Top 4 # Xem Nhiều Nhất Nhung Cau Tho Hay Noi Ve Phat Phap Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Nhung Van Tho Xuan Noi Dat Khach

Những Vần Thơ Xuân Nơi Ðất Khách

Hằng năm, theo thông lệ, cứ đến Tết âm lịch là người Việt mình ở hải ngoại đều có báo Xuân, dù ở bất cứ nơi đâu, Á Châu hay Âu Châu, Úc Châu hay Mỹ Châu. Tính đến năm nay, Nhâm Ngọ 2002, cá nhân người viết trong 26 năm qua chưa bao giờ biết đón Xuân ăn Tết là gì, vì Tết âm lịch nơi tôi ở chẳng bao giờ rơi vào mùa Xuân cả! Hơn thế nữa, trong hoàn cảnh tị nạn, tôi không thể nào vui sướng để đón Tết mừng Xuân, mặc dù là Xuân gượng Tết hờ. Dù vậy, tôi không thể không theo tục lệ Ông Bà, Tổ Tiên mà quên đi nguồn cội. Chính vì lẽ đó, thỉnh thoảng tôi nhận lời viết bài cho báo Xuân theo cảm nhận và chủ quan của mình.

Cuối năm, mang chồng sách cũ ra đọc, tìm những vần thơ xuân hợp ý thì thấy hầu hết các nhà thơ cũng có những nỗi khắc khoải trong những buổi xuân về. Vì trang báo có hạn nên người viết phải hạn chế số trang, chọn lọc những vần thơ tiêu biểu. Mong các bạn thơ thứ lỗi cho nếu thấy thiếu vắng tên mình trên trang báo này.

Nơi tôi tạm dung là xứ tuyết, thường thì tuyết đổ vào dịp Tết âm lịch. Thi sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung cũng tạm dung ở vùng này nên tâm sự của nữ sĩ trong ngày Tết thật là chí lý:

Tết này mưa tuyết trắng vai Vùng Hoa Thịnh Ðốn đông dài giá băng Bàn chân nhiệt đới lạnh căm Rời xa đất mẹ bao năm chưa về (Tết Này, Nguyễn Thị Ngọc Dung-Ðiểm Trang Làm Dáng Cuộc Ðời, 30)

Cứ mỗi lần xuân đến là nỗi sầu vong quốc càng nặng trĩu trên đôi vai người xa xứ, là lúc lòng thi nhân càng thấy tủi hổ, xót xa. Thi sĩ Minh Viên ở miền Viễn Tây, xứ sương mù gió lộng Cựu Kim Sơn, nên nỗi sầu vong quốc của ông càng trĩu nặng hơn khi đón Tết tha hương:

Xuân lại về đây, Xuân xứ lạ Khối sầu vong quốc trĩu vai thêm. ………………………………….. Mười năm đất khách mười năm tủi Xuân đến buồn thêm phận cỏ hèn. (Xuân Tha Hương, Minh Viên-Vết Thương Sài Gòn, 52)

Ai ai cũng vậy, mỗi lần xuân đến trong hoàn cảnh tha hương là nhớ mẹ nhớ cha một cách ray rức, bâng khuâng:

Mười mấy xuân rồi xa cách mẹ Nhớ thương trĩu nặng những vần thơ Mùa đông rét mướt hồn con trẻ Thôi hết rồi hoa bướm mộng mơ! …………………………………… Con vẫn âm thầm thương nhớ mẹ Hồn thơ không sợi nắng thêu hoa Hồn thơ đã ngập tràn băng tuyết Và mắt-mùa-đông lắm gió mưa!

Thiếu mẹ đời con như lá úa Xuân về con ngỡ xuân chưa sang Xuân về, xuân của riêng thiên hạ Con mất xuân rồi, đâu biết xuân! (Thư Xuân gửi Mẹ, Minh Viên-Ðêm Việt Nam, 136 & 138)

Nhà thơ trẻ Trần Phùng Linh Duyên cũng có cùng tâm sự như thế:

Con thương Bố Mẹ đã già Ðón Xuân hiu hắt cho qua mấy ngày Ở đây con chẳng vui say Quê người con đón Xuân này ly hương (Lại nhớ mùa Xuân, Trần Phùng Linh Duyên-Ly Hương, 38 & 39)

Nỗi nhớ thương Mẹ hiền của nhà thơ Trần Trung Ðạo lại càng lớn hơn, vì ông cho rằng cứ một năm xa cách mẹ hiền là dài bằng hai năm!

Năm mới đến con cũng già thêm tuổi Xa mẹ hiền một tuổi nặng bằng hai Tuổi nước Việt chất chồng lên quá khứ Tuổi xứ người quần quật với tương lai. (Mỗi Mùa Xuân Thêm Một Lần Dối Mẹ, Trần Trung Ðạo-Ðổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, 43)

Nhà thơ nữ Ngô Minh Hằng cũng nhớ thương Mẹ đến não lòng:

Ở đây Mẹ ạ, ba ngày Tết Thổn thức lòng con nỗi nhớ thương. (Thơ Xuân Gửi Mẹ, Ngô Minh Hằng-Tiếng Lòng, 44)

Thi nhân ở Gia Nã Ðại cũng có tâm sự ngổn ngang khi mùa xuân tới. Nhà thơ Luân Hoán lần đầu tiên đón Tết ở Montréal cũng phải bật than:

mùa xuân ơi mùa xuân trời xanh mây trắng lắm lòng ta nào dửng dưng cớ sao buồn ghê lắm (Mùa xuân Montréal, Luân Hoán-Ngơ Ngác Cõi Người, 41)

Rồi nhà thơ lắc đầu ngao ngán:

xuân đâu còn của đất trời xuân chừ của lũ hết thời ngâm nga (Mùng một Tết ở Montréal, Luân Hoán-Ngơ Ngác Cõi Người, 83)

Nhà thơ Nguyễn Văn Quảng Ngãi đã ở đây được vài năm, cũng đã đón Tết bao lần, thế mà mỗi lần xuân đến là mỗi lần ông lại than trách thân phận bơ vơ:

Bơ vơ quá giữa quê người Ðón Xuân lặng ngắm đầy trời tuyết bay Mà này sao rượu chẳng cay? Niềm thương, nỗi nhớ viết hoài chưa xong (Lại xuân, Nguyễn Văn Quảng Ngãi-Hoen Màu Thời Gian, 41)

Tại sao xuân đến mà lòng thi nhân không vui? Vì đây là xuân đất khách, không phải xuân của quê nhà! Mẹ hiền đang ở tại quê nhà thì làm sao thi nhân vui cho được?

Vẫn đếm xuân về trên đất khách Nghe buồn nhỏ giọt xuống vai tôi Ðèn ai thắp sáng bên kia phố Nhớ quá, chao ôi, tiếng mẹ cười. Vì vậy, thi nhân đâu có vui gì mà uống rượu mừng xuân! Nếu có uống chăng là uống những nỗi ngậm ngùi:

Chén rượu mừng xuân tôi chẳng uống Chỉ uống đêm nay những ngậm ngùi. (Xuân đất khách, Trần Trung Ðạo-Thao Thức, 29 & 30)

Vâng, quả đúng như vậy! Uống rượu thì chỉ có say, chứ cơn sầu thì không làm sao vơi được! Thi sĩ Hà Huyền Chi đã từng trải nỗi sầu xa xứ khi đón xuân về trên xứ người:

Ðón xuân trên đất nước người Cạn bao nhiêu rượu không vơi cơn sầu (Xuân Trên Xứ Người, Hà Huyền Chi-Tên Nô Lệ Mới, 58)

Càng xa xứ nhiều năm, lòng thi nhân càng khắc khoải, trái tim càng chai đá thêm:

Ðã tám mùa xuân nơi xứ lạ Tám mùa khắc khoải, tám mùa đau Trái tim Từ Thức trơ như đá Lạc dấu quê hương, lạc dấu nhau. (Qua những ngày câm những tháng đen, Hà Huyền Chi-Cõi Buồn Trên Ta, 56)

Mùa xuân của ta ở đây là mùa tuyết đổ của Bắc Mỹ. Bởi thế cho nên, năm nào thi nhân cũng cảm thấy mùa xuân hiu quạnh ở xứ người:

Xứ người tuyết đổ mịt mùng Ðón xuân hiu quạnh nát lòng hoài hương. (Xuân Hiu Quạnh, Hà Huyền Chi-Một Túi Bình Sinh Một Túi Thơ, 202)

Ngày mùng Một Tết lỡ chạm mặt đồng hương, miệng thì chúc nhau năm mới dòn tan, nhưng trong lòng thì ngậm ngùi không sao tả xiết!

Ta chào nhau năm mới Lời chúc trượt trên môi Bắt tay cười hễ hả Quay lưng dấu ngậm ngùi. (Xuân Lữ Thứ, Hà Huyền Chi-Một Túi Bình Sinh Một Túi Thơ, 203)

Cụ Bà Nữ sĩ Kim Y đã đến Mỹ trước chúng ta, thế mà cứ mỗi độ xuân về là lòng Cụ Bà bồi hồi nhớ quê hương:

Năm năm mỗi độ xuân về, Nước non nhắc nhở niềm quê bồi hồi! (Xuân nhớ, Kim Y-Tiếng Quyên, 4)

Nỗi sầu của Nữ sĩ càng chất ngất khi Cụ Bà nhớ tới những người ở lại bị tù tội trong hỏa ngục của Cộng sản:

Tết đến càng thương người hỏa ngục, Xuân về thêm tủi kiếp lưu vong! Vui chung ai đó, riêng ta chỉ Chào đón nàng Xuân với lạnh lùng! (Sầu Xuân Riêng Nặng…, Kim Y-Tiếng Quyên, 33)

Vì thế cho nên Cụ Bà nhường vui Xuân đón Tết cho thiên hạ:

Vui xuân đón tết nhường thiên hạ, Riêng khách lưu vong vạn cổ sầu! (Xuân Cảm, Kim Y-Tiếng Quyên, 35)

Thi sĩ Hà Bỉnh Trung nhìn mùa xuân qua ba màu xanh, đỏ, trắng. Màu trắng là màu của tuyết. Có năm tuyết trắng lê thê ở vùng Hoa Thịnh Ðốn, thi sĩ than thở:

Xuân xanh, xuân đỏ, rồi xuân trắng Ta biết tìm đâu bóng dáng quê? Ta biết tìm đâu thêm chút nắng Khi trời đang lạnh, tuyết lê thê? (Xuân Cũng Ðổi Màu, Hà Bỉnh Trung-Dấu Chân Viễn Khách, 39)

Tâm trạng của các thi nhân trong dịp xuân về cũng đều giống nhau: ngậm ngùi, nghẹn ngào, buồn bã, đắng cay… Nhà thơ Vũ Hối càng chất ngất đỉnh sầu khi đón Tết:

Ðâu còn đón Tết, mai vàng Ngậm ngùi nuốt lệ, trái ngang nghẹn ngào… (Chất ngất đỉnh sầu, Vũ Hối-Chiêm Bao Trở Giấc, 17)

Tuyết trắng trong ngày Tết càng làm tăng nỗi sầu chất ngất trong hồn thi sĩ:

Tha hương tết lắm ngậm ngùi… Thương quê, thương bạn, đâu nguôi lòng này Ngồi đây đếm vạn đắng cay, Giao thừa quê Mẹ, phương này tuyết rơi, Giăng giăng lệ trắng khắp trời, Lạc loài đất khách, chao ôi! là buồn… (Nét thảo đầu xuân, Vũ Hối-Chiêm Bao Trở Giấc, 25)

Nhà thơ nữ Thuý Trúc ở miền cực Nam Florida có nắng ấm chan hòa trong dịp Tết nên chưa có nỗi sầu chất ngất như nhà thơ Vũ Hối; tuy nhiên, bà cũng man mác buồn và không buồn may áo mới để đón Tết:

Không pháo ngày mồng một Chẳng giao thừa ba mươi Tết buồn chưa may áo Chậu sành chờ mai tươi. (Xuân cảm, Thuý Trúc-Thơ Thuý Trúc, 93)

Trong số các nhà thơ lưu vong, đặc biệt nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh có nỗi buồn khác lạ hơn người: nỗi sầu man mác lê thê nhưng thiếu hẳn chất men cay:

Ðêm ba mươi tết sầu chắn lối Tìm thử quê nhà lửa biếc soi. (Bài thơ cuối năm, Nguyễn Mạnh Trinh-Thơ Nguyễn Mạnh Trinh, 18)

Nói cười trâng tráo kiếp hề Có ta trong chuỗi lê thê xứ người. (Một ngày ở Los, Nguyễn Mạnh Trinh-Thơ Nguyễn Mạnh Trinh, 63)

Mỗi ngày xa quê hương là mỗi một cơn mê trùng trùng điệp điệp:

Tha hương chắc có ngày về Ba năm tiếp những cơn mê trùng trùng. (Mượn tôi chút nhớ, Nguyễn Mạnh Trinh-Thơ Nguyễn Mạnh Trinh, 99)

Gửi quà Tết tặng thân nhân ở quê nhà là chuyện thường tình, nhưng nhà thơ Ngô Minh Hằng lại còn cẩn thận dặn dò thêm bà chị:

Tặng chị Xuân này một chéo khăn Chị lau mắt lệ giữ ngày xanh Lau dòng máu đỏ từ tim vỡ Tẩm liệm đi bao nỗi nhọc nhằn! (Quà Xuân Và Niềm Hy Vọng, Ngô Minh Hằng-Tiếng Lòng, 24)

Và rồi nữ sĩ than thở một mình:

Riêng ta, xuân đến có gì vui Chỉ thấy lòng đau, dạ ngậm ngùi Hăm mấy năm dài, từ mất nước Quê người, hồn khách. Cố hương ơi! (Chúc Xuân, Ngô Minh Hằng-Gọi Ðàn, 26)

Quả thật kiếp người tị nạn như kiếp con chim lạc đàn, ngơ ngác:

Quê người, nhìn mai nở Lòng ta thấy sầu mang Hăm mốt năm ngơ ngác Kiếp con chim lạc đàn! (Mùa Xuân Bất Diệt, Ngô Minh Hằng-Gọi Ðàn, 87)

Ai cũng thấy quê người là đẹp, nhưng cái đẹp đó là cái đẹp nhất thời. Chỉ có quê hương của mình mới là nơi đẹp nhất, vì nó chất chứa bao nhiêu kỷ niệm buồn vui của tuổi ấu thơ, của thời mới lớn:

Xuân người dẫu có bao nhiêu đẹp Vẫn chẳng bằng Xuân của xứ ta! (Quà Xuân Cho Mẹ, Ngô Minh Hằng-Gọi Ðàn, 94)

Thi sĩ Tô Giang là người ra hải ngoại chậm nhất sau nhiều năm ở trong lao tù Cộng sản. Trước khi ra đi, ông đã tự dặn lòng mình:

Dù cuộc sống đang quá nhiều thiếu thốn Thiếu cơm ăn áo mặc rách tinh thần Xin cứ giữ tình yêu cho yên ổn Là trong ta vẫn còn có mùa xuân. (Xuân hồi, Tô Giang-Mầm Xanh Trong Ðá, 86)

“Người tù trẻ tuổi nhất nước” Lê Khắc Anh Hào, dù đang mài gươm phục quốc ở xứ người nhưng khi xuân về thì cõi lòng của thi sĩ cũng không khỏi dâng lên niềm đau tê tái:

Thương ai trời rủ xuân về Ðể anh đoài đoạn mấy bề không gian Mẹ Cha… xuân, lệ hai hàng Nước non… xuân, nổi ngút ngàn hận căm Tay lần bấm đốt tháng năm Tủi thân mấy cọng tóc ngầm bạc ra Em xuân tàn nét kiêu sa Em, xuân ủ dột trong tà áo em. Trời ơi! Anh mộng từng đêm Trời ơi! Xuân đã bên thềm giá băng Xuân sao trời dệt tuyết giăng? Cành mai nở cũng cầm bằng như mơ. (Ðêm về ươm mấy hạt thơ, Lê Khắc Anh Hào-Tự Thuở Vầng Trăng Vỡ Cuối Nguồn, 24)

Cái mối sầu chung của thi nhân khi phải lìa quê mẹ thật chẳng bao giờ nguôi ngoai được. Tâm sự của nhà thơ Mạc Phương Ðình cũng là tâm sự của nhiều thi nhân:

Long đong từ buổi lìa quê mẹ Ôm mối sầu chung mãi chẳng nguôi. ………………………………… Chẳng đợi mà sao xuân vẫn đến Buồn trông cánh nhạn cuối chân trời. (Xuân tha hương, Mạc Phương Ðình-Lời Ru Của Mẹ, 30)

Xuân viễn xứ là xuân của nỗi ngậm ngùi thì làm sao vui cho được? Cho nên nhà thơ đã phải cất tiếng than:

Lại một mùa xuân của đất trời Ðau lòng ai đó chốn xa xôi Ngàn hoa không nở, lòng cô quạnh Xuân chỉ mang thêm những ngậm ngùi… (Xuân viễn xứ, Mạc Phương Ðình-Lời Ru Của Mẹ, 41)

Nhà thơ Trần Hoài Thư ở New Jersey, nơi đó cũng là xứ tuyết. Mùa đông lạnh cắt da, đang ở không độ F, thế mà ông nổi hứng xách xe qua New York City chơi, nơi có China Town, để uống cà phê một mình. Cà phê nóng và thơm nồng đâu không thấy mà chỉ thấy nỗi buồn đặc quánh ở đáy cốc:

Tôi qua Nữu Ước trời không độ Khuấy cốc cà phê đặc nỗi buồn. (Vào Giêng, Trần Hoài Thư-Thơ Trần Hoài Thư, 98)

Nỗi buồn cuối năm ở Bắc Mỹ là nỗi buồn da diết, càng nhớ càng thương quê nhà, nhất là nơi đó có người tình của thuở nào, có bông cải vàng nở rộ:

Thèm ơi bếp lửa đêm trừ tịch Chiều cuối năm rồi, anh nhớ em Nhà em bên ấy dòng sông nhỏ Bông cải mùa xuân vàng rộ sân. (Cuối năm bên dòng Hudson, Trần Hoài Thư-Thơ Trần Hoài Thư, 118)

Các thi nhân lưu vong nơi hải ngoại, hầu hết đều có thân nhân bên cạnh, thế mà còn có nỗi buồn thê thiết đến như thế, thì huống chi những người cô đơn một mình nơi xứ lạ quê người, nỗi buồn ắt phải tăng gấp vạn lần hơn! Người viết cũng là một nạn nhân trong số những người cô đơn ấy của năm 1975 nên biết rất rõ tâm trạng của họ lúc bấy giờ. Mỗi khi Tết đến, tuyết trắng ngập đường, bước chân ra đường là không thấy phố không thấy nhà, mà chỉ thấy tuyết rơi trắng xóa ngập lối đi! Còn nỗi buồn nào hơn? Còn bút mực nào tả xiết? Tôi phải làm gì đây cho khuây nỗi nhớ? Thôi chỉ còn cách ra đường dọc tuyết cho khuây khỏa nỗi sầu! Rồi lấy bút mực ra hí hoáy tâm sự với nàng cho vơi nỗi nhớ thương đã dâng lên tới tận cổ. Tác giả đã làm bài thơ sau đây trong mùa tuyết trắng đầu tiên ở Bắc Mỹ:

Em có bao giờ thấy tuyết rơi? Dịu dàng, ẻo lả giữa từng trời, Phất phơ sắc trắng trong hơi lạnh, Buông thả thân ngà xuống khắp nơi.

Em có bao giờ thấy tuyết chưa? Tim anh lạnh giá đến bao giờ?! Ðốt than chẳng ấm lòng anh được, Mặc áo len dầy cũng hóa thưa!

Em ước một lần thấy tuyết rơi, Một lời ao ước rất xa xôi. Anh đâu hy vọng mà mơ mộng, Ðội tuyết đi trong nỗi ngậm ngùi. …………………………………. Nhặt tuyết nặn hình tưởng nhớ em Làm sao mái tóc được nhung êm! Máu không tô đậm môi son thắm! Tay ngọc đâu còn! Ôi những đêm…! (Em Có Bao Giờ Thấy Tuyết Rơi?, Vĩnh Liêm-Tị Nạn Trường Ca I, 17)

Biết rằng ngày xuân mà nhắc tới những chuyện buồn là không thích hợp, nhưng biết làm sao hơn vì các nhà thơ lưu vong đều có những nỗi buồn như thế! Ðây còn là một đề tài dành cho những nhà phê bình văn học nghiên cứu sau này. Bài viết này chỉ có tính cách gợi ý, không đi vào chi tiết, và nhằm mục đích chia xẻ tâm sự não nùng với các thi nhân. Hy vọng không làm nản lòng bạn đọc.

Vĩnh Liêm

Ðức Phố, cuối năm Tân Tỵ

Trở lại trang đầu

Tran Phu The, Cau Tho Goi Tinh Ngot Ngao Huong Vi Phu Sa

 

trần văn sơn

 

TRẦN  PHÙ  THẾ

CÂU THƠ GỌI TÌNH NGỌT NGÀO HƯƠNG VỊ PHÙ SA

MIỀN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

 Nhà thơ Trần Phù Thế được nhiều người biết đến ở hải ngoại sau khi anh xuất bản hai tập thơ: Giỡn bóng chiêm bao [ 2003 ], Gọi khan giọng tình [ 2009 ], những bài thơ đăng trên các báo Khởi Hành, Văn Hóa Việt Nam, Thư Quán Bản Thảo …  và trên các trang báo điện tử như : Sáng tạo, Da màu, Phố Văn… Anh còn phụ trách trang thơ trên tuần báo Tuổi Trẻ ở Dallas – Texas. Thật ra, anh làm thơ đã lâu, lúc còn ở Việt Nam, từ thuở cắp sách đến trường, gần nửa thế kỷ nay. Năm 1962, anh cùng với Lâm hảo Dũng – Lưu Vân – Triệu Ngọc thành lập thi văn đoàn Cung Thương Miền Nam tại tỉnh Sóc Trăng,  về sau có thêm Nguyễn lệ Tuân – Trần biên Thùy, mục đích phổ biến thơ văn của nhóm trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn. Bài thơ đầu tiên của anh mang tựa NHẠC TRĂNG đăng trên báo VĂN vào thập niên sáu mươi với bút hiệu MẶC HUYỀN THƯƠNG. Cần phải nói thêm, tạp chí Văn là tờ báo văn học nghệ thuật  nổi tiếng  tại Việt Nam. Chủ nhiệm Nguyễn đình Vượng, thư ký tòa soạn Trần phong Giao, và sau là nhà văn Nguyễn xuân Hoàng. Bài vở chọn lọc cẩn thận, thơ văn đăng trên báo này rất có giá trị. Những nhà văn đã thành danh như Y Uyên, Lê văn Thiện… đều xuất thân từ tờ Văn. Anh còn có bài trên các tạp chí Thời Nay của Khánh Giang, Khởi Hành của Viên Linh… Năm 1967, anh định in tập thơ đầu tay “ Thầm yêu trộm nhớ ’’ nhưng không thực hiện được vì có lệnh nhập ngũ  vào  trường SQTB Thủ Đức.

 

Bút hiệu Mặc Huyền Thương không phải tự nhiên mà có, nó bắt đầu bằng hai chữ tình yêu. Cô bé mang tên Thương Huyền đã hớp hồn cậu học trò vừa mới lớn đang tuổi mộng mơ. Cậu lộn ngược tên Thương Huyền thành Huyền Thương rồi thêm chữ Mặc đặt trước chữ Huyền cho có vẻ thơ. Thật ra, theo tâm sự của nhà thơ, chữ Mặc có nghĩa im lặng, yêu  không dám nói. Tình yêu tuổi học trò bao giờ cũng e ấp, chỉ biết thẩn thờ nhìn người yêu trong tà áo dài nữ sinh thướt tha cắp sách đến trường, hoặc đôi khi gặp mặt thì ngần ngại mở lời, chỉ nói bâng quơ chuyện trên trời dưới đất. Và phải chăng bài thơ Nhạc Trăng là kỷ niệm một thời tuổi trẻ của nhà thơ về mối tình đầu đơn phương này :

  

Trăng nhập vào trăng lạnh tiếng đàn

Nghe sao giòn vỡ thủy tinh tan

Chơ vơ tiếng hát cao trừng vọng

Ta gửi hồn qua giấc hỗn mang

 

Rỉ máu lên từng giọt ngón tay

Ta thương hồn chết đã bao ngày

Trăng mơ chảy mượt từng chân tóc

Ta uống trăng vàng giọt giọt say

 

Trăng hát miên man buồn chậm chậm

Mây đời che khuất bóng trăng tan

Hồn ta treo cổ vầng trăng khuyết

Và chết vào đêm bóng nguyệt tàn

                         (  Nhạc trăng. TPT )

 

Cô bé Thương Huyền diễm phúc thật,  được  hóa thân thành vầng trăng, và thi sĩ đã ngụp lặn trong tiếng đàn trăng nghe như những mảnh vỡ thủy tinh hòa tan vào tiếng hát trăng buồn muôn thuở.  Bài Nhạc Trăng là tiếng lòng thổn thức bi thương đầy huyết lệ, thống thiết như  bài thơ   PHAN THIẾT – PHAN THIẾT của Hàn Mặc Tử: /Trăng vàng ngọc, trăng ân tình chưa phỉ / Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng / Ta vã tung thơ lên tận sông Hằng / Thơ phép tắc bỗng kên rên thống thiết / Hỡi Phan Thiết, Phan Thiết / Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu, Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư /.

 

Nhạc Trăng  ý và từ mượt mà, điêu luyện, vậy mà Trần phù Thế sáng tác vào cuối năm 1962, lúc đang học lớp đệ nhất trường trung học Hoàng Diệu – Sóc Trăng. Đây có phải là điềm báo hiệu cho những mối tình đầy sóng gió của thi sĩ sau này, hay là những nụ hoa bắt đầu chớm nở  trong khu vườn văn học nghệ thuật Việt Nam.

Người đẹp Thương Huyền sau hơn bốn mươi năm vắng bóng bỗng nhiên xuất hiện bất ngờ qua lời kể của Trần Phù Thế: “ Năm 2004. Võ Đức Trung của nhóm Văn Hóa Pháp Việt tại Paris, có mời tôi góp mặt trong tuyển tập thơ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi ca Việt Nam Hải Ngoại 3. Sách phát hành một tháng sau. Tôi nhận được một phong thư gởi từ nước Germany trời Âu. Tôi ngỡ ngàng khi hai chữ Thương Huyền nằm trên góc trái bìa thư đập nào mắt tôi. Dễ chừng hơn bốn mươi năm không gặp nàng. Bây giờ bỗng nhiên xuất hiện. Tôi vội vàng xé phong bì với niềm xúc động. Tội đọc ngấu nghiến, những con chữ như nhảy múa dưới mắt tôi… Gia đình nàng vượt biên năm 1980 và hiện định cư tại Đức. Nàng cho biết ngày xưa có biết tôi làm thơ và đã từng thích thơ MHT nhưng không biết là bút hiệu của tôi…. Nàng cho biết đã đọc bài thơ “Tuổi Thơ Đại Ngãi” trong tuyển tập của Nhóm Văn Hóa Pháp Việt và bần thần suốt ngày. Những kỷ niệm thời thơ ấu như sống lại, hiển hiện trước mắt. Nàng bèn liên lạc với Võ Đức Trung xin địa chỉ tôi và đã viết thư cho tôi với lời cám ơn.  Đọc thư xong, niềm cảm khái dâng trào, tôi ngồi vào bàn viết và viết trong bốn mươi lăm phút là hoàn tất bài thơ “Bậu về”:

  

bậu về liếc mắt đong đưa

gió Xuân đầy mặt

như vừa chín cây

bậu về má đỏ hây hây

ta mười lăm đã lòng say bậu rồi

  

bậu còn

chơi ác nói cười

những câu dí dỏm

chết đời ta chưa

bậu về nhớ nắng thương mưa

hình như cây cỏ cũng ưa bậu về

 

như là có chút nắng hè

như là có cả

chùm me chua lừng

như là xoài tượng thơm giòn

thêm vào nước mắm chút đường khó quên.

 

bậu về

Đại Ngãi mình ên

bỏ quên kẹp tóc

bắt đền tội ta

bậu quên là tại bậu mà

tại sao bậu bắt đền ta một đời

 

tội này không chịu bậu ơi !

                (  Bậu Về – TPT )

 

Chữ BẬU rất nhiều nghĩa,  thường được  dùng  trong ca dao Việt Nam hoặc trong lời hát ru con của những bà mẹ  miền quê được Trần Phù Thế đem vào thơ  thật tài tình, vừa dí dỏm lại vừa nủng nịu  của lứa tuổi mộng mơ “ chùm me chua lừng – xoài tượng thơm giòn “. Một bài thơ tình tuyệt vời, từng câu từng chữ mộc mạc, bình dị như lời nói thường ngày rất gần gũi thủ thỉ bên tai : / bậu về / Đại Ngãi mình ên / bỏ quên kẹp tóc / bắt đền tội ta / bậu quên là tại bậu mà / tại sao bậu bắt đền ta một đời / tội này không chịu bậu ơi /. Hình ảnh chiếc kẹp tóc trong thơ sao mà dễ thương quá, khiến ta nhớ đến những mái tóc thề vừa chấm ngang vai, những tà áo dài trắng của những nữ sinh thời trung học… và chắc chắn ta không thể nào quên những dỗi hờn trách yêu : / bậu còn / chơi ác nói cười / những câu dí dỏm / chết đời ta chưa /.

 

Tôi và Trần Phù Thế có duyên văn nghệ với nhau vào cuối thập niên 1960. Trần Phù Thế làm trưởng ban 2  Liên đội… BCH đóng tại Bà Hom – Gia Định. Đại đội tôi trực thuộc Liên đội, và tôi là trung đội trưởng đóng quân tại mật khu Lý văn Mạnh. Biết tên nhau qua thơ văn đăng trên Văn, Khởi Hành, Thời Nay … nay lại là lính cùng chung đơn vị nên  lần đầu gặp mặt không hề có những rào đón, khách sáo xã giao  mà rất cởi mở, chân tình. Giờ đây đã hơn bốn mươi năm, tuổi đời đã trên dưới bảy mươi, trải qua một cuộc bể dâu : Trầm luân và khổ nạn, tình bạn chúng tôi cũng vẫn nồng ấm như ngày xưa cùng với những tình thân trong nước và ở hải ngoại như : Ngô Nguyên Nghiễm, Lưu Vân, Nguyễn Thành Xuân, Phạm Nhã Dự, Hà Thúc Sinh, Vũ Uyên Giang, Nguyễn lê La Sơn…

Nhắc đến những người bạn cùng thời mà không nhắc đến Khánh Giang và Dương Trữ La  thì quả là điều thiếu sót không thể nào tha thứ được có phải không Trần Phù Thế ? Hai anh là nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp. Khánh Giang làm tổng thư ký bán nguyệt san Thời Nay, chủ nhiệm tuần báo Đời Nay. Dương Trữ La viết feuilleton trên các nhật Báo,  đồng thời cộng tác với tuần báo Khởi Hành, Đời Nay và một vài tờ báo khác.. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau tại nhà Phạm nhã Dự ở Mười tám thôn vườn trầu Bà Điểm – Hốc Môn,  thảo trang của Ma Xuân Đạo ở Thạnh Lộc Thôn sát bờ sông Sài Gòn, hoặc  nhà  Khánh Giang ở Chợ Lớn, nhà Dương Trữ La tại con hẻm nhỏ đường Trần Quốc Toản… Chúng tôi đầy ắp những kỷ niệm với nhau, văn nghệ là lẽ đương nhiên còn đời thường rất nhiều lần  bên tách  trà  chung rượu.

Nhớ đêm khai trương quán cà phê văn nghệ Phương tại đường Nguyễn Trãi, ca nhạc do ca sĩ Quốc Phong đảm trách với sự có mặt chung vui của Lâm Chương, Tô Đình Sự, Trần Phù Thế, Phạm Nhã Dự, Nguyễn Lê La Sơn …Tất cả đều mặc quân phục chỉ riêng có Khánh Giang và Dương Trữ La mặc đồ dân sự, không nhớ Lâm Chương hay Trần Phù Thế nói khích thế nào, hai anh về thay hai bộ đồ lính mới tinh cổ áo mang cấp bậc chỉnh tề. Thì ra hai anh là quân nhân biệt phái.

Nhà thơ Phạm Nhã Dự viết : “ Từ đó chúng ta tìm gặp nhau ở Khởi Hành hoặc Tin Sáng với Dương Trữ La lân la “ Cây Lý”  thân tình; ở Thời Nay với Khánh Giang, ngồi vỉa hè Phạm Ngũ lão bên “ dĩa cơm sườn và chai Vĩnh tòn ten “, cùng những bài chưa đăng đã trả tiền trước, ở Kim Sơn hay La Pagode ’’.  “Cùng những bài thơ chưa đăng đã trả tiền trước ’’, ý Phạm Nhã Dự đề cập đến con người Khánh Giang, rất hào sảng và rất phóng khoáng. Tôi nhớ rất rõ tòa soạn báo Thời Nay nằm trên đường Phạm Ngũ Lão, tầng một là nơi làm việc của Khánh Giang, tầng trệt dành riêng cho cô thư ký. Mỗi lần đến đưa bài anh đều bảo cô thư ký ứng tiền trước hoặc chờ anh lo xong bài vở rồi chúng tôi sẽ kiếm một cái quán nào đó hàn huyên tâm sự thâu đêm. Hai anh tửu lượng rất cao, uống không bao giờ  say. Có lần tại thảo trang của nhà văn Ma Xuân Đạo sát bờ sông Sài Gòn, Dương Trữ La sau một chầu nhậu nhảy xuống sông tắm bị lục bình quấn chân suýt chết đuối, tôi dân biển lội giỏi kè vai  dìu anh vào bờ. Giờ đây Dương Trữ La, Khánh Giang, Tô Đình Sự, Trần Kiêu Bạt, Quốc Phong … không còn nữa, nhưng mỗi lần nhắc đến  chúng tôi đều xót xa,  ngậm ngùi, tiếc thương cho  những người bạn tài hoa bạc mệnh không tiếp tục theo đuổi con đường mà các anh đã chọn lựa.

 

Nầy Sự, rượu tới phiên mày

uống say một trận cho đầy cơn mê

tuổi thanh niên cũng chẳng hề

Thằng ra chiến trận, thằng về áo quan

[ Tô Đình Sự -  uống rượu ở vườn trầu Bà Điểm – TPT ]

 

Khói sương là chốn vô thường

nắng mưa là chuyện âm dương của trời

tử sinh là lẽ con người

Bạt ơi, số mạng một đời như không

 

đục dòng thơ rượu khơi trong

ta nghe tiếng đứt, mệnh mông mênh chìm

hỏi mày nằm đó lặng im

bao quanh hương khói ai tìm hồn xưa

 

một đời quanh quẩn gió mưa

khăn sô đắp mặt sao thừa rượu cay

một đời hào phóng vung tay

lòng quên thiên hạ tình say bạn bè

[ Trần Kiêu Bạt – TPT ]

 

lục bát là thể thơ thuần túy Việt Nam, dễ làm khó hay không khéo sẽ thành vè. Người xưa đã lưu danh muôn thuở với những áng thơ lục bát bất hủ như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm của Đoàn thị Điểm …Thời tiền chiến có Huy Cận, Nguyễn Bính…  Thập niên năm mươi sáu mươi có những nhà thơ làm lục bát rất hay như Cung Trầm Tưởng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Bùi Giáng, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Thiên Thư, Trần Yên Thảo, Nguyễn Đức Sơn ( Sao Trên Rừng ) … Trần Phù Thế thật sự nặng nợ với thơ lục bát từ ngày anh định cư tại Mỹ vào thập niên chín mươi. Anh rấtmê thơ lục bát bằng chứng  anh làm rất nhiều thơ lục bát, hơn năm trăm bài thơ của anh  tôi đọc được, hai phần ba là thơ lục bát.

 

Anh còn thử nghiệm làm mới thơ lục bát bằng cách thay đổi hình thức thơ. Bài thơ hai câu :

 

 con chim nó gọi bạn tình

 còn ta gọi bậu một mình tàn hơi

 

 Phân   thành sáu câu :

 

 con chim

 nó gọi  bạn tình

 còn ta gọi bậu

 một mình

 tàn  

 hơi

 

 [Tàn hơi – TPT ]

 

  Bài ba câu :

 

 biết tận cùng nghĩa đau thương

 hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh

 em ơi thấy bóng chẳng hình

 

 Phân thành  năm câu :

 

biết tận cùng  

nghĩa đau  thương

hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh

em ơi

thấy bóng chẳng hình

 

 [ Biết – TPT ]

 

Và còn rất nhiều bài lục bát anh mở bài câu tám và chấm dứt câu tám :

 

lênh đênh chín cửa trăm năm cõi người

một lần lỡ bước rong chơi

ta thân phù thế một đời như không

[Bạt – TPT]

 

Bài mở câu sáu kết câu sáu :

 

một hôm lịch sử rụng đầu

cha Long Quân hỡi

mẹ Âu Cơ hời

con rồng phiêu bạt khắp nơi

 [lịch sử – TPT]

 

Bài thơ lục bát  ngắn hai ba câu  ngắt thành nhiều câu  rất cô đọng, giàu nhạc tính. Mỗi câu: một, hai hoặc ba …chữ  tạo nên một nhịp thơ mới thật lạ, âm điệu vừa phong phú lại vừa lơ lửng  chênh vênh, ẩn chứa  bên trong những  câu, chữ là ý thơ mênh mông vô tận. Nhà thơ Thiếu Khanh đã nhận định :

 

“Dường như những thể nghiệm đó cho thấy hình thức sáu chữ, tám chữ không hề là cái khuôn cứng ngắc gò bó trói buộc câu thơ, trái lại, trong giới hạn câu chữ đó tài năng của nhà thơ vẫn có thể làm cho thể thơ càng thêm uyển chuyển và giàu tính biến hóa khiến mỗi bài thơ có vẻ phá vỡ và thóat ra khỏi hình thức câu chữ của nó, hóa giải ranh giới ràng buộc của số câu số chữ, làm tăng thêm sự phong phú của âm điệu, nhạc điệu. Có lẽ thời gian sẽ giúp khẳng định giá trị của sự tìm tòi sáng tạo của anh, ít nhất là về cách xếp đặt mới cho thể thơ truyền thống quen thuộc nầy mà nhiều nhà thơ từng ngậm ngùi nhận xét: thơ lục bát dễ làm mà khó hay!”

                                     [ Thiếu Khanh : Thơ lục bát mới của Trần Phù Thế ]

 

 

Trần Phù Thế sinh ra, lớn lên tại Sóc Trăng, học  trường Hoàng Diệu – Ba Xuyên, trường Phan Thanh Giản – Cần Thơ và sau khi ra tù anh đã hơn mười năm phiêu bạt giang hồ khắp các tỉnh miền Tây trước khi định cư tại Mỹ,  nên những bài thơ tình của  anh  ngọt ngào hương vị  phù sa miền đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt chữ dùng trong thơ anh không pha trộn hai miền Trung – Bắc mà thuần túy chất giọng  miền Nam, đôi khi anh còn dùng những đặc ngữ miền Tây mộc mạc, chân chất thấm đượm tình quê  như : xa ngái, sao vậy cà, chua lừng, con nước nhửng, chết điếng, tuốt luốt… rất gần gủi thân thương.

 

Ta ghét mười năm ở xứ này

Mười năm đủng đỉnh lục bình quay

Như con nước nhửng dòng sông Hậu

Thương cả lần đi ứa máu đầy

[ ta ghét – TPT ]

 

Hai con trống mái giận nhau

Hai con chim mái làm sao vậy cà

 

Mấy lần

bước xuống

con đò

mà quên tuốt luốt

thăm dò cạn sâu

[ lục bát không đề – TPT ]

 

Những nơi anh dừng chân : Đại Ngãi – Hậu Thạnh – Cần Thơ – Sóc Trăng – Kiên lương – Mương Điều – Đường Đức – Trường Khánh – Hòn Me – Hòn Đất … anh đều để lại những bài thơ bát ngát, mênh mông cỏ nội hoa ngàn. Và thấp thoáng đó đây một vài mối tình chơi vơi như những cánh lục bình bập bềnh sóng nước Cửu Long.

 

Một lần ở lại lỳnh quỳnh

đêm nghe cá quẩy bờ kinh  tám ngàn

xác xơ đầu ngỏ cuối làng

hòn me, hòn đất héo vàng tuổi xanh

 

em đi cỏ úa hồn anh

ngày về như thể mỏng tanh cánh chuồn

một lần ở lại Kiên Lương

khói xi măng thở bụi đường hà tiên

[ lỳnh quỳnh – TPT ]:

 

 

phải chăng Hậu thạnh mù xa

khúc sông xóm ngọn, cây đa, cái đình

ta về mắt ướt điêu linh

phải chăng người cũ hiện hình đâu đây

 

lòng đau biết mấy đêm dài

ta đau biết mấy ngàn ngày quê hương

đi lên, đi xuống con đường

bước lê cái bóng tà dương một mình

 

ta về gió thổi hiển linh

[ Hậu Thạnh – TPT ]

 

Nhà thơ Phan Xuân Sinh nhận định về  ngôn ngữ miền nam trong thơ Trần Phù Thế như sau :

Thơ anh vừa sâu sắc vừa lắng đọng. Vừa chua chát nhưng cũng vừa vị tha, độ lượng. Trong thơ anh hiện rõ cái nét chơn chất của người miền nam lục tỉnh hiền hòa, chất phác  Cái ngôn ngữ mộc mạc được anh đưa vào thơ một cách tự nhiên và làm câu thơ trở thành duyên dáng mượt mà.

[ Một góc nhìn : giọng miền nam lục tỉnh trong thơ Trần Phù Thế –

Phan Xuân Sinh ]

 

Nếu ai hỏi tôi nhớ bài thơ nào của Trần Phù Thế nhất, tôi sẽ không ngần ngại trả lời đó là bài ĐỜI TA. Không những tôi mà cả vợ tôi đều thuộc  lòng, thỉnh thoảng tôi đọc cho cả nhà nghe mọi người không cầm được nước mắt. Đây không phải là một tuyệt tác, nhưng bài thơ đã nói lên được phần nào  đời tôi, đời bạn…những người lính VNCH, sau khi cọng sản Bắc việt xé bỏ hiệp định Paris và cưỡng chiếm miền nam ngày 30/4/75, đều chung số phận nghiệt ngã như nhau. Sống chết trong khói lửa chiến tranh. Khổ nhục trong các trại tù cọng sản. Và sau khi  ra tù một số không ít anh em ngậm đắng nuốt cay khi phải đối diện với sự thật đau lòng, gia đình ly tán, cha mẹ vợ con không biết lưu lạc phương trời nào, còn sống hay đã chết ; cộng thêm sự kềm kẹp khắc nghiệt của bọn công an phường xã, nhưng vẫn âm thầm chịu đựng, ngẩng cao đầu không chịu khuất phục trước bạo quyền cọng sản.

 

Bài thơ ĐỜI TA dài 66 câu, 16 đoạn mỗi đoạn 4 câu, ghi lại một phần đời của tác giả, thời gian bắt đầu từ ngày vào tù năm 1975 và ra tù từ trại GIA TRUNG năm 1982. Nói đến trại tù Gia Trung là nói đến sự vô nhân, độc ác cùng cực của bọn cầm thú lên làm người. Chúng đánh tù bằng thanh sắt gõ kẻng báo hiệu giờ lao động, ra lệnh cho bọn trật tự là tù hình sự cùng chúng luân phiên đấm đá những người mà chúng ghét, bất luận thành phần nào, kể cả tu sĩ và những người đáng tuổi cha ông chúng.  

 

chiều xuống sương mù bay lãng đãng

bảy năm không án tù Gia Trung

Bảy năm vắt kiệt đời trai trẻ

Mây trắng Trường Sơn mỏi núi rừng

 

Thà chết như là con kiến nhỏ

Còn hơn hèn mọn kiếp lao tù

chiều nay mây oán trên đầu núi

Hãy chở lòng ta đến hư vô

  …………………………………….

 

Trong lúc bạn ta còn nằm lại

Trên đồi hiu quạnh đất Gia Trung

Gió mưa rát mặt không nhang khói

Hồn lạnh bơ vơ giữa núi rừng

                   (   ĐỜI TA – TPT )

 

Tôi từ trại Nam Hà chuyễn vào trại Gia Trung cuối năm 1981, bị bệnh nặng nên được đưa lên bệnh xá nằm ở phòng lao chờ chết. Nguyễn Hải Chí [ họa sĩ Choé ] làm ở phòng Văn hóa thỉnh thoảng  thăm tôi . Anh đã từng bị biệt giam nhiều tháng chỉ vì táy máy tay chân, trong giờ nghỉ lao động anh vẽ trên cát thằng tù ốm trơ xương, cái đầu là củ khoai lang sùng nham nhở. Anh và tôi tâm sự rất nhiều. Người mà anh nhắc đến nhiều nhất là nhà thơ Viên Linh  và tạp chí Khởi Hành. Nhà thơ Viên Linh đặt bút hiệu Choé cho anh. Khởi Hành đăng tranh biếm họa của anh. Bắt đầu từ đó anh đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng không những ở trong nước mà cả thế giới. Chúng tôi dự định khi ra tù sẽ vượt biên. Mộng của anh sẽ viết một phim truyện bằng tranh đại ý cho Max – Lênin – Stalin – Mao Trạch Đông – Hồ Chí Minh tranh dành ngôi vị Diêm vương dưới âm phủ, kết cuộc âm mưu bại lộ, Max bị quỷ sứ cắt lưỡi, còn những tên khác bị vất vào chảo dầu sôi… Tiếc thay anh mất sớm nên không thực hiện được hoài bảo của mình.

 

Cũng chính  nơi trạm xá này, tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh cai tù trút những đòn thù dã man trên thân thể ốm trơ xương như thây ma của anh em tù nhân. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh một vị mục sư khả kính, áo quần bê bết máu, mặt mũi sưng vù nằm sóng soãi trên nền cát mặc cho bọn trật tự và bọn cán bộ đánh đập dã man cho đến khi ngất xỉu. Trung tá Nguyễn văn Thanh bị đánh chết báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Hà Thượng Nhân, Nguyễn sỹ Tế, Trần Tuấn Kiệt, Trần Dạ Từ, ký giả Dzoãn Bình … …

 

Nhà thơ Trần Phù Thế ở tù tại Gia Trung nên người viết  tạm ghi lại một phần rất nhỏ về những sự tra tấn khốc liệt của bọn cai tù cọng sản. Muốn biết thêm cảnh lao tù của cọng sản khắc nghiệt như thế nào xin đọc trường thiên bút ký Đại Học Máu của nhà văn Hà Thúc Sinh, Đáy Địa Ngục của nhà văn Tạ Tỵ, Thép Đen của Nguyễn Chí Thiệp… và kể cả bút ký của các nhà văn Miển Bắc sống trong chế độ cọng sản như Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn …

 

Trong tù,  không biết ngày nào được tha, tương lai mờ mịt nên chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần rất vững vàng cho những tình huống xấu nhất có thể xẩy ra, kể cả cái chết. Và với người đầu ấp tay gối, có thể vì hoàn cảnh xã hội đưa đẩy đến bước đường cùng, cũng có thể thanh xuân tràn trề sức sống  không chờ đợi được, bước thêm một bước nữa cũng là chuyện  bình thường. Chúng tôi không hề oán trách dù trong lòng hết sức xót xa, đau đớn. Tuy nhiên, phần đông những người mẹ, người vợ có chồng tù tội dưới chế độ Cọng sản đều làm tròn thiên chức của một người đàn bà Việt Nam, thủ tiết chờ chồng, và dù chồng có chết trong tù cũng vẫn một lòng một dạ thủy chung thờ chồng nuôi con.

 

Vợ ta hãy nhớ lời ta dặn

Mai mốt bặt tin đừng đi tìm

cải tạo, đi tù coi như chết

coi như vĩnh biệt phút ban đầu

 

một mai em thấy lòng son trẻ

vẫn còn nóng hổi chuyện thanh xuân

thì em cứ bước thêm bước nữa

ta chúc cho em phúc vạn lần

 

khuyên em là giả, em đi thật

hai đứa con khờ đói bơ vơ

hai đứa con khờ ba bốn tuổi

cha tù mẹ bỏ sống bơ vơ

              (    Đời Ta – TPT )

 

 Nhà thơ Lê Phi Ô nghiến  răng cắn nát môi lấy máu viết thành thơ : / vợ bỏ con thơ theo cán bộ / Đồng tiền đánh đổi cả nhục vinh / Hỡi ơi canh bạc đời đen đỏ / Mỹ nhân hề chén rượu tàn canh /Tiếng gọi Việt chúng tôi / Cảnh nhà  Trần Phù Thế bi thảm hơn nhiều. Chồng tù tội. Vợ ôm cầm sang thuyền khác bỏ hai con nhỏ mới lên ba bốn tuổi  bơ vơ không nơi nương tựa, lang thang, đói rách. Ông bà nội tuổi già sức yếu lặn lội tìm cháu nhiều tháng trời mới gặp được hai cháu đang ăn mày giữa chợ.  Điều bi thảm nhất ở đây là hai cháu  ăn xin ở hai nơi khác nhau, khi gặp lại ông cháu chị em chỉ còn biết ôm nhau khóc. Viết những dòng này mà tay tôi run run bồi hồi xúc động, dù tôi biết hiện nay hai cháu định cư tại Mỹ cùng cha theo diện HO, cuộc sống ổn định, hạnh phúc bên chồng con.

       

em đi một tiếng không giao lại

hai đứa con thơ cho mẹ chồng

bà đi tìm cháu bao ngày tháng

gặp cháu ăn mày giữa chợ đông

con chị ôm em mừng khóc ngất

nội ôm hai cháu lệ lưng tròng

 

ta về đứa chị theo bà nội

bán chuối ven sông với chiếc xuồng

bảy năm vắng mẹ, cha tù tội

con trải thân đời với gió sương

  

còn con gái nhỏ cùng ông nội

chăn vịt trên đồng mới gặt xong

tuổi thơ đội nắng, hai màu tóc

nắng cháy đời con, cháy cả lòng

                  

ta về hai trẻ nhìn ngơ ngác

xa lạ bừng trong mắt trẻ thơ

nước mắt còn đâu. Còn nước mắt

ôm con mà khóc tự bao giờ

 

thưa ba, thưa mẹ, con tạ tội

ba khổ mẹ rầu những bảy năm

lịch sử chơi con đòn đau điếng

bảy năm tù tội nặng nghìn cân

                (Đời ta – TPT )

 

Vâng, lịch sử không những chơi ta một đòn đau điếng mà còn chơi cả dân tộc chúng ta một đòn đau điếng có phải không Trần Phù Thế ? Giờ đây, sống ở xứ người, nhìn về quê hương Việt Nam mà lòng đau như cắt. Xã hội băng hoại. Đạo đức suy đồi. Biển, đảo, đất, rừng dần dần mất về tay Trung Cộng. Vậy mà bọn sâu bọ Ba Đình vẫn sống phè phỡn, nhởn nhơ trên mồ hôi, nước mắt, và xương máu của đồng bào. Chúng còn đánh đập dã man, bắt nhốt vào tù những người yêu nước đã can đảm đứng lên đáp lời sông núi, cất cao tiếng nói bảo vệ giang sơn, tổ quốc.

 

Đọc một câu thơ hay sướng cả tuần. Đọc một đoạn thơ hay sướng cả năm. Đọc một bài thơ hay sướng cả đời. Không nhớ câu nói này của ai, nhưng rất đúng với những người yêu thơ và nặng nợ với thơ.  Thời kháng chiến có Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, Tây Tiến của Quang Dũng, Tống Biệt Hành của Thâm Tâm …,  vào thập niên 50, 60 còn có rất  nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Hoàng Trúc Ly, Viên Linh, Tuệ Sĩ, Tô Thùy Yên… mà trong bài viết ngắn này người viết không thể trích ra hết được ; đã vượt thời gian lưu danh muôn thuở. Thơ Trần Phù Thế có rất nhiều câu hay, đoạn hay, và bài Bậu Về rất hay theo thiển ý của người viết, không biết sau này sẽ ra sao ? Thời gian sẽ trả lời. Nhà thơ Trần Phù Thế có lẽ khi làm thơ không nghĩ đến điều này, được – thua – còn – mất chỉ là một thoáng phù du có phải không Trần Phù Thế ? Anh vẫn tiếp tục đi theo con đường anh đã chọn lựa, dệt những vần thơ tình ngọt ngào hương vị phù sa miền đồng bằng sông Cửu Long.

 

 

TRẦN  VĂN  SƠN

ĐƯỜNG TRÚC THƯ TRANG

1 / 2013

 

 

art2all.net

 

Chùm Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay, Thơ Ngắn Viết Về Tiếng Ve Mùa Hè

Giữa cái nắng chói chang oi ả đầu mùa, tiếng Ve mới ồn ào náo nhiệt làm sao! Tiếng Ve đã phá vỡ đi sự im ắng tĩnh lặng thường ngày nhưỡng chỗ cho một không gian sôi động đầy ắp những tiếng vui cười của các cô cậu học trò!

Tiếng Ve như giục giã lòng người, khơi gợi những nỗi buồn vui trong ký ức một thời. Tâm trạng ấy, nỗi niềm ấy như hòa cùng tiếng Ve để rồi khi buồn ta cảm nhận tiếng Ve thật não nề. Nhưng khi vui lại cảm nhận tiếng Ve như một khúc ca réo rắt sôi động của ngày hè!

Không biết tự bao giờ Tiếng Ve đã gắn liền với tuổi thơ, tuổi học trò ngây ngô đầy tinh nghịch.

Và cũng không biết có bao nhiêu nhà thơ cũng đã cho ra đời những tác phẩm đi sâu vào lòng người đọc đến như vậy!

“Tiếng Ve đu cành Sấu, tiếng Ve náu cành Me, Tiếng Ve vẫy tuổi thơ, tiếng Ve chào mùa hè, và gọi cơn gió mát, tiếng Ve chào say xưa, thấy thêm yêu thành phố, trong sáng tuổi thơ ngây”! Bài hát ấy không ai là không biết đến.

Và có không ít bài thơ cũng đã lột tả hết được những nét tinh túy của thiên nhiên đất trời mỗi độ Hè về cùng nghe tiếng Ve ngân mà chúng tôi muốn gửi gắm đến mọi người với tất cả sự lãng mạn và nỗi niềm của thi sĩ !

Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay 01

KIẾP VE SẦU

Thơ: Nguyễn Đình Huân

Có ai thương kiếp ve sầu mùa hạ Suốt cả ngày cứ vật vã khóc than Rút ruột mình nhức nhối cả tâm can Ve cứ khóc cho bẽ bàng tình cũ

Ban ngày thở than đêm đêm không ngủ Lột xác rồi sao quá khứ còn vương Kiếp trước bên nhau ở dưới sân trường Ve là cô bé dễ thương hay hát

Cho con tim anh sóng xô dào dạt Hai đứa mình cùng khao khát yêu thương Nhưng chiến tranh tổ quốc gọi lên đường Mùa hè ấy ra chiến trường diệt Mỹ

Không trở về anh đã thành liệt sĩ Em đau buồn rầu rĩ hóa kiếp ve Quay về trường xưa lúc phượng chào hè Gọi tên anh ôi sao nghe thổn thức

Mối tình buồn của ve từ kiếp trước Vẫn còn sầu vì không được sánh đôi Tên ve sầu mang suốt cả cuộc đời Cứ tiếc thương nhớ một thời con gái.

Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay 02

THƯƠNG CHO CÁNH VE SẦU

Thơ: Minh Phương

Hạ về ôi bức..rộn tiếng Ve Vi vu gió thổi , rao khúc hè . Ve sầu thao thức , kêu khe khẽ ! Giữa buổi trưa hè , gió vo ve…

Thuở ấy chia tay , còn vui vẻ . Cứ ngỡ mai này , lại gặp nhe Nào ngờ buổi ấy , đi chẳng ghé ! Thênh thang cát bụi , mắt lệ nhòe ..

Ve sầu thương cảm , òa khóc nhẹ . Người đi tôi mãi , đỗ lỗi Ve .. Vì Ve khóc mãi , người chẳng ghé . Thương cho số kiếp , tội cánh Ve …

➥ chùm thơ xem nhiều: Thơ mùa Hè và Tuổi học trò (những bài thơ nhớ thương tuổi học trò ngày xưa mỗi khi mùa Hè chia ly lại đến, nhớ phút chia tay, những lời tỏ tình chưa kịp nói,…)

Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay 03TIẾNG VE Thơ: Sinh Hoàng

Một trưa nồng nghe inh ỏi tiếng ve Hè đã về ve vang lừng rộn rả Kiếp ve sầu có vui đâu mà hối hả?! Hãy để thời gian chầm chậm trôi qua

Tiếng ve sầu non nỉ ̉ bản đồng ca Từ lơ lững rơi vào lòng rất lạ Ngôi trường xưa mái tranh tre nứa lá Đã khắc ghi bao kỷ niệm êm đềm

Mái trường đơn sơ trước gió chông chênh Gốc phượng vỹ̀ giờ đã thành cổ thụ Mùa hè về vui tiếng chim tu hú Lủ học trò nghỉ học mải mê chơi

Tuổi thơ ngày nào đã quá xa xôi ! Tan tác đàn chim phiêu bạt phương trời Vẫn còn đấy tiếng ve mùa hạ tới Lắng đọng tâm tư xao xuyến bồi hồi

Trưa nay buồn nỗi nhớ mãi chơi vơi Kỷ niệm xưa ngỡ đã thành trầm tích Tiếng ve ngân dội vào lòng đánh thức Ký ức hiện về…thuở ấy tiếng ve .

Bao nhiêu năm sống xa quê, hôm nay lại được nghe tiếng Ve sầu gọi Hạ. Tiếng ve sầu vừa quen vừa thấy lạ, như khúc từ ly da diết điệu buồn thương. Tuổi thơ đi qua dưới mái trường mến yêu, không biết bạn bè giờ đang ở đâu và làm gì? có cảm thấy thổn thức khi nghe tiếng Ve của ngày Hè hay không?..

Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay 04VE SẦU Thơ: Liên Trần

Nhìn nắng Hè oi ả Thương lũ ve khản lời Ve khóc vì thiếu bạn Hay vì tình buông lơi

Tiếng ngân vọng xa xôi Cho hè thêm nóng bức Cho lòng người rạo rực Hè qua..năm nửa rồi

Ve ru đôi bạn trẻ Ve ghen cánh phượng hồng Người chê ve ồn ã Sang thu còn nghe không

Có tình yêu như thế Hiến dâng cả thân mình Hết mùa hè đổ lửa Ve thoát Sầu quên sinh…

➥ chùm thơ xem nhiều: thơ ngắn nhớ về tuổi học trò (những bài thơ hoài niệm về tuổi học trò với hình ảnh của mái trường xưa, bạn bè, thầy cô giáo…)

Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay 05

TIẾNG VE MÙA CŨ

Thơ: Phú Sĩ

Em trở về Tìm tiếng ve mùa cũ Ngày phượng buồn bên song cửa trường xưa Những con đường ngập lá cỏ ngày mưa Khúc giao hưởng còn chưa phai màu nắng

Em trở về Tìm mùa hè tĩnh lặng Tiếng trống trường sao hoang vắng người ơi Ve đơn côi cất tiếng hát rả rời Buồn lạc điệu chập chờn trong đêm tối

Em trở về Tìm trong làn gió thổi Những muộn màng còn lại với thời gian Tiếng rao đêm ai đó buổi lỡ làng Lòng ngõ vắng còn ngỡ ngàng trăn trở

Em trở về Tìm trong mùa hạ vỡ Tuổi thơ nghèo nặng nợ dưới đồng sâu Chiếc cần câu ẩn giấu ước mơ hồng Trong vòm lá cầu vồng ai thầm nguyện

Em trở về Chỉ còn mùa hạ tiễn Lệ rưng dòng xao xuyến nhớ mùa xa.

Hè đến thật rồi.. giữa cái nắng oi nồng, tiếng ve sầu ồn ào dường như làm không khí càng nóng bỏng.. tiếng ve nhắc ta quay trở về với tuổi học trò nhiều thơ mộng.. Xen những tiếng ve vang vọng.. có những tiếng rè rè kẹt kẹt đứt quãng.. đó là tiếng kêu của những chú ve mới lột xác.. chúng như những cậu học trò choai choai.. chưa lớn hẳn..

Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay 06

KHÚC HÁT VE SẦU

Thơ: Minh Phương

Gió khe khẽ, tiếng Ve kêu buồn bã. Phượng vỡ òa , bay lã khắp muôn nơi Dáng ngây thơ , nhặt hoa thắm tuyệt vời Từng mảnh ghép , với lời thơ thắm thiết ..!

Trang lưu bút, trao nhau lời diễm tuyệt . Phút bàng hoàng, da diết sắp rời xa . Trắng trinh nguyên , tuổi ngọc rất thật thà Nghe khúc hát , Ve ca nhòa đẫm lệ ..!

Thời áo trắng, ngây thơ là như thế . Cứ Hạ về , lại để nỗi sầu bi . Trang thơ xanh , khắc khoải ghi những gì .? Thời gian đã , lấy đi nhòa kỷ niệm ..!

Ve đã hát , ru lòng ai tắt lịm . Nỗi mong chờ , từng chiếm lấy hồn tôi Buổi chia tay , giây phút phân ly rồi . Em cười mỉm , đưa tôi hoa Phượng thắm .!

Trang nhật ký , tôi trao lời say đắm . Cánh Bướm hồng , tô đậm chuyện lứa đôi Ví đôi ta ..như đôi Bướm mặn mòi . Ghép trong vở , sánh đôi không chia biệt ..!

Nay Hạ đến , Ve ca lời thắm thiết . Bởi Ve sầu , nào biết khiến tôi đau . Ký ức xưa , giờ như sóng ba đào . Tim nhỏ lệ , trách sao duyên phận bạc ..!!

Thơ Tiếng Ve Sầu Ngày Hạ Hay 07NHẠC HÈ Thơ: Thọ Trúc

Tiềng ve sầu rỉ rả Râm ran cả trưa hè Hòa tiếng xe hối hả Chung vui bản nhạc ve.

Phố dài…nhớ lũy tre Nhà cao… mơ xóm nhỏ Tưởng như ở đâu đó Hương lúa mới ùa về…

Phố giăng theo triền đê Choàng lên mình áo mới Trào dâng niềm hứng khởi Xôn xao bản nhạc hè.

Thơ Mùa Hạ Với Tiếng Ve Sầu Hay 01HẠ NHỚ Thơ: Nguyễn Minh Tơ

Nắng hạ về phượng buồn mang nỗi nhớ Tiếng ve sầu than thở khúc chia tay Nuốt nghẹn ngào hẹn gặp lại ngày mai Tình lưu luyến nhớ hoài đêm chia biệt.

Dòng lưu bút anh viết lời tha thiết Với nỗi lòng da diết nhớ thương nhau Vẫn thầm mong duyên sau trước đậm màu Vui hạnh phúc cùng nhau xây bến mộng.

Giữa không gian mênh mông đầy hy vọng Phượng thắm hồng cánh mỏng vẫn còn đây Người thương ơi có quay lại nơi này Em mang mối tình đầy trong thương nhớ.

Dòng lưu bút như dòng thơ muôn thuở Sẽ theo em như duyên nợ suốt đời Hạ lại về nhìn theo xác phượng rơi Lòng xao xuyến bồi hồi bao kỷ niệm.

Thơ Mùa Hạ Với Tiếng Ve Sầu Hay 02HÈ VỀ GỢI NHỚ Thơ: Nguyên Vy

Tiếng ve sầu gợi lại nỗi niềm riêng Nhớ chiều ấy mắt hiền anh ngắm mãi Dáng yêu đẹp thướt tha người con gái E thẹn lòng em ngại mặt trông xa

Anh nhẹ trao cánh phượng đỏ mượt mà Gần giây phút rồi ta người một ngã Mắt rưng lệ nhìn nhau dâng buồn bã Em tiếc thầm thương quá tuổi học sinh

Lo ngày mai biết chuyện của chúng mình Còn đượm chữ ân tình hay quên lãng Bao kỷ niệm trôi dần theo năm tháng Nhớ nghe anh những sáng bước chung đường

Dẫu xa rồi anh hỡi mãi vấn vương Người em gái má hường hay hờn dỗi Tình yêu thủa học trò trôi qua vội Nhìn hè sang ngập nỗi nhớ bây giờ.

Thơ Mùa Hạ Với Tiếng Ve Sầu Hay 03TRỞ LẠI TRƯỜNG XƯA Thơ: Lê Kim Liên

Anh có thấy tiếng ve gọi bạn Khúc nhạc buồn ai oán ban trưa Bâng khuâng hồn hỡi sầu mưa Nhớ ai ai nhớ đong đưa tháng ngày – Sân trường vắng lá bay tơi tả Tôi trở về lúc đã chiều sang Phượng ơi bút chép ghi trang Lưu dòng nhật ký chứa chan nỗi buồn – Lạc lõng quá giữa khuôn trường cũ Lớp còn đây mà lũ bạn đâu Nghe trời chĩu nặng dòng châu Không gian ai oán vương sầu khắc tim – Kẻ viễn xứ về tìm kỷ niệm Sau tháng năm ly biệt cố hương Nhìn hoa phượng nở ngập đường Lâng lâng hồn hỡi nhớ thương bạn hiền – Sông ai thả treo nghiêng vầng nguyệt Cho canh trường da diết nỗi mong Đò đưa dĩ vãng xuôi dòng Theo con nước bạc đục trong trôi dài – Nay trở lại lòng hoài đau vợi Trường lớp xưa giờ đổi thay ngôi Còn đâu mái ngói một thời Tầng cao lầu mới thế nơi giảng đường – Hàng phượng ấy dường như ẩn khuất Cả dãy bàng cũng mất con đâu Ve than khắc khoải thương sầu Thầy ơi bạn hỡi về đâu cả rồi – Buồn lặng lẽ giữa nơi trống trải Hoang lạnh hồn phủ mãi bóng đêm Mái trường tuy vẫn còn tên Nhưng nay biến đổi mất nền tảng xưa.

Truyện Ngụ Ngôn: Ve Sầu Và Kiến

Ve Sầu Và Kiến

Ngày hè đỏ lửa, ve sầu đang lười biếng nằm duỗi chân dưới một tán hành xanh lơ. Thỉnh thoảng lại nhấm nháp một giọt mật ong thượng hạng, lim dim hưởng thụ cảm giác vương giả, thượng lưu thì bất chợt thấy kiến thân thể nhớp nháp mồ hôi thấm đẫm lên tấm áo đen sơn rách hì hục vác một hạt gạo to tướng trên vai chậm chạp lê bước ngang qua.

Truyện ngụ ngôn: Ve Sầu và Kiến

Buồn miệng, ve sầu cất tiếng:

– Bác kiến nè, trời nắng vậy mà sao bác không nghỉ tay một chút? Việc gì mà phải đày đoạ bản thân như vậy.

Chợt nghe thấy tiếng ve sầu, kiến khẽ ngẩng đầu lên, giơ càng quẹt ngang lau vội một giọt mồ hôi trên trán rồi đáp.

– Bác ve đó hả? Tôi cũng muốn nghỉ lắm chứ bác nhưng mùa đông sắp đến rồi. Nếu bây giờ không lo tích trữ dần lương thực thì mùa đông tới mấy đứa nhóc nhà tôi không biết sống sao nữa?

– Ha ha, Kiến ơi bác lo xa quá giờ mới mùa he, còn mùa thu nữa, rồi mới tới mùa đông mà. Bác cứ nghỉ tay, lại đây nếm thử chút mật ong thượng hạng này, tôi dùng 2 ngày lương thực mới mua được từ Nàng Kiến Chúa xinh đẹp của làng bên đó.

– Cảm ơn bác, – ve sầu xua tay – mấy thứ cao cấp đó không hợp với tôi đâu, thôi trễ rồi tôi đi trước nha bác!

Thấy thế ve sầu chép miệng, khẽ lắc đầu, rồi tự nhủ: “Con kiến này rõ là lẩm cẩm, hè mà không lo vui chơi, sống cực như vậy thì sống làm gì!”. Thế rồi, Ve lại lại lười nhác nằm xuống, lim dim hưởng thụ ánh nắng ấm áp của ngày hè.

Thời gian thoi đưa, thu qua rồi đông tới, thoáng chốc ánh nắng bảy màu rực rỡ của ngày hè đã bị những hạt tuyết màu trắng sữa xua đi, và gió lạnh từ đôi môi nứt nẻ của nữ thần đông giá đang thổi tới.

Chậm chạp lê bước trên mặt đất xác xơ không một ngọn cỏ, bộ dạng tiều tuỵ vì đói ăn của Ve Sầu run lên từng chập.

“Đói quá, giá như lúc này có chút gì để nhấm nháp nhỉ?” – Ve Sầu hà hơi, cố sưởi ấm hai bàn tay giá lạnh. Bất chợt, ve ta bị thu hút bởi một ánh sáng hắt ra từ một nếp nhà thanh nhã bên đường. Liếc mắt qua khe cửa, ve ta chợt nhận ra trong đó một gương mặt quen thuộc: Kiến!

Lúc này cả nhà Kiến đang quay quần bên bếp lửa ấm, thức ăn nóng sốt đã dọn sẵn thừa mứa trên bàn. Bất giác, Ve Sầu chợt thấy chạnh long, chép miệng than:

“Biết vậy mình đã tích trữ lương thực từ mùa hè. Biết vậy mình đã không đổi lương thực lấy mất giọt mật thượng hạng chết tiệt đó!

Tuy nhiên, trên đời vốn không có ai bán loại thuốc chữa bệnh “Hối hận”. Mặc cho những tiếng than thở, nuối tiếc của Ve thời gian vẫn không quay trở lại, gió lạnh từng cơn vẫn nổi lên, khiến những giọt nước mắt nóng hổi của Ve như bị đông cứng lại…

Bài học: Tiết kiệm là việc dễ khiến người ta khó chịu nhất trên đời! Bạn đang làm việc rất vả, cuối tháng tiền được trả vào tài khoản ngân hàng của bạn không phải là một con số nhỏ, thế nhưng bạn liên tục phải đưa ra lời từ chối những buổi đi ăn chung, thế nhưng, bạn xài điện thoại rẻ tiền, mặc những chiếc áo không phải là hàng hiệu, chịu đựng ánh mắt, và thỉnh thoảng cả vài lời xì xào: “Tay đó KIẾT lắm!”