Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Phiên Âm Âm Vị Học Bài Thơ Bánh Trôi Nước Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học

Trả Lời Chính Thức Của Viện Ngôn Ngữ Học Về Đề Xuất Cải Cách Chữ Viết Của Ông Bùi Hiền

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Hay Nhất

Phân Tích Hình Ảnh Người Phụ Nữ Qua Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Vẻ Đẹp Của Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Bài Thơ

Một Số Đề Ôn Thi Vào Lớp 10

Ngữ âm học và âm vị học

Việc nghiên cứu ngôn ngữ âm thanh của con người thuộc cấp độ âm vị học. Đối tượng âm thanh tiếng nói con người có thể được 2 ngành khác nhau nghiên cứu là ngữ âm học và âm vị học. Cùng tìm hiểu về các đặc điểm âm thanh, tiếng nói con người nhưng chúng có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

1. Âm thanh tiếng nói con người, về bản chất là vô tận bởi tuỳ theo các đặc điểm cá nhân khác nhau, các đặc điểm về hoàn cảnh phát âm khác nhau, mục đích phát âm khác nhau mà tiếng nói phát ra có những phần khác nhau.

Ngữ âm học là ngành nghiên cứu về cơ chế tạo sản các âm thanh của tiếng nói con người, cho nên, ngoài việc mô tả một cách chính xác cơ chế đó hoạt động như thế nào thì cần phải đặc tả một cách chính xác các sự biểu hiện khác nhau của tiếng nói ấy, tức là các kết quả của cơ chế tạo sản âm thanh tiếng nói con người. Chính vì thế, các dạng thể âm thanh là vô hạn. Và đơn vị của ngữ âm học là các âm tố, tức là các âm thanh tự nhiên của tiếng nói con người.

Ngược lại, bởi vì con người sống theo xã hội, theo cộng đòng nên muốn giao tiếp được với nhau thì người ta phải có mã do cộng đồng quy định sử dụng. Dẫu người ta có thể khác nhau về các đặc điểm tâm lí, sinh lí, trình độ học vấn, địa phương cư trú nhưng muốn để giao tiếp được, truyền được thông điệp, yêu cầu của mình tới người khác thì mã âm thanh sử dụng phải có tính xã hội hoá. Chính vì vậy, sự khác nhau về dạng thể giữa các âm thanh của có những hình thức, những biến thể của những đơn vị âm thanh mang chức năng trong xã hội loài người. Những đơn vị âm thanh mang chức năng đó được ngôn ngữ học là các âm vị. Theo nguyên tắc tối thiểu về đặc điểm cấu trúc, tối đa về khả năng sử dụng, các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ buộc phải là hữu hạn và đếm được.

Sự phân biệt giữa ngữ âm học và âm vị học về mặt đơn vị có nguồn gốc từ một lưỡng phân nổi tiếng của F. de Saussure (1913) về sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Theo ông, người ta không bao giờ lặp lại được lời nói của chính mình, cho nên, lời nói là vô hạn, lời nói biến đổi theo hoàn cảnh, theo thời gian và theo không gian. Ngược lại là thiết chế của xã hội, là một trong những đặc điểm để xác định tộc người của quốc gia nên tính ổn định của nó rất cao, cao như hoặc cao hơn các thiết chế xã hội khác). Ổn định về ngôn ngữ để nối tiếp được các thế hệ với nhau trong cả một truyền thống lịch sử; đồng thời, ổn định về ngôn ngữ còn có tác dụng liên kết những nhóm người ở những vùng đất khác nhau thành một quốc gia. Trong tính ổn định như vậy, ngôn ngữ được tao nên bằng các giá trị hữu hạn, có tính hệ thống. Sự phản ánh mối quan hệ giữa lời nói và ngôn ngữ trong âm vị học trở thành sự đối lập giữa ngữ âm học và âm vị học.

2. Để quan sát được các hiện tượng âm thanh tiếng nói con người, các nhà nghiên cứu có thể tận dụng tất cả các phương tiện kĩ thuật và máy móc. Với yêu cầu tính chính xác và chi tiết về đặc điểm âm thanh, người ta có thể nhìn các âm tố từ nhiều bình diện khác nhau:

– Từ bình diện sinh lí cấu âm;

– Từ bình diện thẩm nhận âm thanh;

– Từ bình diện thực thể âm thanh.

Ở tất cả các bình diện này người ta đều sử dụng các quan niệm có thánh chất khoa học tự nhiên để nghiên cứu âm thanh, nghĩa là mô tả về các đặc điểm cấu trúc của âm thanh, giống như ở trong thế giới tự nhiên, các hiện tượng là vô tận thì các đặc điểm về âm thanh tiếng nói con người cũng vô tận như vậy. Chính vì theo quan điểm của khoa học tự nhiên nên ngữ âm học chia các hiện tượng âm thanh thành các loại thể âm thanh cũng tương tự như sinh vật học phân loại các giống loài thực vật và động vật có trong thiên nhiên, dựa trên các đặc điểm hình thể. Ngược lại, đối với âm vị học, do xuất phát từ định đề coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội nên sự phân loại các hiện tượng âm thanh cũng như sự nhận diện ra các đặc điểm âm thanh là theo quy chiếu của chức năng của âm thanh đối với giao tiếp xã hội. Như vậy, có nghĩa là có rất nhiều các đặc điểm cấu trúc của âm thanh không được sử dụng làm gì trong quan điểm âm vị học, do đó nó không có chức năng phục vụ xã hội và bị coi là dư thừa, không mang tính âm vị học.

Ví dụ:

3. Nghiên cứu âm thanh theo quan điểm cơ chế tạo sản và sự phân loại có tính hình thức về âm thanh theo quan điểm của ngữ âm học sẽ dẫn đến chủ nghĩa cân đối hình thức của các âm. Đó là sự nghiên cứu các âm lí tưởng lẫn các âm hiện thực, các âm tiềm năng và các âm đã được sử dụng.

1, Số thanh bằng phải ít hơn nếu hệ thanh đó thiên về hệ thanh đường nét;

2, Số thanh đi lên, hoặc có thành phần đi lên ở cuối cấu trúc thanh, nhiều hơn so với số thanh đi xuống, hoặc có thành phần đi xuống;

3, Nếu như hệ thanh thiên về bằng phẳng thì số thanh đường nét phải ít hơn so với số thanh bằng.

Đó chính là cái lí ở trong thực tế, cái lí của sự tồn tại. Xu hướng của con người là tìm đến sự đơn giản nên không thể có những sự kiện âm thanh quá phức tạp, có những cấu trúc bị đánh dấu đến mức vừa khó phát âm, vừa khó cảm thụ lại khó nhớ. Đó chính là quan điểm của âm vị học khi nhìn vào các hiện tượng âm thanh: ngôn ngữ là của con người, ngôn ngữ phải phục vụ con người theo nguyên tắc tiết kiệm và ít bị đánh dấu, mang tính tự nhiên cao.

Bất kì ngôn ngữ nào, cho đến ngày nay, tồn tại được và phục vụ con người được cho con người đều phải trải qua những quá trình tiếp xúc với những nền văn hoá khác nhau. Những va chạm và tiếp xúc ấy đã làm cho tính cân đối của hệ thống âm thanh (nếu có) bị mai một, biến dạng đi theo thời gian trước những nhu cầu sử dụng rất khác nhau của con người đối với ngôn ngữ.

Ví dụ: Tính cân đối giữa âm môi vô thanh-hữu thanh của loạt trước trong tiếng Việt đã từng tồn tại trong thời xa xưa (trước thế kỉ 17). Nhưng do áp lực từ những tiếp xúc khác nhau đối với tiếng Hán cận hiện đại, tiếng Hán thổ ngữ mà âm /p/ đã bị tiêu biến đi. Từ sau năm 1987 trở lại đây, hình như đã có dấu hiệu xuất hiện trở lại của âm /p/. Do nhu cầu định danh cho sự vật mới, người Việt phải vay mượn các từ có gốc Ấn-Âu. Ngược lại, sự kết hợp trong vần giữa /–/ và /-w/, /–/ và /-w/ để tạo nên các vần /u/ và /w/ là một sự kết hợp rất Mon-Khmer, nhưng do tiếng Việt tiếp xúc với các ngôn ngừ Tày-Thái ở phía bắc (đây là những ngôn ngữ mà ngay cả âm

4. Để phân biệt âm thanh tiếng nói con người với âm thanh của các loài vật khác, người ta căn cứ vào các cơ chế sinh lí học của các cơ quan phát âm, khả năng thụ cảm của các cơ quan thính giác và thần kinh. Ví dụ như, đẻ mô tả sự tạo thành một phụ âm, người ta phải căn cứ trên các thuộc tính sau đây về sinh lí cấu âm:

Ví dụ:

Như vậy, âm của mọi người đều giống nhau vì đó là nguyên lí chung để định nghĩa âm thanh con người, phân biệt với các loài khác. Đó là quan điểm mang tính tự nhiên về bản chất âm thanh con người. Do đó, người ta nói ngữ âm học mang bản chất nhân loại, bản chất thế giới. Chính vì thế, ngay từ thế kỉ 19, các nhà ngữ âm học thế giới đã lập cho mình một hội nghề nghiệp mang tên Hội Ngữ âm học quốc tế – IPA.

Vậy, ngữ âm học là ngành nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người không phân biệt tuổi tác, giới tính, quốc gia…

Còn âm vị học không mang tính nhân loại, âm vị học là ngành nghiên cứu hệ thống âm thanh của một cộng đồng xác định. Cộng đồng ấy là chủ nhân của một hệ thống âm thanh. Họ sử dụng nó cho những mục đích rất khác nhau trong đời sống giao tiếp cộng đồng. Và vì họ nằm lòng ngôn ngữ ấy, hệ thống âm thanh ấy ngay từ khi còn trong bụng mẹ nên họ có trực cảm về nó như là một vật rất thân quen nhưng lại không ý thức được điều đó.

* Tóm lại:

Có hai ngành nghiên cứu về âm thanh tiếng nói con người vì đối tượng, phương pháp, phương pháp luận và mục đích giữa hai ngành là khác nhau. Một bên nghiên cứu về bản chất âm thanh tiếng nói con người nói chung cho nên mang tính phổ niệm, tính khái quát; một bên là nghiên cứu về một hệ thống âm thanh được sử dụng ở một cộng đồng hoặc một phạm vi cụ thể nên nó mang tính đặc thù. Hiểu được sự khác nhau giữa hai ngành học này, người ta có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu một cách hiệu lực cho những lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: trong việc phục hồi chức năng của những người bị bệnh lời nói thì phải sử dụng ngữ âm học nhưng trong việc nhận diện ra các bệnh thất ngôn thì người ta phải dùng các kết quả của âm vị học. Cũng tương tự như vậy, để dạy cho người nước ngoài nói tiếng Việt thì phải tận dụng các kiến thức của ngữ âm học nhưng để phân biệt các giọng nói khác nhau của từng vùng đất khác nhau trong một quốc gia thì phải có thái độ âm vị học (phân biệt từ địa phương về mặt ngữ âm và từ địa phương về mặt từ vựng).

Nguồn: Ngonngu.net

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Hồ Xuân Hương

Cảm Nhận Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Đề Số 4: Phân Tích Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Để 2 1 Chép Thuộc Phần Phiên Âm Và …

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh

Ngữ Văn 8 Tập 2 Siêu Ngắn Gọn Dễ Hiểu

Đề Kiểm Tra Học Kỳ Ii Năm Học 2022

Phân Tích Bài Thơ Ngắm Trăng Của Hồ Chí Minh Văn Hay Chọn Lọc Lớp 8

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Tâm Hồn Của Bác Qua Bài Thơ Ngắm Trăng (Dàn Ý + 5 Mẫu)

Phiên âm

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,

Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

Dịch thơ:

Trong tù không rượu cũng không hoa,

Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;

Người ngắm trăng soi ngoài cửa số,

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

– Hoàn cảnh sáng tác:Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết của Bác.

Câu 2:a.Phép tu từ

_Phép tu từ nhân hóa:”trăng nhòm”-Điệp Từ”ngắm”

b.Giá trị nhân hóa:Trăng được nhân hóa có khuôn mặt và ánh mắt như người,người và trăng đồng điệu,chung hòa.Như thể bác Hồ và trăng hết sức gắn bó,thân thiết

*Giá trị điệp từ:Từ “ngắm” được đệp lại hai lần,nghệ thuật đối xứng nhấn mạnh hình ảnh trăng và người.Đó là tư thế ngắm trăng cực đẹp,hướng tới cái đẹp của cuộc đời.

(xin lỗi,mik ko giúp đc câu 3)

Câu 4:

Sự hoán đổi vị trí câu thơ thứ tư khiến cho con người trở thành đối tượng chiêm ngưỡng của trăng.Con người trở thành cái đẹp tỏa sáng.

Như thế,trăng và người là sự sánh đôi của cái đẹp.Hai cái đẹp đó cùng đối diện và tỏa sáng bên nhau tạo ra một sự cộng hưởng.Ngục tù lúc này trở thành nơi gặp gỡ-tương giao-tỏa sáng của cái đẹp.

Câu 5 :

Bài Ngắm trăng viết trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, giới thiệu một tư thế ngắm trăng độc đáo, biểu lộ một phong thái sống ung dung, chủ động ngay trong những cảnh ngộ ngặt nghèo. Bài thơ kết tinh cao độ phong thái sống của Hồ Chí Minh. Ở đây, sự vượt ngục đã hoàn thành một cách thần kì, sự phấn đấu đã trở nên hài hòa, thư thái.

Trong tù không có rượu, cũng chẳng có hoa là sự bình thường, việc cố nhiên. Nhưng thấy cảnh đẹp mà bối rối (nại nhược hà) thì không phải là việc bình thường, dễ thấy. Tại sao lại bối rối? Trăng đẹp thì ngắm trăng. Thường người đời chỉ ngắm trăng khi lòng thư thái, thanh nhàn, dư dật về kinh tế, có rượu, có hoa. Khi ấy Bác đang ở trong tù, dư dật, nhàn nhã gì mà ngắm trăng? Chúng ta sống ngoài đời tự do mà cũng ít khi để ý đến vầng trăng tròn, khuyết trên đầu. Trong truyện ngắn Trăng sảng của Nam Cao, bà vợ nông dân của văn sĩ – nhà giáo khổ Điền đã gắt lên với chồng khi ông này gọi bà để khoe trăng sáng quá: Trăng sáng thì tắt đèn cho đỡ tốn hai xu dầu, chứ có gì mà phải gọi!

Đêm tù ấy, Bác chẳng có phương tiện vật chất gì để thưởng nguyệt. Nhưng chẳng lẽ để vẻ đẹp ấy trôi qua vô ích? Nên Bác mới bối rối. Dịch nại nhược hà (làm thế nào bây giờ) thành khó hững hờ cũng gọn nhưng chưa cho thấy hết cái lúng túng của một tâm hồn nghệ sĩ bất ngờ gặp cảnh đẹp của thiên nhiên. Câu thơ mở đầu trần trụi như một bản kiểm kê, tả cảnh sống người tù. Câu thơ thứ hai đã tả tâm hồn của một thi nhân với thi hứng dạt dào, tinh tế, thơ mộng. Cái thơ mộng này đối chiếu với cái thực tế ở câu trên tạo nên một thi vị hóm hỉnh của Hồ Chí Minh. Bác yêu vầng trăng trên đầu, nhưng Bác không quên cái cùm sắt cụ thể dưới chân. Thơ mộng nhưng không viển vông. Thiết thực nhưng không chặt đi đôi cánh của trí tưởng tượng. Chính đôi cánh ấy đã giúp Bác bay ra ngoài song sắt lúc nào không hay.

A Ipitphut Phần 1Bar Đọc Hiểu (50 Đ…

Tác Phẩm: Tĩnh Dạ Tứ

Thơ Chế Cực Hài Hước

Lý Bạch – Nhà Thơ Đường Nổi Tiếng Về Uống Rượu Ngâm Thơ

Lý Bạch Đứng Ở Đâu Ngắm Trăng Trong Bài “Tĩnh Dạ Tư?”

Phân Tích Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Soạn Bài: Bánh Trôi Nước

Bánh Trôi Nước/ Thơ Hồ Xuân Hương/ Ngân Triều Chú Giải

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Đề bài: Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước”

Bài làm

Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước”– Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm. Các sáng tác của bà thường thâm đượm những tâm tư, tình cảm và nói lên số phận bấp bênh, trôi nổi của người phụ nữ. Bài thơ “Bánh trôi nước” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Hồ Xuân Hương.

Bài thơ là một bài vịnh về bánh trôi nước. Những câu thơ tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát một cách đầy đủ nhất về màu sắc, hình dáng cũng như cách chế biến món bánh này.

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Chỉ cần đọc những câu thơ lên, hình ảnh những chiếc bánh trôi quen thuộc đã hiện lên trước mắt bạn đọc với tất cả những gì tinh khôi nhất. Những chiếc bánh trắng ngần, tròn trịa trông thật thích mắt và nó còn đánh thức vị giác của rất nhiều người. Để có được một chiếc bánh trôi thơm ngon, chúng ta phải trải qua một quá trình chế biến. Bánh được làm bằng bột nếp xay nhỏ rồi hòa với nước cho nhuyễn ra. Người ta vo thành hình tròn như quả táo xanh rồi cho nhân vào giữa. Nhân bánh được làm bằng đường đen vo viên, khi chín đường sẽ chảy ra, thấm dần vào bột tạo cảm giác ngọt lịm nơi đầu lưỡi. Ai thích ăn ngọt nữa thì nấu mật với một chút gừng thành hỗn hợp sệt để ăn cùng bánh. Họ cũng rắc thêm một chút vừng rang giòn ra bên ngoài vỏ bánh để thêm thơm ngon. Người ta đun nước sôi rồi cho bánh vào. Ban đầu bánh sẽ chìm và khi nào bánh nổi thì có nghĩa là bánh đã chín. Vì được làm thủ công nên bánh ngon hay dở, tròn hay méo đều phụ thuộc vào bàn tay và sự khéo léo của người nặn.

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Mượn hình ảnh những chiếc bánh trôi trắng ngần, tròn trịa để nói lên sự trong trắng, tinh khôi trong tâm hồn những người phụ nữ. Hai từ “thân em” chúng ta vẫn thường thấy trong ca dao xưa như là lời bộc bạch tận sâu từ đáy lòng và là lời giới thiệu của những người phụ nữ. Tâm hồn người phụ nữ nhân hậu, trong trắng, đó là phẩm chất cao đẹp nhất của họ. Thế nhưng, đáng nhẽ ra người phụ nữ phải được nâng niu, trân trọng nhưng cuộc đời họ lại là những chuỗi ngày bấp bênh, trôi nổi.

Bảy nổi ba chìm với nước non

Sự biến đổi tài tình của câu thành ngữ “Ba chìm bảy nổi” đã khéo léo nói lên được cuộc đời không bằng phẳng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đứng giữa hủ tục “trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ chưa bao giờ coi trọng, chưa bao giờ được sống một cuộc sống bình lặng, ấm êm. Cuộc đời của họ lúc lên lúc xuống, lúc nổi lúc chìm với non nước, với xã hội như những chiếc bánh trôi trong bàn tay người nặn. Họ tần tảo sớm hôm, chịu biết bao vất vả gian nan nhưng chưa bao giờ được sống một cuộc sống đúng nghĩa do chính họ lựa chọn.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ luôn bị chèn ép và vùi dập. Xã hội cùng những hủ tục đẫ đẩy họ vào con đường không lối thoát, cũng chưa bao giờ cho họ một quyền tự do được lựa chọn cuộc sống cho mình. Số phận của người phụ nữ sướng hay khỏ, sang hay hèn đều phụ thuộc vào bàn tay của những người có thế lực. Vần thơ như lời oán than, trách móc được xuất phát từ chính trái tim của những kiếp người bất hạnh, bạc bẽo. Thế nhưng dù bị vùi dập thế nào thì họ vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp của mình.

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Ở bất cứ nơi đâu, trong bất kì hoàn cảnh nào, người phụ nữ cũng là những người đẹp nhất, sáng ngời nhất. Tấm lòng trong trắng, sắt son của họ không gì có thể làm bẩn hay bào mòn. Họ vẫn vậy, luôn luôn sống bằng trái tim và tấm lòng nhân hậu.

Như vậy, mượn hình ảnh của những chiếc bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương muốn nói lên số phận bấp bênh của người phụ nữ. Ca ngợi tâm hồn trong trắng của họ và qua đó, tố cáo xã hội phong kiến thối nát, đã đẩy người phụ nữ xuống những con đường đầy rẫy sự bất công và tăm tối.

Seen

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hồ Xuân Hương

Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

Bài Viết Tuyên Truyền Về Thực Hiện An Toàn Giao Thông

Top 10 Bài Văn Viết Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất

Cảm Nhận Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Trong Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Hồ Xuân Hương

Ngữ Âm Học Và Âm Vị Học

Trả Lời Chính Thức Của Viện Ngôn Ngữ Học Về Đề Xuất Cải Cách Chữ Viết Của Ông Bùi Hiền

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Hay Nhất

Phân Tích Hình Ảnh Người Phụ Nữ Qua Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 1

Bài thơ chỉ có bốn câu, đề tài bình dị nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo cho viên bánh trôi nước mang vẻ đẹp sáng ngời của viên ngọc lấp lánh nhiều màu. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng, ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và giá trị nhân phẩm của mình.

Nếu như Bà Huyện Thanh Quan với những lời thơ trang nhã, nhẹ nhàng, mang chút cung đình buồn thương man mác. Thì thơ Hồ Xuân Hương có phong cách hoàn toàn khác. Giọng thơ rắn rỏi, mạnh mẽ, đề tài bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý mà chua cay chứa nỗi niềm phẫn uất phản kháng xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ như vậy:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả mượn chiếc bánh trôi để thế hiện vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người con gái có thân phận nhỏ nhoi, chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ trọn phẩm giá của mình.

Toàn bộ bài thơ là hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Với khả năng quan sát và liên tưởng kỳ lạ, chất liệu dân gian là chiếc bánh trôi nước – loại bánh dân gian xưa cho là tinh khiết thường dùng vào việc cúng tế, nhà thơ đã phát hiện ra những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi bình thường với hình ảnh người phụ nữ. Cả hai đều có vẻ bề ngoài rất đẹp (trắng, tròn), có phẩm giá cao quý (tấm lòng son) tương đồng cuộc sống (chìm, nổi), số phận phụ thuộc (rắn nát tuỳ thuộc tay kẻ nặn). Với những từ ngữ đa nghĩa bài thơ tạo nên một trường liên tưởng cho người đọc. Do vậy nhà thơ tả thực mà lại mang ý nghĩa tượng trưng. Nói cái bánh trôi mà thành chuyện con người – người phụ nữ. Người con gái hình thể đẹp, da trắng nõn nà, thân hình căng tràn nhựa sống, tâm hồn nhân hậu hiền hoà.

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Với vẻ đẹp hình thể như vậy đáng lẽ phải có cuộc sống sung sướng hạnh phúc nhưng cuộc đời con người, đặc biệt là người phụ nữ thì phải chịu bao đắng cay, vất vả.

Bẩy nổi ba chìm với nước non

Được cha mẹ sinh ra để làm người, nhưng người phụ nữ không làm chủ được mình, cuộc đời họ do người khác định đoạt. Nàng Vũ Nương thuỳ mị nết na, đức hạnh thuỷ chung, chồng ra trận nàng ở nhà một thân một mình nuôi mẹ già, con thơ. Nàng đã làm tròn bổn phận của một người con, người vợ, người mẹ trong gia đình. Vậy mà do sự đa nghi ghen tuông quá mức, nàng bị chồng nghi cho là thất tiết. Nàng đã phải lấy cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình. Câu chuyện mang đến cho chúng ta một thông điệp: trong xã hội ấy người tốt như nàng không được sống hạnh phúc.

Cùng như vậy cuộc đời của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn bị xã hội nhào nặn xô đẩy:

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Dù cuộc đời có phũ phàng, bất hạnh họ vẫn giữ vẹn phẩm giá, tâm hồn cao đẹp của mình.

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Sự sáng tạo của nữ sĩ khá độc đáo. Bà lựa chọn chi tiết không nhiều nhưng lại nói được nhiều. Hai từ thân em được đặt trước chiếc bánh, chiếc bánh được nhân hoá, đó chính là lời tự sự của người phụ nữ. Nét nghệ thuật này gợi cho trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ hiện lên rõ nét hơn.

Từ thoáng chút hài lòng giọng thơ chuyển hẳn sang than oán về số phận hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã đảo lại thành ngữ quen thuộc ba chìm bảy nổi thành bảy nổi ba chìm đối lập với vừa trắng lại vừa tròn tạo sự bất ngờ và tô đậm sự bất hạnh của người phụ nữ.

Đến đây ta không còn thấy giọng thơ than vãn cam chịu: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn. Cuộc đời họ, họ không làm chủ được bản thân mà phụ thuộc hoàn toàn vào tay kẻ khác. Thế nhưng: Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Không những sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và bốn là đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ bảo vệ phẩm chất trong sáng trong tâm hồn con người. Từ vẫn thể hiện sự khằng định, quả quyết vượt trên số phận để giữ tấm lòng son. Người phụ nữ đã ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm giá của mình. Dẫu cho cuộc đời cay đắng, nhào nặn, xô đẩy thì giá trị đáng kính của họ luôn luôn là điều sống còn đối với họ.

Trong xã hội với ý thức hệ nho giáo hà khắc như vậy, quan niệm tam tòng tứ đức, nam tôn nữ ti đã ăn sâu vào ý thức con người. Nói được như Hồ Xuân Hương thật đáng khâm phục, trân trọng.

Bài thơ chỉ có bốn câu, đề tài bình dị nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo cho viên bánh trôi nước mang vẻ đẹp sáng ngời của viên ngọc lấp lánh nhiều màu. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng, ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và giá trị nhân phẩm của mình.

Quả thật bài thơ của Hồ Xuân Hương có giá trị hiện thực và xã hội sâu sắc. Đây là tiếng nói chung của người phụ nữ đối với sự bất công của xã hội xưa và khẳng định phẩm giá của bản thân. Nhà thơ đã đại diện cho những số phận bất hạnh cất lên tiếng nói của chính họ và của thời đại. Bài thơ thể hiện khẩu khí của bà chúa thơ nôm.

Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 2

Hồ xuân Hương là một trong rất ít phụ nữ Việt Nam thời phong kiến có tác phẩm văn học lưu truyền cho đến ngày nay. Bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Cuộc đời của bà vẫn còn là một vấn đề đang được nghiên cứu. Bà thường mượn cảnh, mượn vật để nói lên thân phận người phụ nữ thời bấy giờ, bài thơ “Bánh trôi nước” là một trong số đó.

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Bánh trôi nước-một loại bánh dân dã, bình thường thấy quanh năm, được Hồ xuân Hương miêu tả một cách sinh động về màu sắc, hình dáng như là chiếc bánh đang tự nói về chính mình:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

Qua đó, người phụ nữ Việt Nam có thể hóa thân vào những chiếc bánh dân dã đáng yêu ấy. Bà không dùng “khuôn mặt hình trái xoan”, hay “đôi mày hình lá liễu” để mô tả vẻ đẹp quý phái của phụ nữ, trái lại bà dùng hình tượng “tròn”, “trắng” để cho ta có thể liên tưởng đến một vẻ đẹp mạnh mẽ, xinh xắn. Bên cạnh đó, điệp từ “vừa” càng làm tăng thêm sự tự hào về vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ Việt Nam. Người phụ nữ Việt Nam mạnh khỏe, xinh xắn, đáng yêu là thế, còn cuộc đời của họ thì sao? Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ cũng lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước trong nồi.

“Bảy nổi ba chìm với nước non”

Cuộc đời long đong, gian truân đầy sóng gió dường như đã dành sẵn cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến, nghe như một tiếng than thầm, cam chịu, nhưng cũng phảng phất vẻ cao ngạo của họ. Cũng nổi, cũng chìm, nhưng lại nổi chìm “với nước non”.

“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

Lời thơ có vẻ trở nên cam chịu, người phụ nữ xưa vốn không có một vai trò gì trong xã hội. Họ không tự quyết định được số phận của mình, cuộc đời họ từ khi mới sinh ra cho đến lúc lìa đời là một cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc. Khi còn nhỏ thì phụ thuộc vào cha mẹ, khi lấy chồng thì phụ thuộc vào chồng, chồng mất thì phụ thuộc vào con cái. Họ không có cuộc sống của riêng họ, cuộc sống của họ chỉ để tô điểm thêm cho cuộc sống của người khác. Thế nhưng, thơ của Hồ xuân Hương lại phảng phất chút phớt lờ, bất cần. Thấp thoáng đâu đó trong thơ bà có chút phản kháng, chống cự lại những quan điểm bất công thời ấy. Nếu như trong ca dao, người phụ nữ được ví: “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” chỉ để thể hiện thân phận lênh đênh, thì trong thơ của Hồ xuân Hương ngoài việc miêu tả số phận người phụ nữ còn khẳng định nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ.

“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Cuộc đời có bạc bẽo, bất công, cuộc sống có gian khổ, long đong như thế nào chăng nữa, người phụ nữ vẫn giữ được sự son sắt, thủy chung cùng những phẩm chất tốt đẹp của mình. Đó là sự khẳng định của bà và đó cũng chính là phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.

Với hình tượng cái bánh trôi nước, Hồ xuân Hương đã nói lên được vẻ đẹp, phẩm chất trong trắng, son sắt của người phụ nữ, đồng thời cũng đã đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn đối với người phụ nữ – sự bình đẳng giới. Đây cũng chính là vấn đề mà xã hội tốt đẹp của chúng ta đang xây dựng. Cám ơn bà đã để lại cho đời một bài thơ thật đẹp.

Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 3

Nhà thơ Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm của nền văn học Việt Nam. Thơ của bà vô cùng độc đáo với phong cách giản dị, mộc mạc, lời lẽ sâu cay, thể hiện những nét ẩn dụ sâu sắc sắc.

Trong những bài thơ của bà bài thơ “Bánh trôi nước” thể hiện sự châm biếm sâu cay vô cùng độc đáo. Trong hình ảnh bánh trôi, bảy nổi ba chìm chính là thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến.

Nhà thơ mượn hình ảnh nhỏ bé của chiếc bánh trôi nước để tố cáo tội ác của chế độ cũ đã chà đạp lên thân phận người phụ nữ. Một xã hội đầy những bất công, bất bình đẳng “trọng nam khinh nữ” người phụ nữ không có tiếng nói gì trong cuộc sống.

Tác giả mở đầu bằng hai câu thơ quen thuộc thường được dùng trong ca dao dân ca đó chính là hai từ ” Thân em“

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non.

Tác giả Hồ Xuân Hương mượn hình ảnh bánh trôi nước, để miêu tả lên thân phận của người phụ nữ xưa, bị đọa đày trong thân phận người phụ nữ. Chiếc bánh trôi vừa trắng vừa tròn, nhưng lại chịu số phận lênh đênh, sông nước ba chìm bảy nổi, không lúc nào được bình yên.

Nó tựa như vẻ đẹp của người phụ nữ vừa mềm mại, trắng trong, ngọt ngào thủy chung, nhưng lại bị cuộc đời đưa đẩy tới chỗ bấp bênh không có hạnh phúc.

Tác giả đã mượn hình ảnh giản dị mộc mạc, giản dị của chiếc bánh trôi nước trong dân gian để nói lên tâm hồn vẻ đẹp của người phụ nữ. Đó chính là sự tài tình của bà chúa thơ Nôm của chúng ta.

Chỉ với hai câu thơ thôi nhưng tác giả Hồ Xuân Hương đã cho thấy sự tài tình của mình trong nghệ thuật miêu tả vô cùng tinh tế, cách chơi chữ phóng khoáng thể hiện một phong cách thơ vô cùng độc đáo táo bạo của một người nữ sĩ đa tài.

Người phụ nữ xưa sống trong chế độ phong kiến họ phải chịu nhiều thiệt thòi, nhiều áp bức khi phải khoác lên mình biết bao nhiêu hủ tục lạc hậu, những phong tục tập quán khiến cho người phụ nữ xưa không thể nào sống cho mình mà luôn phải sống theo quan niệm lạc hậu, tam tòng tứ đức. Người phụ nữ không có tiếng nói trong gia đình, mà luôn phải vâng lệnh người chồng, người cha.

Ngay cả hạnh phúc lứa đôi tương lai của họ, người phụ nữ cũng không có quyền lên tiếng mà phải phụ thuộc vận mệnh của mình vào bà mai mối, vào cha mẹ hai bên sắp đặt. Nếu may mắn thì được hạnh phúc nâng niu, không thì phải chịu cảnh hồng nhan gian truân.

Ở hai câu tiếp theo trong bài thơ, hình ảnh người phụ nữ hiện lên thật thủy chung son sắc:

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Trong hai câu thơ này tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ vô cùng tài tình thể hiện sự thông minh sắc sảo của bà Hồ Xuân Hương.

Dù số phận của mình có ra sao, có khổ đau hay hạnh phúc thì người phụ nữ xưa cũng phải cam chịu không được định đoạt mà phải nghe theo lời sắp đặt của người khác thể hiện sự bất lực, cam chịu trong số phận của người phụ nữ xưa.

Một xã hội phong kiến vô lý chà đạp lên thân phận người phụ nữ chân yếu tay mềm những người phụ nữ vẫn giữ tấm lòng trinh bạch, son sắc thủy chung của mình. Họ vẫn ngoan hiền cố gắng giữ gìn đức hạnh, đạo vợ hiền, con thảo.

Dù phải chịu nhiều thiệt thòi bất công nhưng tâm hồn lương thiện, trắng trong của người phụ nữ vẫn là một nét tươi sáng thể hiện sự nhân hậu của người phụ nữ nước ta.

Lời bài thơ thể hiện sự quả quyết tự hào nói lên tiếng lòng của người phụ nữ.Nó chính là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với sự độc ác của xã hội cũ, đừng tàn nhẫn với số phận người phụ nữ

Bài thơ “Bánh trôi nước” là bài thơ đặc sắc, tiêu biểu cho phong cách của nhà thơ Hồ Xuân Hương. Bài thơ thể hiện tấm lòng trong trắng, trinh bạch của người con gái trong chế độ cũ. Nó để lại nhiều ấn tượng sâu sắc với người đọc.

Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 4

Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm”. Thơ của bà rất độc đáo với phong cách thơ châm biếm sâu cay đồng thời cũng rất giản dị, mộc mạc trong hình ảnh. “Bánh trôi nước” là một bài thơ như vậy. Nhà thơ mượn hình ảnh nhỏ bé của chiếc bánh trôi nước đê nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, một xã hội không bình đẳng đầy áp bức bất công.

Tác giả mở đầu bài thơ bằng mô tip ca dao quen thuộc:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

“Thân em…” là mở mở đầu của biết bao câu ca dao nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ở đây, trong hoàn cảnh cụ thể của bài thơ, “thân em” được ví với chiếc bánh trôi nước “vừa trắng lại vừa tròn”. Tác giả mượn hình ảnh mộc mạc của chiếc bánh trôi nước nhỏ bé để nói lên vẻ đẹp của người phụ nữ. Họ không chỉ có vẻ đẹp về hình thức mà còn trắng trong trong tâm hồn và trịa về nhân phẩm. Chỉ qua một câu thơ thôi tác giả đã cho ta thấy được đánh giá cũng như quan điểm của mình về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội cũ.

Câu thơ tiếp theo:

Bảy nổi ba chìm với nước non.

Hình ảnh người phụ nữ hoàn hảo như thế nhưng số phận họ ra sao? “Ba chìm bảy nổi” ở đây là một hình ảnh được tác giả vận dụng rất hay, rất hợp lí để nói về số phận của những người phụ nữ. Trong xã hội cũ, họ chẳng là gì cả, không được tự quyết định về số phận của mình, chỉ biết sống vì người khác theo quan niệm tam tòng tứ đức. Cuộc sống của họ lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước vậy.

Ở câu thơ thứ ba:

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Ở đây tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ rất tài tình. Nó nói lên sự phụ thuộc của người phụ nữ. Dù số phận có ra sao người phụ nữ cũng phải cam chịu không được phản kháng, không được tự định đoạt. Đó là một đạo lí rất vô lí trong xã hội cũ, nhằm trói buộc những người phụ nữ chân yếu tay mềm.

Câu thơ cuối

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Dù phải chịu bao bất công nhưng ở câu thơ vẫn ngời sáng lên nét đẹp của người phụ nữ, một nét đẹp tươi sáng thuần hậu của phụ nữ Việt Nam. Giọng thơ đầy quả quyết mang nét tự hào nói lên tấm lòng son sắt của bao thế hệ phụ nữ Việt, là tiếng chuông cảnh tỉnh những người đàn ông để họ đừng đánh mất đi những giá trị quý báu này.

Bài thơ “Bánh trôi nước” là một bài thơ đặc sắc của nhà thơ Hồ Xuân Hương. Bài thơ biểu hiện lòng thương cảm và niềm tự hào với số phận người phụ nữ đồng thời lên án xã hội cũ đầy bất công.

Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước – Bài làm 5

Hồ Xuân Hương là một trong những nữ sĩ tài danh của nước ta khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Bà đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng nói về thân phận nhỏ bé của những người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến đầy bất công lúc bấy giờ. “Bánh trôi nước” là một trong những bài thơ nổi tiếng viết về chủ đề đó. Bài thơ là tiếng lòng của người phụ nữ nói chung gặp nhiều truân chuyên, bất hạnh trong xã hội cũ nhưng vẫn luôn giữ một tấm lòng son sắt, thủy chung, phẩm chất cao quý:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh ẩn dụ rất đặc biệt và rất ấn tượng, có một không hai của nhà thơ khi ví người phụ nữ như chiếc bánh trôi nước:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

Từ trước đến nay ai cũng biết đến chiếc bánh trôi quen thuộc có màu trắng làm từ bột nếp, thường xuất hiện trọng dịp lễ tết hàn thực của người Việt Nam. Chiếc bánh có hình tròn đẹp mắt. Nhà thơ đã rất khéo léo khi sử dụng hình ảnh chiếc bánh trôi so sánh với người phụ nữ Việt Nam nhằm cho thấy rằng người phụ nữ cũng trắng trẻo, đẹp đẽ, tròn đầy như chiếc bánh trôi vậy. Đọc câu thơ, người đọc liên tưởng đến những câu ca dao xưa:

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

Hay bài ca dao sau:

“Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”

Với cách sử dụng cụm từ “thân em”, câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương gợi cảm giác quen thuộc, gần gũi và dễ hiểu. Chỉ cần đọc câu thơ là người đọc có thể hiểu ngay “thân em” ở đây không chỉ đại diện cho một người là nữ sĩ mà còn đại diện cho phụ nữ xưa.

Dù đẹp là thế, tấm lòng trong sáng là thế nhưng người phụ nữ xưa luôn gặp những truân chuyên, bất hạnh:

“Bảy nổi ba chìm với nước non”

Đọc đến đây, người đọc liên tưởng đến công đoạn luộc bánh trôi. Khi chi bánh vào nổi nước, chiếc bánh cứ chìm rồi lại nổi. Bà Hồ Xuân Hương liên tưởng hình ảnh chìm nổi của chiếc bánh giống như cuộc đời đầy giông tố của người phụ nữ “bảy nổi ba chìm” cứ lênh đênh, chới với, gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Cụm từ “bảy nổi ba chìm” ngắn gọn vậy thôi nhưng thật cô đọng và xúc tích.

Cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội cũ đầy bất công. Từ xưa vốn đã có quan niệm ăn sâu vào gốc rễ, tư tưởng của con người Việt đó là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” nghĩa là người phụ nữ vốn sinh ra đã bị phụ thuộc, họ không được nói lên tiếng nói cá nhân, ở nhà thì phải nghe theo quyết định của cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng mất thì sống theo con. Tất cả những định kiến ấy từ lầu đời đã bóp chết đi những ước mong nhỏ bé của người phụ nữ. Bởi thế Hồ Xuân Hương mới viết “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. “Tay kẻ nặn” chính là định kiến của xã hội bất công đó, dù “rắn” hay “nát”, dù vui vẻ sung sướng hay bất hạnh khổ đau cũng là do người khác quyết định cả. Hai từ “mặc dầu” nghe thật đau đớn và xót xa. Nó thể hiện sự phó mặc cuộc đời phụ nữ trong tay kẻ khác mà không được vùng lên đấu tranh cho bản thân mình.

Nhưng dù có sống trong xã hội bất công thì người phụ nữ vẫn luôn một lòng, trọn tình trọn nghĩa:

“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Nhà thơ kết thúc bài thơ thất ngôn tứ tuyệt với sự ngợi ca cho tấm lòng sắt son của người phụ nữ. Hình ảnh chiếc bánh trôi dù rắn hay nát, dù khi đem vào luộc có chìm có nổi thì khi vớt ra, chiếc bánh vẫn giữ nguyên màu trắng với nhân đỏ bên trong. Hình ảnh hoán dụ tấm long son thật nhiều ý nghĩa sâu sắc. Mặc dù gặp bao gian truân, trắc trở trong cuộc sống, dù có bị vùi dập như thế nào đi nữa trong cái xã hội đầy bất công, thì người phụ nữ ấy vẫn luôn luôn giữ trọn phẩm hạnh của mình, giữ trọn đạo hiếu, trọn nghĩa phu thê.

Chỉ với một bài thơ ngắn gọn nhưng mang nhiều ý nghĩa, bài thơ đã nói lên thân phận nhỏ bé của người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến đấy bất công, không cho người phụ nữ được thể hiện, được nói lên tiếng nói trong lòng mình. Qua đó nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng khẳng đinh mạnh mẽ và ngợi ca những đức tính tốt đẹp của người phụ nữ, dù khó khăn và gặp nhiều trắc trở, họ vẫn luôn giữ trọn nghĩa tình, là người phụ nữ “công – dung – ngôn – hạnh”. Bài thơ “bánh trôi nước” dù cách xa chúng ta hàng thế kỷ, nhưng sức sống và tinh thần của bài thơ thì còn vang mãi, để lại những dư âm tốt đẹp trong trái tim người đọc.

Đề Số 4: Phân Tích Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

4 Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ “bánh Trôi Nước” Của Hồ Xuân Hương

Tìm Hiểu Bài Thơ Bánh Trôi Nước Để Nhận Xét Về Ngôn Ngữ Và Cá Tính Của Hồ Xuân Hương

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hay Nhất

🌟 Home
🌟 Top