để đi đến một quyết định như vậy, triều đình nhà Lý, rút kinh nghiệm từ những sự kiện xảy ra trước đó, đã phải bàn bạc, cân nhắc trên mọi lãnh vực, sao cho tại kinh đô mới phải củng cố được mọi mặt, từ chính trị, quân sự, văn hóa, kinh tế. “Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chổ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” ,. Như đã nói ở trên, Không Lộ sinh năm 1016, như vậy ông đã lớn lên cùng với âm vang từ Chiếu Dời Đô của Lý Thái Tổ, chiếu chỉ này chắc chắn phải được thường xuyên nhắc nhở trong triều đại nhà Lý sau đó, hay như cách ta nói ngày nay là “quán triệt”. Mấy mươi năm sau ông trở thành quốc sư thì nhất định ông phải nằm lòng chiếu chỉ này, tất nhiên ông hiểu và thời đó có lẽ ai cũng hiểu “thăng long” là “rồng đất”, là sức mạnh của nhân dân.

Câu 2. Dã tình chung nhật lạc vô dư.

“Dã” là thôn quê, “tình” là tình cảm, tâm tư, ở đây là đời sống tinh thần nơi thôn dã, nhưng tại sao lại là đời sống tinh thần nơi chốn quê mà không phải là thành thị, đây chính là cái tài của tác giả. Thông thường trong một quốc gia, thôn quê là nơi ít được hưởng thụ những thành quả của xã hội nhất, thế mà ở đây người dân nơi thôn quê lại được hưởng trọn vẹn thành quả của xã hội trên mọi mặt thì những thành phần khác trong xã hội phải ngang bằng hoặc hơn, như ta nói: “Ở Việt Nam, người nghèo nhất cũng có một chiếc xe hơi” thì cũng có nghĩa là những thành phần còn lại phải có một hoặc hơn một chiếc xe hơi. Đây là một nghệ thuật dùng từ mà ngày nay ta gọi là biện pháp tu từ, dùng cái thấp nhất để chỉ cái cao nhất, rõ ràng tác giả dùng từ rất đắt.  “Vô dư” lấy từ nhà Phật, nghĩa là không còn gì, “lạc vô dư” có nghĩa là vui không sót, vui không thiếu lãnh vực nào, không còn gì không được vui.

Như ta biết, lịch sử nước ta được viết bằng máu, bằng sự hy sinh của biết bao thế hệ, không một gia đình, dòng họ nào ở nước Việt mà không có người đã hy sinh nơi chiến trận, một đất nước hết bị phương bắc xâm lăng thì phía nam quấy phá, trong một quốc gia như vậy thì chiến tranh luôn là nỗi lo, không những của người nắm giữ vận mệnh của quốc gia, dân tộc, mà còn là của nhân dân, bởi vì chiến tranh đồng nghĩa đau thương, mất mát và đói khổ, không phải chỉ đau thương mất mát trên chiến trường, mà nỗi đau đó kéo dài theo những gia đình khi con mất cha, vợ mất chồng, nhà tan, cửa nát. Còn đau đớn hơn nữa khi tổ quốc bị ngoại bang cai trị, như Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống hầm tai họa

 …………

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi ! ”                           

Thỉnh thoảng cũng có hòa bình thì gặp phải cảnh hôn quân, bạo chúa, thế là có hòa bình nhưng chưa phải thái bình, chính vì vậy khát vọng một cuộc sống trong một quốc gia độc lập, thái bình, thịnh trị, trên thì có vua anh minh, dưới thì các quan liêm khiết, là khát vọng vô cùng to lớn của người dân Việt trong mọi thời đại. Việc đời đô từ Hoa Lư về Thăng Long và những năm tháng thái bình sau đó là minh chứng cho sự nhìn xa trông rộng của Lý Thái Tổ dưới sự cố vấn của Quốc sư Vạn Hạnh, nó cho thấy sự đồng lòng từ vua quan cho đến thứ dân, quyết định đó đã làm thay da đổi thịt đất nước trên mọi mặt, quốc gia thì thái bình, thịnh trị, luật pháp thì khoan hồng mà nghiêm minh, văn hóa thì thăng hoa rực rỡ, nhân dân thì ấm no hạnh phúc, do vậy dù ở chốn thôn dã mà vẫn hưởng thụ được thành quả của thái bình, không phải chỉ là cơm ăn, áo mặc mà trên tất cả các lãnh vực khác của cuộc sống, đó là niềm vui trọn vẹn, thế mới gọi là “chung nhật lạc vô dư“. Một quốc gia mà nơi thôn quê, dân dã lại được hưởng trọn vẹn tất cả những thành quả của xã hội thì biết rằng xã hội đó tiến bộ thế nào. Không Lộ cũng lớn lên và tận hưởng niềm vui chung đó, ông đã chứng kiến sự phát triển của quê hương trên mọi mặt và hương vị của thái bình đã thấm vào tâm hồn ông, với tất cả những gì mà ông trải nghiệm, ông đã gởi gắm vào câu  này.

Câu 3. Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh,

            Chữ “thời” ở đây là chữ “thời” trong  Kinh Dịch, có nghĩa là thời cơ, cơ hội, vận hội, vì ở câu một ông đã dùng “long xà địa” cũng trong Kinh Dịch, hơn nữa nếu ta hiểu “hữu thời” là có khi hay thỉnh thoảng thì yếu quá so với khí lực của bài thơ; đồng thời không tương hợp với nội hàm ngữ nghĩa của hai chữ “trực thướng” và không liên kết được với ý sau của câu thơ.

“Trực thướng” nghĩa đen là lên thẳng, nghĩa bóng là ngay tức khắc.

“Cô phong đỉnh” là đỉnh núi chon von, núi đứng một mình, vì không có núi nào cao để so sánh với nó, nghĩa bóng là chủ quyền quốc gia.

Vui là thế, thanh bình là thế, niềm vui lớn quá, cứ tưởng chừng như nhân dân nước Việt giờ đây quên hết những đau thương mất mát khi ngoại bang xâm lăng nước họ rồi, không đâu! người dân Việt tuy được vui hưởng thái bình, nhưng họ nhận thức được rằng trong mỗi bát cơm ăn, một đêm yên giấc thanh bình là kết quả của sự độc lập, thái bình, những đau thương mất mát của cha ông đã kết tinh vào trong tâm thức họ ý thức chủ quyền quốc gia, tuy không bộc lộ ra ngoài, nhưng dòng tâm thức đó vẫn luân lưu trong mỗi người dân Việt, hơn ai hết, họ biết rằng làm sao hạnh phúc được khi đất nước bị mất chủ quyền, bị ngoại bang xâm lăng dày xéo, tuy ngày ngày vui nơi thôn dã, làm rắn sống giữa đồng, nhưng khi quốc gia hữu sự, lập tức rắn hóa thành rồng, đứng lên chung sức, chung lòng bảo vệ sơn hà xã tắc. Không Lộ là quốc sư, mà tiêu chí để vua triều Lý phong làm quốc sư thì đâu phải chỉ biết xem ngày lành, tháng tốt, đất thịnh, hướng thông, mà phải là con người có tầm nhìn đối với quốc gia đại sự, để tham mưu, cố vấn cho triều đình trong việc trị quốc an dân. Với tư cách là một thiền sư thì ông cố vấn cho triều đình lãnh vực nào ngoài văn hóa – tư tưởng, mà văn hóa cao nhất và cũng là nhiệm vụ thiêng liêng nhất trong một quốc gia đó là lòng yêu nước, do đó chắc chắn rằng dưới sự cố vấn của ông, triều đình luôn nhắc nhở, giáo dục người dân về lòng yêu nước, bảo vệ non sông. Từ tầm nhìn vĩ mô ông nhận biết rằng tuy vui trong thanh bình như thế, nhưng mỗi người Việt luôn có lòng tự hào dân tộc, do vậy khi có bất cứ thế lực nào xâm phạm quốc gia, thì đó chính là lúc (hữu thời) và ngay tức khắc (trực thướng) họ đứng trên lập trường chủ quyền quốc gia (cô phong đỉnh) để đối mặt với quân thù. Hình ảnh một người leo thẳng lên đỉnh núi cao chót vót mà theo chữ Nho trong bài thơ gọi là “cô phong đỉnh” là một hình tượng độc lập, hùng vĩ và rất đẹp. Cô là trơ trọi, không có gì chung quanh, có nghĩa là chẳng có ngọn núi nào khả dĩ so sánh được, hình ảnh ngọn núi cao vút đứng một mình thẳng hướng lên trời cao là hình ảnh vô cùng mạnh mẽ, hùng tráng nhưng cô độc, ngọn núi cao là vậy, hùng vĩ là vậy, thì làm sao thỉnh thoảng lại leo thẳng lên đỉnh núi được, ai mà leo cho nỗi, do vậy đây là ngọn núi tâm linh, văn hóa, ngọn núi này mỗi người dân Việt ai cũng có trong lòng, chính vì vậy, khi cần thiết là ngay tức khắc họ có mặt ở non cao, nơi ngày ngày quận tụ hồn thiêng sông núi, đây cũng chính là hình ảnh của thiền, hình ảnh bất khả tư nghị, bất khả tỷ giảo, cũng như đỉnh cao của trí tuệ giác ngộ, cái trí tuệ mà kẻ giác ngộ không thể chia sẻ với ai, không thể so sánh với cái gì, cũng như trong một nước, chủ quyền quốc gia là cái duy nhất không có gì có thể so sánh và đánh đổi được. 

            Câu 4. Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

            Như vậy trong lòng mỗi người dân Việt luôn có một đỉnh núi, một ý thức về chủ quyền quốc gia, ý thức đó tuôn chảy từ đời này sang đời khác, nhưng vấn đề là những kẻ xâm lược luôn tìm mọi cách để phủ nhận điều đó, chính vì vậy chủ quyền này cần phải được tuyên bố, nhất là khi chủ quyền của nước nhà bị xâm phạm, từ ý thức chủ quyền, ở trên đỉnh núi cao đó, ngay tức khắc họ long trọng tuyên bố với thế giới rằng nước Việt là một nước có chủ quyền. Ở đây tác giả dùng từ thét, mà thét dài (trường khiếu), nó cho ta thấy sự dõng dạc, cương quyết và hùng tráng. Khi ta quá đau khổ ta cũng thét, khi ta quá hạnh phúc ta cũng thét, thét là một ngôn ngữ ở đỉnh cao hay có thể nói là siêu ngôn ngữ, nó được dùng để diễn tả những gì mà ngôn ngữ có nói cũng không thể nói hết được, mà nền độc lập, chủ quyền của quốc gia có được là từ máu xương của Tổ tiên nước Việt và bao thế hệ xây dựng nên thì bút mực, lời nói nào diễn tả cho hết. Trong đạo thiền, tiếng thét cũng là ngôn ngữ của người giác ngộ, chỉ có tiếng thét mới làm cho kinh hãi cả ba cõi, thấu khắp cả tam thiên, chứ cái ngôn ngữ đối đãi thì làm sao mà diễn tả được cái sâu thẳm của đạo được, thế mới gọi là nói mà không nói, hay ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt vậy. Còn đối với một đất nước thì chỉ có tiếng thét, không những thét mà còn thét dài và chỉ thét dài một tiếng (nhất thanh) mới có thể nói lên được cái ý thức chủ quyền, độc lập là to lớn đến chừng nào, tại sao lại thét dài một tiếng, vâng! một tiếng thôi, hàng triệu triệu người con Việt, dị khẩu đồng âm (khác miệng giống lời) cùng thét dài lên một tiếng, một lập trường, một ý thức “độc lập” có như thế mới làm cho những kẻ xâm lược rởn tóc gáy, lạnh cả người, cả thế giới phải im lặng lắng nghe (hàn thái hư).

Không phải ngẫu nhiên mà người đời sau đặt tên bài thơ này là “Ngôn hoài – lời hoài bão”, hoài bão của một con người, một công dân, một dân tộc, hoài bão đó là gì nếu không phải là một quốc gia hưng thịnh, thiên hạ thái bình, dựa trên một nền độc lập, tự cường, sẵn sàng bảo vệ nền độc lập ấy bằng bất cứ giá nào nếu như có bất cứ ai, bất cứ thế lực nào xâm phạm.

So sánh hai bài thơ: Nam Quốc sơn hà và Ngôn hoài.

            Câu 1.     Nam quốc sơn hà nam đế cư,

                            Sông núi nước Nam vua Việt ở,

                           Trạch đắc long xà địa khả cư,

                          Chọn được đất thiêng để ở đời,

            Sông núi nước Nam vua Nam ở, câu này khẳng định lãnh thổ của nước Nam và thiết chế chính trị.

Chọn được đất thiêng để định đô, kinh đô là chỗ ở của vua, là mảnh đất trung tâm chính trị của một đất nước, là tiêu biểu cho một quốc gia, như đã nói ở trên “Thăng Long” là “rồng đất”, con rồng phương nam, con rồng đặc hữu của Việt Nam, mà đất của rồng phương nam thì vua nam ở, đó là điều tất nhiên. Rõ ràng câu này cũng để khẳng định chủ quyền về lãnh thổ và thiết chế chính trị.

Như vậy hai câu này hoàn toàn giống nhau về ý và cả cách hành văn nữa “Nam quốc sơn hà – trạch đắc long xà” “đế cư – khả cư”.

            Câu 2.   Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.

                           Sách trời đã định rõ mười mươi.

                           Dã tình chung nhật lạc vô dư.

                           Tình quê vui thú suốt ngày chơi.

Mới nghe qua, ta tưởng hai câu này khác nhau nhưng kỳ thật chúng giống nhau. Sao bảo là giống nhau?

Như ta biết, Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ  là một văn bản thiêng liêng lúc bấy giờ, chắc chắn các nho sinh phải học tập nằm lòng, các quan triều Lý cũng không ngoại lệ. Trong Chiếu Dời Đô viết “trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân”. Như vậy trong bài Nam Quốc Sơn Hà dùng vế trước, còn Ngôn Hoài thì dùng vế sau của một câu, hai vế tuy khác nhau về ngôn từ nhưng ý chỉ là một, vì trời cũng chính là dân và dân cũng chính là trời, nhưng khi ta dùng để nói với kẻ mệnh danh là “thiên triều” thì ta phải dùng“trời” mà trả lời, thế mới tương xứng. Câu này khẳng định lãnh thổ đó, thiết chế chính trị đó đã được công nhận bởi công lý thế giới.

Câu 3 –    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

                           Nếu như giặc cướp sang xâm phạm,

                            Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh,

    Đúng thời vội thẳng lên non thẳm,

Câu này trong Nam Quốc Sơn Hà là cụ thể hóa ý “hữu thời”, chính vào lúc, khi giặc sang, ở đây nói xâm phạm là xâm phạm chủ quyền, xâm phạm  “cô phong đỉnh” xâm phạm điều thiêng liêng nhất của một đất nước.  Hai câu này tuy câu chữ khác nhau, nhưng ý tứ liền lạc với nhau, điều này dễ hiểu, vì bài Nam Quốc Sơn Hà nhằm mục đích đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh tâm lý, đối tượng là số đông nên ngôn từ phải rõ ràng, dễ hiểu.

 Câu 4 –   Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

                           Chúng sẽ thấy ngay thất bại  thôi.

                           Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

                           Hét một tiếng vang lạnh thấu trời.        

Câu kết này tuy nặng nhẹ khác nhau, nhưng cũng có ý như nhau, Nam Quốc Sơn Hà thì nói thẳng quân giặc sẽ thấy thất bại, còn Ngôn Hoài thì làm cho quân thù nghe mà ớn lạnh, khiếp vía, kinh hồn.

Về con người:

– Cả hai đều quan đầu triều (nếu ta xem quốc sư như một chức quan hay tương đương).

– Cả hai cùng tham gia trận đánh. (Đã là quan trong triều không lẽ không biết đất nước đang lâm nguy)

Về bài thơ:

– Cùng được viết trong một thời đại.

– Cùng chuyên chở một thông điệp.

– Cùng giống ý trong từng câu.

– Cùng vận (cư) và lối hành văn.

Chỉ có một điều khác duy nhất, đó là một người là tác giả một trong hai bài thơ, còn người kia chỉ là người cho đọc bài thơ, chứ không phải là tác giả.

Với những phân tích và so sánh trên ta có thể nói rằng bài thơ này chính là anh em sinh đôi của bài kia, mà một trong hai có khai sinh rõ ràng, thì người anh em kia chắc phải là cùng một mẹ, hay nói khác bài Nam Quốc Sơn Hà là chiếc bóng của bài Ngôn Hoài, do đó Không Lộ có thể là tác giả bài thơ này, hay chính là tác giả bài thơ này, bài Nam Quốc Sơn Hà – Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta./.

Theo tôi “thiên thư” ở đây là Lạc thư, tức là sơ đồ vũ trụ chỉ thế giới hiện tượng trong của Dịch học. Đây là văn hóa ảnh hưởng lên hầu hết các lãnh vực của đời sống ngày xưa, xin đưa ra đây vài ví dụ:

“Ông giăng mà lấy bà trời, mùng năm dẫn cưới, mùng mười rước dâu”. Ca dao

“Trai mồng một, gái hôm rằm, nuôi thì nuôi vậy nhưng căm dạ này”. Ca dao.

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu” Trần Nhân Tông.

– Lý Tế Xuyên (Nguyễn Hữu Mục dịch) Việt Điện U Linh, Nxb Văn học, 1972, tr 70-71

Hội Nhà Văn Tp. HCM, Báo Văn nghệ, số 12. 21-3-2009.

Theo Thuyền Uyển Tập Anh thì Thiền sư Không Lộ (? – 1119) không biết năm sinh, chỉ có năm mất. Hiện nay giới nghiên cứu hầu như đồng ý với niên đại mà sách Quốc sư bảo lục của Đặng Xuân Bảng ghi chép, tại phần Thiện Đình, Tuần Phủ Đặng tiên sinh khảo bạt của sách này cho biết Không Lộ sinh năm Bính Thìn, niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 (1016) triều Lý Thái Tổ, mất năm Giáp Tuất, niên hiệu Hội Phong thứ 3 (1094) triều Lý Nhân Tông. Phạm Đức Duật “Tạp chí Hán Nôm” số 6 (91) 2008; tr 62- 70

Nhận thấy mốc thời gian này phù hợp với tinh thần mà bài thơ Ngôn hoài mang lại, do đó trong bài này tôi sử dụng mốc thời gian này để định hình không gian và thời gian cho bài thơ; đồng thời từ đó hình dung ra giai đoạn lịch sử mà bài thơ ra đời.

Sđd tr. 41

Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người Quân tử, Nxb Văn Hoá, Hệ từ truyện – Thiên hạ – Chương 5, tiết 3,  tr. 483

遍覽越邦。斯爲勝地。誠四方輻輳之要会。爲万世帝王之上都。遷都詔.

[15] Rồng biến thể từ rắn là đặc hữu của Lạc Việt. Đây cũng có thể là một yếu tố cho thấy Kinh dịch có thể là của người Việt.

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Thích bài này:

Thích

Đang tải…

Ai Đã Đọc Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Ở Đền Trương Tướng Quân

Ông Obama Đọc Bài Thơ Thần “nam Quốc Sơn Hà” Của Lý Thường Kiệt

Ai Là Tác Giả Bài Thơ: Nam Quốc Sơn Hà

Hoạt Động Học Văn Học: Thơ “Mẹ Và Cô”

Phân Tích Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng

Tác Giả Bài ‘gánh Mẹ’ Rốt Cuộc Là Ai?

“Gánh Mẹ” Sẽ Thuộc Về Ai?

Quách Beem “Vừa Ăn Cắp Vừa La Làng” Khi Tố Ngược Tác Giả Bài Thơ “Gánh Mẹ”

Quyền Tác Giả: Đăng Ký Không Có Nghĩa Là Được Công Nhận !

Gọi Bạn – Thi Phẩm Ca Ngợi Tình Bạn Của Nhà Thơ Định Hải

Kế Hoạch Giáo Dục Lqvh Thơ “gà Mẹ Đếm Con”

Tác giả bài ‘Gánh mẹ’ rốt cuộc là ai?

TTO – Trên mạng xã hội, nhạc sĩ Quách Beem và một nhà thơ tự xưng là Trương Minh Nhật liên tục khẳng định mình là tác giả của phần lời ca khúc “Gánh mẹ”.

Ngày 23-10, một tài khoản Facebook có tên là Trương Minh Nhật lên tiếng khẳng định bài thơ Gánh mẹ do người này sáng tác bị nhạc sĩ Quách Beem (tên thật là Đoàn Đông Đức) “đạo” để viết thành ca khúc cùng tên.

Theo đó, tài khoản Trương Minh Nhật khẳng định bài thơ Gánh mẹ từng được ông sáng tác vào tháng 7-2014 và chia sẻ công khai trên mạng xã hội để bạn bè cùng đọc.

Người này còn chia sẻ cả biên bản viết tay giữa mình với Quách Beem vào ngày 11-10 về việc phía nam nhạc sĩ muốn hợp tác với ông trong sản phẩm âm nhạc có tên Gánh mẹ 2 – mà theo ông là để tránh tai tiếng đạo thơ của ca khúc Gánh mẹ.

Hình ảnh được tài khoản Trương Minh Nhật đăng tải vào đúng ngày 20-10 – Ảnh: FBNV

Cụ thể, tài khoản Trương Minh Nhật viết:

“Tôi là Trương Minh Nhật, tác giả gốc của bài thơ Gánh mẹ bị ông Đoàn Đông Đức (Quách Beem) sử dụng trái phép toàn bộ mà chưa được sự đồng ý của tôi để phổ nhạc thành ca khúc Gánh mẹ mang danh nghĩa do ông ấy sáng tác.

Nay tôi yêu cầu ông Đoàn Đông Đức phải đính chính lại trong tất cả các ấn phẩm có bài hát Gánh mẹ trên các phương tiện thông tin truyền thông nơi ông Đoàn Đông Đức phát hành ca khúc và trang cá nhân ông Đoàn Đông Đức cho đúng sự thật”.

 

Gánh mẹ là ca khúc nhạc phim của “Lật mặt 4: Nhà có khách” ra mắt vào cuối tháng 4-2019 – Nguồn: Ly Hai Production

Tài khoản Trương Minh Nhật cũng cho biết sau khi người này đăng tải thông tin trên lên mạng xã hội, đã có những số điện thoại lạ gọi đến và hù dọa.

Bằng chứng về bản quyền bài hát Gánh mẹ được Quách Beem đăng tải công khai trên mạng xã hội – Ảnh: FBNV

Thông qua trang mạng xã hội chính thức của mình, nhạc sĩ Quách Beem khẳng định không lấy cắp chất xám khi sáng tác ca khúc Gánh mẹ mà người “đạo nhái” chính là người tự xưng mình là nhà thơ Trương Minh Nhật.

“Tôi ca nhạc sĩ Quách Beem – tác giả của bài hát Gánh mẹ và có đầy đủ giấy tờ hợp pháp về bản quyền. Bài hát Gánh mẹ được tôi sáng tác, ký âm ngày 25-10-2013 và được Cục Bản quyền tác giả của Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch cấp phép.

Ông Trương Minh Nhật vu khống tôi và hình ảnh chụp màn hình trên Facebook của ông ấy vào ngày 31-7-2014 đã lấy lời bài hát của tôi sửa thành thơ của mình. Chúng tôi đã yêu cầu ông ấy cung cấp giấy tờ bằng chứng hợp pháp về bản quyền nhưng ông ấy không đưa ra được bất cứ giấy tờ bằng chứng gì.

Ông ấy nói ông ấy là bằng chứng sống. Bài hát viết từ 2013, còn bài thơ ông ấy bảo ông ấy công bố từ năm 2014 thì ai là người ăn cắp của ai đã rõ”.

Hình ảnh đoạn email do Quách Beem đăng tải chứng minh Trương Minh Nhật “tống tiền” mình – Ảnh: FBNV

“Tôi đã không muốn nói đến vấn đề này vì thật sự sự việc này không có căn cứ, vô lý và tôi tôn trọng ông Trương Minh Nhật vì ông lớn hơn tôi. Nhưng sự việc đi quá xa bởi những hành vi xúc phạm, vu khống, nhắn tin, tống tiền, khủng bố tôi.

Đây là một hành động không đúng pháp luật, quấy rối, làm nhục người khác. Ông đã kêu gọi những Facebooker ảo vào khủng bố trang cá nhân, tung thông tin vu khống tôi. Tôi đã báo cáo sự việc lên các cơ quan pháp luật và đang chờ xử lý”.

Chưa biết thực hư câu chuyện trên ra sao nhưng lùm xùm giữa Quách Beem và tài khoản tên Trương Minh Nhật đang khiến nhiều khán giả hoang mang: rốt cuộc ai mới là tác giả của phần lời ca khúc Gánh mẹ?

Hiện tại cả hai đều thông tin rằng đã báo sự việc lên các cơ quan có thẩm quyền và đang chờ xử lý. Phía Quách Beem cũng khẳng định sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật về tất cả thông tin mà mình đưa ra.

1.001 sắc thái đạo văn trong nghiên cứu khoa học

TTO – Đạo văn không chỉ xảy ra trong sáng tác văn học, mà còn xuất hiện trong nghiên cứu khoa học dưới nhiều hình thức. Điều đáng nói là người đạo văn vẫn vô tư “thó” công trình của người khác mà không hề cảm thấy tội lỗi.

 

TIẾN VŨ

Chỉ Vì Ghen Với Chồng Mà Trở Thành Nhà Thơ Nổi Tiếng?

“Ghen Ăn Tức Ở” Chỉ Tổ Làm Khổ Bản Thân!

Những Câu Nói Hay Về Sự Ghen Ăn Tức Ở Hay – Chất – Thấm Nhất Dành Cho Các Thành Phần Gato

Những Bài Thơ Về Tình Yêu Hay Nhất Thế Giới

Chủ Đề: Các Phương Tiện Giao Thông Đường Thủy

Chuyện Tình Hai Sắc Hoa Ti Gôn Và Ai Là Tác Giả Của Những Bài Thơ Ttkh

99+ Những Bài Thơ Hay Về Cuộc Sống Và Tình Yêu

Chùm Thơ Hay Cho Bé 3 Tuổi Tìm Hiểu Thế Giới Xung Quanh

Các Bài Thơ Hay Về Tình Anh Em, Tình Cảm Bạn Bè Hay Và Ý Nghĩa

Những Bài Thơ Ngắn Hay Về Tình Anh Em Cảm Động Nhất

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Những Bài Thơ Hay Về Anh Em Trai , Chị Em Gái Hay Nhất

Phong trào thơ mới ra đời sau năm 1930, thi sĩ không còn bị gò bó trong những nguyên tắc phức tạp của thơ Đường, thi sĩ tự do diễn đạt cảm nghĩ và cảm xúc của mình.

Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn ra đời trong những năm đầu của phong trào thơ mới. Với nghệ thuật diễn đạt truyền cảm, nội dung đượm nét u buồn của một mối tình dang dở, tác giả TTKH đã cuốn hút giới yêu thơ, và ai là người sáng tác những bài thơ TTKH? Nhiều suy đoán khiến cho Hai Sắc Hoa Ti Gôn và TTKH trở thành một huyền thoại.

TTKH đã chìm trong bí ẩn một thời gian rất dài.

Hoa ti gôn, Antigone fleur, do người Pháp mang qua Việt Nam, trồng ở những biệt thự của họ. Hoa thuộc loại dây leo màu trắng và màu hồng, người Miền Nam gọi là bông nho.

Câu chuyện mở đầu. Chuyện ngắn “Hoa Ti Gôn” của tác giả Thanh Châu được đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 174, xuất bản tại Hà Nội ngày 27-9-1937. Nội dung chuyện ngắn Hoa Ti Gôn kể lại mối tình buồn của một họa sĩ. Họa sĩ Lê Chất.

Họa sĩ nầy thường đạp xe đi tìm cảnh đẹp, tình cờ thấy một thiếu nữ với sắc đẹp quyến rũ đứng dưới giàn hoa ti gôn trước nhà. Lê Chất mải mê đứng nhìn người đẹp. Khi sắp bước vào nhà, thiếu nữ phát hiện có người nhìn mình.

Từ đó, ngày nào họa sĩ cũng đạp xe đến biệt thự cũ, nhìn giàn hoa, tìm hình bóng của thiếu nữ đã in sâu vào tâm trí ông.

Lê Chất đã được gặp nàng vài lần thôi. Thế rồi ngôi nhà vắng bóng mỹ nhân, nhưng hình bóng cũ vẫn không phai mờ trong lòng chàng họa sĩ. Một thời gian sau, Lê Chất nổi tiếng, tranh vẽ được ưa chuộng và bán giá cao họa sĩ trở nên giàu có, một hôm, tình cờ gặp lại người đẹp dưới giàn hoa ti gôn năm xưa, trong một bữa tiệc. Người đẹp dưới hoa cho biết tên là Mai Hạnh, chồng là một người có quyền thế và giàu có.

Những ngày sau đó, mối tình lãng mạn đã đến. Mai Hạnh thường đến thăm người họa sĩ. Họ dự định bỏ trốn đi xa, nhưng lại sợ dư luận khinh bỉ, tiếng đời mỉa mai, tiêu đời họa sĩ, nên không thành.

Chuyện tình dang dở dưới giàn hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu truyền cảm hứng để bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn ra đời.

Ít lâu sau, bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn ra đời trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 179 ngày 30-10-1937. Tác giả là TTKh.

Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn của tác giả TTKh

Hai Sắc Hoa Ti Gôn

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

Trời ơi, người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ

Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

TTKH

Ngay khi bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn ra đời, giới nghệ sĩ xôn xao, vừa ngậm ngùi thương cảm cho một cuộc tình dang dở, vừa xót xa cho hoàn cảnh bi đát của người thiếu nữ mà tâm tình không có nơi nương tựa. Đã mất người yêu, mất mối tình đầu đời và mất tình yêu của người chồng. Cô đơn quá:

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ

Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

*

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.

*

Thi sĩ Jean Leiba (Lê Văn Bái) có những câu thơ đề tặng TTKh:

Anh chép bài thơ tự trái tim

Của người phụ nữ lỡ làng duyên

Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ

Yên ủi anh và để tặng em.

(J. Leiba)

Thi sĩ Nguyễn Bính viết bài thơ Dòng Dư Lệ để tặng TTKH

Mở đầu:

Cho tôi ép nốt dòng dư lệ

Rỏ xuống thành thơ khóc chúc duyên.

Chuyện tình Hai Sắc Hoa Ti Gôn được nhạc sĩ Trần Trịnh phổ nhạc năm 1958, do Hoàng Oanh hát, làm não lòng người nghe.

Trần Thiện Thanh soạn nhạc, soạn giả Viễn Châu soạn lời ca vọng cổ, do Bạch Tuyết Hùng Cường trình diễn.

Nhạc sĩ Song Ngọc có bài “Nếu biết tôi lấy chồng”

Bản nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng tựa đề “Dĩ vãng một loài hoa” là hay nhất.

Câu chuyện cũng được dịch ra tiếng Pháp, đăng trên báo Pháp với tựa đề Deux Couleurs de Antigone Fleur, cũng gây xôn xao trong giới sinh viên Việt Nam du học thời đó.

Hoa ti-gôn hai sắc

Người ấy thường hay liếc ngó tôi

Áo cài một nút núi đồi phơi

Ống voi, lưng xệ model mới

Người ấy thường hay ngơ ngẩn ngồi … :”))

Nếu biết rằng anh Ngựa Hoang rồi

Em dzìa lấy rạ thả trôi sông

Nhử mồi anh đến cho em cỡi

Hổng mát lòng thì cũng ……chạy rông… !!!!!

Tác giả. Mây Lang Thang

Mùa thu được văn nghệ sĩ dùng để tả nổi buồn. Mùa hè nóng bức, mùa đông lạnh lẽo, mùa thu mát dịu, lá vàng rơi…là nguồn cảm hứng của văn, thi, nhạc sĩ.

Mùa thu là thời gian cảnh vật chuyển mình, lá hoa héo úa, lá vàng rơi. “Từ đấy thu rồi, thu lại thu. Lòng tôi còn giá đến bao giờ”. Do chu kỳ thời gian, thu đến rồi thu đi, hết năm nầy qua năm khác, tấm lòng băng giá của người phụ nữ biết đến bao giờ mới chấm dứt đây?. “Lòng tôi băng giá đến bao giờ”?.

Niềm đau được nhà thơ Xuân Diệu vẽ bằng một bức tranh buồn bã, ảm đạm vô cùng.

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;

Đây mùa thu tới – mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng”.

(Đây mùa thu tới của Xuân Diệu)

Không gì đau đớn cho bằng vợ bị người chồng hất hủi.

*

“Và một ngày kia tôi phải yêu

Cả chồng tôi nữa lúc đi theo

Những cô áo đỏ sang nhà khác

Gió hởi làm sao lạnh rất nhiều”

(Bài Thơ Thứ Nhất-TTKH)

Sau hơn 30 năm chìm trong vòng bí mật, năm 1970, nhà văn Nguyễn Vỹ tiết lộ, Thâm Tâm là bút hiệu của Nguyễn Tuấn Trình. Thâm Tâm làm thơ, Nguyễn Tuấn Trình làm nghề vẽ.

Nhà văn Nguyễn Vỹ là bạn của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình, kể lại:

“Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình là một thanh niên đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, có phong độ hào hoa, lịch thiệp.

Một đêm, cả hai chúng tôi ở nhà trọ, nhậu ngà ngà say, Tuấn Trình kể lại cuộc tình của anh với cô Khánh.

Trần Thị Khánh là học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ, thi rớt vào trung học nên ở nhà giúp mẹ làm nội trợ. Nhà cô Khánh ở đường Sinh Từ, sát bên cạnh vườn Thanh Giám, nơi thờ Khổng Tử.

Trong nhiều bài viết, có tác giả cho rằng Vườn Thanh là Thanh Hóa, điều đó không đúng.

Thanh Giám là một thắng cảnh của Hà Nội, được xây từ thời nhà Lý, Vườn hình chữ nhật, tường bao quanh bằng đá ong, cao hai mét.

Đền thờ ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, bên cạnh hồ có hai bia đá ghi tên tiến sĩ đời nhà Lê. Trong vườn có cây cổ thụ và nhiều cây kiểng, là nơi yên tĩnh, mát mẻ cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò, tâm sự.

Nhiều bầy quạ tối nào cũng bay về ngủ cho nên người Pháp đặt tên là Chùa Quạ (Pagode des Corbeax). Tên chính thức là Đền Khổng Tử (Temple de Confucius).

Nguyễn Tuấn Trình thường đến thăm người cô nhà ở sát Chợ Hôm, ông thấy sáng nào cô Khánh cũng đi chợ ngang qua nhà người cô. Khánh là một thiếu nữ rất đẹp, gây ấn tượng trong tâm trí Tuấn Trình.

Vào khoảng tháng 2 năm 1936. Tuấn Trình 19 tuổi, cô Khánh 17 tuổi. Sau vài tháng theo dõi và tìm cơ hội làm quen, Tuấn Trình gặp mặt và làm quen được với cô Khánh. Lúc đó Tuấn Trình vẽ và viết bài cho tờ báo Bắc Hà, ông gởi báo tặng cô Khánh. Người thiếu nữ 17 tuổi cảm mến người nghệ sĩ tài hoa. Tình yêu chớm nở khi những cành ti gôn trước sân nhà cô Khánh hé nụ.

Lúc đó, Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm, làm những bài thơ tỏ tình gởi tặng cô Khánh, nhưng cô gái 17 tuổi dè dặt, theo lễ giáo gia đình nên không ngỏ lời đáp ứng tình yêu tha thiết của Tuấn Trình.

Trong khi những cặp tình nhân trẻ dắt nhau đi du ngoạn những cảnh đẹp hữu tình của Hà Nội, thì Trần Thị Khánh vẫn từ chối lời mời đến nơi hẹn của Thâm Tâm, cô thường nói: “Thầy mẹ em nghiêm lắm. Gia đình em nghiêm lắm”. Cô thường lập đi lập lại câu đó.

Chỉ có hai lần Khánh đến nơi hẹn nhưng không lâu.

Lần thứ nhất. Một đêm trăng ở vườn Thanh Giám, đôi trai gái gặp nhau nhưng cả hai không nói được nhiều. Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối. Tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, lúc đó quên hết.

“Thầy mẹ em nghiêm lắm” rồi Khánh chạy về nhà.

Lần thứ hai. Cũng tại vườn Thanh Giám, thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu, rồi cô buồn bã hỏi: “Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ em, cho chúng mình?”.

Chàng thi sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ, đáp: “Anh chưa nghĩ đến chuyện ấy”.

Có lẽ Tuấn Trình cảm thấy mình chưa đủ điều kiện để được gia đình nhà gái chấp nhận, hoặc chưa đủ điều kiện để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Chỉ vì nghèo.

Hai bên còn viết thơ qua lại với nhau, cho đến một ngày…Tuấn Trình biết được người tình lên xe hoa.

Tuấn Trình biết được chồng của Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ, không con. Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc xe citroen mới toanh. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi bên người chồng mặc áo gấm xanh.

Trái với dự doán, Khánh rất hạnh phúc với chồng.

Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình buồn vì mối tình dang dở, mất người yêu, vì thân phận nghệ sĩ nghèo, Tuấn Trình thức suốt đêm làm bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn, ký tên TTKh.

Để giữ bí mật, ông nhờ cô em họ chép lại bài thơ bằng mực tím, nét chữ con gái, bỏ vào bao thơ, dán kín và đem tới tòa soạn tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy.

Theo ông Nguyễn Vỹ thì cô Khánh không biết làm thơ cho nên tất cả những bài thơ tác giả TTKh là do Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình là tác giả.

Huyền thoại. Hai Sắc Hoa Ti Gôn sở dĩ nổi tiếng của thi ca thời đó là do những nhà thơ phụ họa, và được quần chúng yêu thơ phổ biến rộng rãi.

Vài nét tổng quát về Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình

Nguyễn Tuấn Trình sanh ngày 12-5-1917 tại Hải Dương. Mất ngày 18-8-1950 tại Cao Bằng (33 tuổi). Ông thuộc gia đình nhà giáo nghèo, đông con, 7 anh chị em.

Học hết tiểu học, ông ở nhà phụ giúp gia đình, đóng sách và nấu bánh kẹo. Khoảng 1936, ông cùng gia đình lên Hà Nội. Hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, ông phải kiếm sống bằng làm đồ gốm, vẽ tranh ở Bờ Hồ, rồi viết bài đăng báo và làm thơ. Bài của ông được đăng tải trên các báo: Ngày Nay, tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, báo Bắc Hà…

Năm 1946, ông tham gia kháng chiến, nhập ngũ và làm Tổng thư ký tòa soạn báo Vệ Quốc Quân. (sau là Báo Quân đội Nhân dân). Ngày 18-8-1950, trên đường đi công tác trong chiến dịch Biên giới, ông mất sau một cơn bịnh đột ngột. Các đồng chí và người dân mai táng ông ở huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.

Vợ ông là bà Phạm Thị An (1920-2005- 85 tuổi). Ông có một con trai duy nhất tên Nguyễn Tuấn Khoa.

Có ý kiến cho rằng sở dĩ Nguyễn Tuấn Trình không cho biết sự thật về mối tình và TTKh, là do ông sợ bị bạn bè chê cười và chế giễu vì là người bị người tình đá. Nhưng theo tôi nghĩ thì có hai lý do để Nguyễn Tuấn Trình giữ bí mật chuyện tình và tác giả TTKh.

Trước hết, Nguyễn Tuấn Trình muốn giữ hạnh phúc gia đình của người thiếu nữ mà anh yêu, nói ra cũng chẳng có lợi lộc gì, chẳng có thay được gì. Ván đã đóng thuyền rồi.

Kế đó, cần giữ bí mật để mọi người thương cảm cho người thiếu nữ với mối tình dang dở, đau khổ vì mất người yêu và mất hạnh phúc gia đình.

Người ta thương mến hoàn cảnh của người thiếu nữ, nhưng nếu người phụ nữ đó trở thành nhà thơ đàn ông với bút hiệu Thâm Tâm thì người ta chỉ khen nhà thơ có những bài thơ hay mà thôi. Không có huyền thoại.

Hơn nữa, năm 1946, Tuấn Trình tham gia kháng chiến, giữ chức vụ Tổng thư ký tòa soạn báo Vệ Quốc Quân. Với chức vụ khá cao, có thể ông được kết nạp vào Đảng cho nên những bài thơ TTKh không mang quan điểm lập trường đấu tranh giai cấp vô sản, mà nó chỉ là sản phẩm của tiểu tư sản cho nên không còn lưu luyến với những bài thơ trong quá khứ.

“Bài Thơ Thứ Nhất” Tiểu Thuyết Thứ Bảy (20-11-1937)

“Đan Áo Cho Chồng” đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm

“Bài Thơ Cuối Cùng” Tiểu Thuyết Thứ Bảy (23-7-1938)

Gởi Cho chúng tôi (Thâm Tâm)

Màu Máu Ti Gôn (Thâm Tâm)

Dang Dở (Thâm Tâm)

Bài thơ Hai Sắc Hoa Ti Gôn nổi tiếng và trở thành huyền thoại do những bí ẩn bao trùm suốt 30 năm.

Những bài thơ ký tên TTKh xuất hiện rồi biến mất, để lại trong lòng người yêu thơ những câu hỏi mà chưa có câu trả lời trong suốt một thời gian dài.

Chuyện tình người thiếu nữ đau khổ vì mất tất cả, mất mối tình đầu, mất người yêu đầu đời, mất hạnh phúc gia đình vì bị người chồng hất hủi khiến cho người yêu thơ xúc động và thương cảm.

Các nhạc sĩ: Trần Trịnh, Anh Bằng, Trần Thiện Thanh, Song Ngọc phổ nhạc bài thơ.

Năm 1970, nhà văn Nguyễn Vỹ tiết lộ: TT là Thâm Tâm, bút hiệu của Nguyễn Tuấn Trình. Kh là người yêu Trần Thị Khánh.

Trên thực tế, Trần Thị Khánh sống rất hạnh phúc với người chồng giàu có.

Trúc Giang Minnesota ngày 18-10-2019.

Trần Thị Khánh không biết là thơ cho nên những bài thơ ký tên TTKh đều do Nguyễn Tuấn Trình là tác giả.

Những Câu Thơ Hay Về Trà

Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính Lớp 9

Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật

Phân Tích Bài Thơ Số 28

Nguồn Gốc Câu Nói: Dân Thanh Hóa Ăn Rau Má

🌟 Home
🌟 Top