Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Những Bài Thơ Về Bác Hồ Của To Hữu Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Nhà Thơ Tố Hữu Và Những Bài Thơ Viết Về Bác Hồ

Thơ Hay Về Cuộc Sống Bình Yên Giúp Tâm Hồn Nhẹ Nhàng Hơn Mỗi Ngày

Đề Tài: Thơ Bác Nông Dân

Hoạt Động: Thơ Bác Nông Dân

Văn Học: Thơ: Bé Ơi (Phongthu)

Giáo Án Làm Quen Văn Học: Thơ “bé Ơi”

Trong nền thi ca Việt Nam có những nhà thơ suốt đời viết về hình tượng Bác Hồ như nhà thơ Hải Như với bài thơ nổi tiếng: “Chúng con canh giấc ngủ, Bác Hồ ơi!”. Hay có nhà thơ, cả đời thơ, tác phẩm hay nhất gắn bó với tên tuổi “thương hiệu” của mình như nhà thơ Minh Huệ với tuyệt tác: “Đêm nay Bác không ngủ”.

Nhà thơ Tố Hữu chưa phải là nhà thơ viết nhiều về Bác nhưng ông là người có nhiều bài thơ hay viết về Bác. Lý giải điều này ta thấy nhà thơ có những thuận lợi riêng là người được gần gũi với Bác Hồ trong những ngày trên Chiến khu Việt Bắc và sau này về Hà Nội. Ông là người đảm nhận trọng trách công tác và tư tưởng của Đảng nên nhiều lần được làm việc trực tiếp với Bác Hồ. Và điều quan trọng nhất, ông là nhà thơ xuất sắc, lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Dọc theo hành trình thơ Tố Hữu ta được tiếp cận những dấu ấn, mốc son lịch sử, mang ý nghĩa của thời đại, mang dấu ấn của con người lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Thời kỳ đầu cách mạng thành công, viết về Bác với tư cách lãnh tụ tối cao trong thơ Tố Hữu còn có một khoảng cách ngưỡng mộ và chiêm ngưỡng từ xa. Thơ Tố Hữu thời kỳ này viết về Bác còn chung chung khái quát với những hình tượng lớn: “Người lính già – đã quyết chiến hy sinh” … để nói về tầm vĩ đại của Bác, âm hưởng ngợi ca mang tính hào khí đậm tô như: “Hồ Chí Minh – Hỡi ngọn đuốc thiêng liêng – Trên đầu ta ngọn cờ dân tộc – Trong thế kỷ trong tên người: Ái Quốc – Bạn muôn đời của chủ nghĩa đau thương”. Càng về sau này được gần và hiểu Bác hơn thì thơ Tố Hữu khắc họa hình ảnh Bác thật đời thường và giản dị, là hiện thân của tâm hồn và trí tuệ dân tộc hôm qua và hôm nay: “Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước – Tiếng ngày xưa và tiếng cả mai sau…”. Bởi Bác là niềm tin và sức mạnh: “Mỗi khi lòng ta xao xuyến rung rinh – Môi ta thầm kêu Bác: Hồ Chí Minh – Và mỗi trận, mỗi mùa vui thắng lợi…”.

Từ bài thơ “Hồ Chí Minh” (1945), bài thơ đầu tiên viết về Bác đến bài thơ thứ hai “Sáng tháng 5” (1951) là một chặng đường khá dài khi nhà thơ được điều lên Trung ương ở Chiến khu Việt Bắc. Ông cảm thụ vẻ đẹp đích thực thường ngày của Bác. Và cảm giác này là cảm giác lần đầu: “Ta bên người, người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn bên Người một chút…”. Đó chính là phẩm chất cao quý của Bác. “Sáng tháng 5 ” có những câu thơ mang tính chất những phát hiện đầu tiên khi xây dựng chân dung tinh thần của Bác. Nhà thơ viết: “Bác kêu con đến bên bàn – Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ – Con bồ câu trắng ngây thơ – Nó đi tìm thóc quanh bồ công văn…”. Ở đây mối quan hệ giữa cái phi thường và cái bình thường được giao hòa vào nhau để làm nên sự hài hòa và cao quý: “Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị – Màu quê hương bền bỉ đậm đà…”. Từ bài thơ “Sáng tháng 5”, Tố Hữu đã nhìn Bác từ bên trong, từ chiều sâu tâm tưởng, cho ta thấy Bác vĩ đại không chỉ như một vị lãnh tụ tối cao mà còn bình dị trầm tĩnh trước những sự việc trọng đại của đất nước cũng như trong đời sống hằng ngày: “Bàn tay con nắm tay Cha – Bàn tay Bác ấm vào da vào lòng”. Mối đồng cảm ấy có sức hút, sức truyền cảm lớn lao, sức mạnh tinh thần, sức mạnh nhân nghĩa của lòng bác ái cao cả của Bác. Dường như không còn khoảng cách giữa lãnh tụ và người dân. Phải là người có tình cảm thành kính và sâu sắc thì Tố Hữu mới nói được những lời gan ruột, cách xưng hô ân cần quen thân gần gũi: “Cho con được ôm hôn ảnh Bác – Cho con hôn mái đầu tóc bạc – Hôn chòm râu mát rượi hòa bình…”.

Trong những bài thơ, câu thơ viết về Bác ở Chiến khu Việt Bắc bao giờ hình ảnh Bác Hồ cũng được lồng trong khung cảnh tuyệt đẹp của thiên nhiên, của suối, rừng, mây, núi. Nhà thơ Tố Hữu đã khá nhạy cảm và tinh tế bắt được những nét đẹp hài hòa như thế qua ống kính tâm hồn của mình: “Nhớ ông cụ mắt sáng ngời – Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường – Nhớ Người những sáng tinh sương – Ung dung yên ngựa trên đường suối reo – Nhớ chân Người bước lên đèo – Người đi rừng núi trông theo bóng Người…”. Đặc biệt, trong thơ Tố Hữu hình ảnh mái tóc của Bác (cũng là hình ảnh ước lệ của thời gian của tâm trạng) luôn được hiện lên lúc cận cảnh lúc mênh mang với bao cung bậc nỗi niềm. Cảm kích trước vẻ đẹp bình dị của Bác, nhà thơ thốt lên: “Cho con hôn mái đầu tóc bạc”. Mái tóc bạc tả thực của giây phút trực cảm ngỡ ngàng, dạt dào thương kính xúc động của nhà thơ. Hòa bình lập lại trên miền Bắc thân yêu sau 9 năm kháng chiến trường kỳ, trong niềm vui tự hào của đất nước, bài thơ “Ta đi tới” dào dạt hình ảnh mái tóc bạc của Bác Hồ: “Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ …”. Câu thơ tả thực mà lãng mạn bay bổng và cổ kính trang nghiêm. Hai hình ảnh hiện hữu trong nhau: Lá cờ đỏ sao vàng bay và mái tóc bạc Bác Hồ của niềm vui chiến thắng, lòng tự hào dân tộc. Nhưng thiêng liêng hơn đó là biểu tượng của hồn nước, hồn dân tộc. Đây là cách nói hàm súc bằng thơ nhằm tôn vinh sự vĩ đại của lãnh tụ Hồ Chí Minh về công lao to lớn của Người đối với dân tộc. Trong bài thơ “30 năm đời ta có Đảng” mái tóc bạc của Bác lại hiện ra trong niềm vui và cảm xúc ân tình: “Bạc phơ mái tóc người cha. Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng Người”. Với bổ ngữ “phơ” là nét tả quan sát bề ngoài của năm 1960 đến bài thơ “Theo chân Bác” thì mái tóc của Bác: “Phơ phơ tóc bạc chòm râu mát…” viết sau khi Bác qua đời 5 tháng. Điệp từ “phơ phơ” diễn tả hình ảnh mái tóc của Bác đã trắng toát hết thảy như gói trọn cả cuộc đời hy sinh của Bác cống hiến cho dân, cho nước. Và cho cả sự nghiệp cách mạng thế giới như Tố Hữu đã viết trong bài “Cánh chim không mỏi”: “Bác về tóc có bạc thêm – Năm canh, bốn biển có đêm nghĩ nhiều”. Tố Hữu cũng đã nhiều lần viết về đôi mắt sáng thần tiên, tinh anh của Bác luôn tỏa ra ánh sáng trí tuệ với tấm lòng nhân hậu biết bao: “Đôi mắt Bác hiện lên cười phấn khởi – Ta lớn cao lên bay bổng diệu kỳ…” tượng trưng cho sức mạnh tinh thần lớn lao. Hay trong khung cảnh lễ đài trang trọng thì Bác hiện ra thật dung dị lạ thường từ ánh mắt yêu thương của Người: “Trông đàn con đó vẫy hai tay – Cao cao vầng trán ngời đôi mắt”. Những người có dịp được gặp Bác Hồ bao giờ cũng rất ấn tượng với đôi mắt của Bác, với nhãn quan sâu sắc Bác nhìn thấu rõ: “Ôm cả non sông mọi kiếp người”. Khi mà: “Bộ tư lệnh những mái tóc hoa râm, những mái đầu trắng xóa – Vẫn có Bác ung dung trông xuống dịu dàng”…

Trong thơ Tố Hữu đậm đặc những câu thơ tả chân, những chi tiết hiện thực lay thức về cuộc sống bình dị của Người. Ông đã thổi hồn vào từng câu chữ và hiện thực được chắp cánh thăng hoa bay lên lãng mạn. Ví như khi ông viết: “Nhà gác đơn sơ một góc vườn – Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn – Giường mây chiếu cói đơn chăn gối – Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn…” thì đây giống như ống kính tâm hồn của nhà thơ đã quay lại thật cụ thể nếp sống hằng ngày bình dị của Bác. Và cao hơn đó là thổn thức nỗi lòng chan chứa vì đức hy sinh, tình nghĩa thấm đượm của Bác khi “Máy chữ thôi reo nhớ ngón đàn – Thong dong chiếc gậy gác bên bàn – Còn đôi dép cũ mòn quai gót – Bác vẫn thường đi giữa thế gian…”. Cứ thế, như lời tâm sự chân thành xúc động, chúng ta được cùng nhà thơ nâng niu từng hiện vật đời sống thường ngày của Bác.

Nếu như “Sáng tháng 5 ” là một trong những bài thơ đầu tiên viết về Bác thành công nhất thì “Bác ơi” viết lúc Bác mất và đặc biệt trường ca “Theo chân Bác” là những đỉnh cao của thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ. “Bác ơi” là tiếng nấc nghẹn ngào: “Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa …” . Và: “Bác đã đi rồi sao Bác ơi! Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời – miền Nam đang thắng mơ ngày hội – Rước Bác vào thăm thấy Bác cười” đó là năm 1969. Thì trong “Toàn thắng về ta” viết năm 1975 lời thơ cất lên reo vui trước tin thắng trận: “Ôi buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp – Bác Hồ ơi! toàn thắng về ta – Chúng con đến xanh ngời ánh thép – Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa”. Nếu như Maiacốpxki có trường ca “Lênin” nổi tiếng viết về vị lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Tháng Mười, thì trường ca “Theo chân Bác” được Tố Hữu viết năm 1970 tựa như cuốn nhật ký về cuộc đời Bác lưu lại trong đó những gì đơn sơ nhất, thân thương nhất từng gắn bó với Bác thời ấu thơ: “Tôi trở về quê Bác làng sen – Ơi hoa sen đẹp của bùn đen – Làng quê như thể quê chung vậy – Mấy dãy ao chua mảnh đất phèn”. Và: “Thăm lại vườn xưa mái cỏ tranh – Thương hàng râm bụt luống rau xanh – Ba gian nhà trống nồm đưa võng – Một chiếc giường tre chiếu mỏng manh. Vâng, quê Bác làng sen Kim Liên là quê chung của mọi người. Hình tượng Bác Hồ trong thơ Tố Hữu luôn hiện lên với một tượng đài trong lòng dân. “Mong manh áo vải hồn muôn trượng – Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tố Hữu, xin thành kính tưởng nhớ ông – một nhà tư tưởng – văn hóa xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta. Người đã dẫn dắt biết bao thanh niên tìm được lý tưởng cao cả vì đất nước, độc lập dân tộc mà dâng hiến tuổi xuân. Người giúp mọi người thêm hiểu biết, kính yêu Bác Hồ qua những bài thơ của ông. Tình yêu lãnh tụ trong hàng triệu trái tim được nuôi dưỡng ngày càng sâu đậm từ những bài thơ, lời ca mà các nhạc sĩ, nhà thơ, trong đó có Tố Hữu truyền cho, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến kiến quốc, đem vinh quang về cho dân tộc, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân.

Nguyễn Ngọc Phú

Giáo Án Thơ “bác Hồ Của Em”

Bài Thơ ” Viếng Lăng Bác” Là Nén Hương Thơm Viễn Phương Kính Dâng Lên Bác Hồ Kính Yêu. Anh/ Chị Hãy Phân Tích Bài Thơ Để Làm Sáng Tỏ Ý Kiến Trên

Giáo Án Bài Thơ Ảnh Bác

Cảm Nhận Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác

Cảm Nhận Về Bài Thơ “bác Ơi!” Của Tố Hữu

Những Bài Thơ Sinh Nhật Của Bác Hồ

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Top 14 Bài Thơ Hay Mừng Sinh Nhật Bác

Những Câu Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Người Yêu Ý Nghĩa

Top 20 Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Người Yêu, Bạn Bè, Người Thân Ý Nghĩa

52 Bài Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Hay Nhất Bằng Tiếng Anh

Lời Bài Hát Chúc Mừng Sinh Nhật Bằng Tiếng Anh

Lán Bác Hồ ở Khuôn Điển, Kim Quan (Yên Sơn).

Sinh nhật năm 1949, Bác Hồ ở một gia đình tại Bản Chương, xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn. Đây là nơi sinh sống của đồng bào Tày, cách trụ sở UBND xã Hùng Lợi ngày nay khoảng 7 km. Xung quanh bản có các dãy núi cao bao bọc. Phía trước có suối Chương. Giữa bản có con đường mòn đi đến các xã thuộc huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang và huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn). Trước ngày 19/5, Bác đã làm bài thơ “Không đề”:

“Vì nước nên chưa nghĩ đến nhà

Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già

Chờ cho kháng chiến thành công đã

Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

Lúc này, cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn ác liệt, nên Bác không muốn tổ chức lễ mừng sinh nhật của mình. Bài thơ là để trả lời một số cán bộ đề nghị tổ chức sinh nhật Bác năm ấy. Thành thật và giản dị, hai câu thơ mở đầu nói rõ nguyên nhân để mọi người được yên lòng, hiểu rõ nguyên nhân hết sức chính đáng trong hoàn cảnh kháng chiến lúc này. Và mệnh đề Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà là thái độ dứt khoát khước từ những gì mang đến lợi ích cho cá nhân mình, cũng là nguyên tắc sống suốt đời của Người “vui sau cái vui của thiên hạ”, mà hôm nay chúng ta đang ra sức học tập.

Câu thơ khéo léo và tinh tế chuyển sang một chút hóm hỉnh, tươi vui, gợi mở thái độ lạc quan của Bác trước tuổi tác của mình: “Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già”. Dù người xưa quan niệm: “Ngũ thập tri thiên mệnh” (Năm mươi tuổi thì biết được mệnh trời), nhưng Bác vẫn khẳng định mình “vẫn chưa già”, để khéo léo từ chối việc tổ chức mừng sinh nhật.

Bài thơ theo thể 7 chữ, giản dị đáp lại tấm lòng của nhân dân và đồng chí, nhưng cũng hướng đến động viên, cổ vũ nhân dân và chiến sỹ quyết tâm đuổi giặc cứu nước. Nhờ thế, Người đã gửi vào đó cả ước mơ và hy vọng của một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục: Chờ cho kháng chiến thành công đã/Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta. Quả là một sự tài hoa hiếm có.

Dùng từ “bạn” ở câu thơ cuối bài, lời thơ trở nên thân mật như lời những người bạn hữu với nhau, không hề khách khí, cách bức. Bài thơ cũng trở nên như một lời tâm tình, sẻ chia thủ thỉ và đầy trách nhiệm trước mọi người. Với Bác, kháng chiến chưa thành công, đồng bào còn nghèo khổ, thì không thể vui cho riêng mình và Bác cũng mong mọi cán bộ, đảng viên như vậy. Đó chính là sự vĩ đại từ những điều bình dị – nét độc đáo trong nhân cách Hồ Chí Minh.

Sinh nhật năm 1950 của Bác Hồ được tổ chức tại Thác Dẫng, thuộc thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương. Đây là nơi đặt trụ sở làm việc của Chủ tịch phủ và Thủ tướng phủ, chỉ cách nơi Bác ở tại Khấu Lấu và Hang Bòng một con sông Phó Đáy. Ở đây cũng có một ngôi nhà sàn nhỏ của Bác, dùng để Người nghỉ trưa trong những ngày họp Hội đồng Chính phủ hoặc nghỉ lại qua đêm mỗi khi không tiện qua sông về nơi ở chính của Người tại Hang Bòng, Tân Trào.

Ngày 19-5-1950, Chính phủ tổ chức lễ chúc thọ mừng Bác Hồ tròn 60 tuổi tại “Chủ tịch phủ”. Linh mục Phạm Bá Trực, Phó trưởng Ban Thường trực Quốc hội, đứng lên thay mặt toàn thể đọc những lời chúc thọ Bác, mở đầu bằng mấy câu tiếng Latinh rất trịnh trọng. Bác Hồ tươi cười cảm ơn và nói: Tôi có mấy câu thơ cũng chỉ là khoai khoai sắn sắn thôi xin được đọc ra đây:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,

So với ông Bành vẫn thiếu niên

Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe,

Trần mà như thế kém gì tiên.

Bài thơ “khoai khoai sắn sắn” vui mà rất khoa học, chính xác, biện chứng về những hoạt động bình thường của con người. Lấy tứ từ dân gian “Ăn được, ngủ được là tiên”, Bác điều chỉnh, bổ sung thành ăn khỏe, ngủ ngon. Làm việc khỏe của Bác là cống hiến nhiều nhất sức lực và trí tuệ cho nước, cho dân chứ không phải cho bản thân. Bác lấy việc cống hiến cho đất nước làm tiêu chuẩn hạnh phúc cao nhất. Đây chính là một cái nhìn mới, một quan niệm sống mới, đem đến một nội dung mới cho câu thơ. Khái niệm ông tiên trong câu thơ Bác do vậy trở nên thật gần gũi. Câu thơ “Trần mà như thế kém gì tiên” khiến ta nhớ đến tâm thế hào sảng, lạc quan của Bác trong những câu thơ “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng/bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/Cuộc đời cách mạng thật là sang”. Bài thơ ứng khẩu tự nhiên, tươi trẻ, vui vẻ, khỏe khoắn và thoải mái, tràn trề sức trẻ, sức thanh xuân.

Sinh nhật năm 1953 cũng ở an toàn khu Việt Bắc, Bác làm bài thơ “Sáu mươi ba tuổi”:

“Chưa năm mươi đã kêu già

Sáu ba mình vẫn nghĩ là đương trai

Sống quen thanh đạm nhẹ người

Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”.

Lần này, Bác dùng thể thơ lục bát. Câu thơ nhẹ nhõm, thênh thênh như tiếng nước suối rừng Việt Bắc. 2 câu đầu như lời đối thoại với ai đó, cũng như lời khẳng định sự yên tâm về tuổi tác “mình nghĩ vẫn là đương trai”. Hẳn là logic, khi nhớ lại mấy năm trước, Bác làm thơ nhận mình “so với ông Bành vẫn thiếu niên”. Lời thơ không chỉ là lời cảm khái về tuổi tác bản thân, mà còn như lời hướng dẫn về cách sống “quen thanh đạm nhẹ người”. Những gian nan thiếu thốn của cuộc kháng chiến trường kỳ, trong mắt vị lãnh tụ chỉ là “thanh đạm nhẹ người”. Khiến cho mọi người yên tâm về Bác, cũng tự chỉnh đốn lại bản thân, nếu bất chợt có chút gì nao núng trước khó khăn gian khổ.

Như vốn có, bài thơ của Bác tâm sự về tuổi tác của bản thân nhưng vẫn hàm chứa trong đó tinh thần lạc quan cách mạng, niềm tin vào ngày chiến thắng; đồng thời khiến cho đồng chí đồng bào cùng vững thêm niềm tin chiến thắng. Quả nhiên, với tinh thần “đương trai” ấy, “ung dung” ấy, không đầy 1 năm sau, Người đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn quân toàn dân ta làm nên chiến thắng chấn động địa cầu. Núi rừng Tuyên Quang tháng 5-1954 được chứng kiến Bác Hồ chủ trì cuộc gặp gỡ và mở tiệc chiêu đãi các đại biểu chiến sỹ đã lập thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sinh nhật năm 1968, sau khi nghe Thủ tướng chúc thọ, Bác có bài thơ:

“Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,

Vẫn vững hai vai việc nước nhà.

Kháng chiến dân ta đang thắng lớn

Tiến bước! Ta cùng con em ta”.

Lúc này, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta đang vào thời kỳ quyết liệt. Đã ở vào tuổi “cổ lai hy”, nhưng Bác vẫn tự nhận mình “chưa già lắm”, để yên lòng đồng chí đồng bào. Vẫn tinh thần lạc quan quen thuộc, lời thơ của Bác như lời động viên cả nước quyết tâm tiến bước, cũng là lời cam kết của vị lãnh tụ tối cao sẽ đưa dân tộc tới ngày chiến thắng.

Kỷ niệm 130 năm sinh nhật Bác kính yêu, đọc lại những bài thơ Bác viết nhân sinh nhật để thấm thía hơn và học tập tinh thần lạc quan cách mạng, “vui sau cái vui của thiên hạ” của Ngườin

Chùm Thơ Tháng 8 Nhẹ Nhàng Đi Vào Lòng Người Đọc Sâu Sắc

Những Lời Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Hay Và Ý Nghĩa Nhất

Lời Bài Hát Sinh Nhật Buồn

1001 Bài Thơ Sinh Nhật Buồn, Status Ngày Sinh Nhật Cô Đơn 1 Mình

Chùm Thơ Chúc Mừng Sinh Nhật Con Trai Thật Hay, Ý Nghĩa Của Bố Mẹ

Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ Những Năm Ngọ

Những Bài Thơ Chúc Tết Của Bác Vào Năm Ngọ

Bài Thơ Chúc Tết Năm Đinh Hợi Của Bác Hồ

Bài Thơ Chúc Tết Mầm Non ❤️ Ngắn Cực Ý Nghĩa ❤️

Bài Thơ: Chú Hải Quân Của Nữ Sĩ Vân Đài

Cảm Động Lá Thư Học Sinh Lớp 3 Gửi Các Chú Bộ Đội

Mỗi độ Tết đến Xuân về, lòng dân cả nước lại hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã đem mùa Xuân hòa bình, độc lập, hạnh phúc về cho đất nước. Gần 45 năm trôi qua, chúng ta đã không còn được nghe thơ chúc Tết – món quà mừng tuổi đồng bào cả nước vào dịp giao thừa đầu năm mới của Bác kính yêu. Song âm vang những bài thơ chúc Tết của Bác vẫn còn mãi trong lòng mọi người, vẫn ngân vang khi đất trời sang Xuân.

Kể từ năm 1942 – năm đầu tiên có Thơ Chúc Tết, đến năm 1969 – năm Bác Hồ qua đời, đã có tất cả 26 Bài thơ chúc Tết (trừ 3 năm 1943, 1944 và 1945). Trong số đó có 3 bài thơ chúc Tết vào năm Ngọ: Xuân Nhâm Ngọ 1942, Xuân Giáp Ngọ 1954 và Xuân Bính Ngọ 1966.

Bác Hồ chúc Tết. Ảnh Internet

Tết Nhâm Ngọ năm 1942

Tết Nhâm Ngọ năm 1942 là Tết thứ hai của Bác ở quê nhà sau tròn 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm đường cứu nước. Gần một phần ba thế kỷ nơi xứ người, nay Bác đã trở về để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nước nhà, lại được đón Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc ngay trên Đất Mẹ thân yêu. Nhân dịp năm mới đến, Bác đã viết bài thơ “Mừng Xuân năm 1942” đăng trên Báo “Việt Nam Độc lập” số 114, ra ngày 01/01/1942.

“CHÚC NĂM MỚI

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,

Năm cũ qua rồi, chúc năm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong!

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi;

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!

Chúc Việt Minh ta càng tấn tới!

Chúc toàn quốc trong năm này,

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Năm này là năm rất vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới.(1)

Chỉ 3 năm sau đó, ngày 19/8/1945, nhân dân ta đã nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, “Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới” trên khắp mọi miền Tổ quốc đúng như ý nguyện của Người. Ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử rợp bóng cờ, hoa, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính thức mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Tết Giáp Ngọ năm 1954

Lúc này, nhân dân ta đã trải qua 8 năm kháng chiến kiến quốc, lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh và giành được nhiều thắng lợi. Trước sự thay đổi của cục diện chiến tranh ở Đông Dương và trên cơ sở nhận định âm mưu mới của Pháp – Mĩ, tháng 9/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và đề ra kế hoạch tác chiến Đông – Xuân 1953 – 1954. Năm 1954 cũng là năm thứ 2 tiến hành cải cách ruộng đất tại miền Bắc để dân cày có ruộng, tạo thành hậu phương vững chắc để chi viện cho chiến trường lập nên chiến công.

Nhân Tết Giáp Ngọ 1954, Bác Hồ đã gửi thơ chúc Tết quân dân cả nước đăng trên báo Nhân Dân số 163 từ ngày 1-5/2/1954.

THƠ CHÚC TẾT

Ngày Nguyên đán năm Giáp Ngọ

Năm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:

– Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do,

– Cải cách ruộng đất là công việc rất to.

Dần dần làm cho người cày có ruộng, khỏi lo nghèo nàn.

Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,

Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.

Hòa bình dân chủ thế giới khắp Nam Bắc Tây Đông,

Năm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều.

HỒ CHÍ MINH”(2).

Với tinh thần đoàn kết, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lập được nhiều chiến công vang dội. Thắng lợi của cuộc tiến công Đông – Xuân 1953 – 1954 và đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954 gây chấn động địa cầu, đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ. Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam.

Tết Bính Ngọ năm 1966

Đến năm 1965, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Nam đã chiến đấu với tinh thần anh dũng, vượt qua khó khăn, liên tiếp đánh bại mọi âm mưu thâm độc của địch, giành những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng. “Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch phát triển đến mức cao nhất đã căn bản bị thất bại”. Trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ trong thế bị động đã đưa vào miền Nam một lực lượng lớn quân đội viễn chinh Mỹ, đồng thời tiếp tục mở rộng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân ở miền Bắc nước ta. Cách mạng Việt Nam đứng trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Lúc này miền Bắc đã thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Bác Hồ về chúc Tết nhân dân, xã viên HTX Văn Phúc, Văn Khê, Hoài Đức, Hà Tây nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 1966. Ảnh Internet

Tháng 12/1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 12 và ra Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ mới cho cách mạng hai miền.

Tết Xuân Bính Ngọ 1966,  Bác Hồ đã viết thư chúc Tết năm 1966 đăng trên báo Nhân Dân số 4289 ngày 1/1/1966:

“THƠ CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Mừng miền Nam rực rỡ chiến công,

Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Plâyme, Đà Nẵng…

Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng,

Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.

 

Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,

Tiền tuyến hậu phương, toàn dân cố gắng.

Thi đua sản xuất, chiến đấu xung phong,

Chống Mỹ, cứu nước, ta nhất định thắng.

Xuân 1966

HỒ CHÍ MINH”(3)

Cũng trong năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ cứu nước, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược nêu cao tinh thần yêu nước và bảo vệ chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Thực hiện lời kêu gọi của Bác, quân và dân ta ở cả 2 miền, hậu phương thi đua cùng tuyền tuyến cố gắng lập chiến công. Bác đặt niềm tin vào thắng lợi cuối cùng “Chống Mỹ, cứu nước ta, nhất định thắng”. Và sự thật là đúng 9 Xuân sau, nhân dân ta đã thực hiện thành công Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, xứng với niềm tin của Bác kính yêu.

Thơ chúc Tết là một phần quan trọng trong kho tàng thơ Xuân của Bác. Những lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu, chứa chan tình cảm nồng ấm của Bác đã đi sâu vào trái tim đồng bào cả nước. Bác dùng thơ làm quà “mừng Xuân” và cũng mượn thơ để “kêu gọi”, khích lệ đồng bào và khẳng định niềm tin vào một tương lai rạng ngời của dân tộc như lời Người tâm sự: “Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”(4).

Bác đã đi xa về thế giới người hiền được gần 45 mùa Xuân, Xuân Giáp Ngọ này, đọc lại những vần thơ chúc Tết của Bác để nhớ mãi ơn Người, nguyện học tập và làm theo lời Bác, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh hơn./.

ThS. Hoàng Thị Thu Hiền (Tổng hợp)

1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tập 3, tr. 249.

2. Sđd, Tập 8, tr.400.

3. Sđd, Tập 15, tr.1.

4. Sđd, Tập 14, tr.224.

Thụ Hưởng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Qua Thơ Chúc Tết

Những Bài Thơ Chế Vui Hay Nhất

Dàn Ý Chuyển Nội Dung Bài Thơ “Bếp Lửa” Của Bằng Việt Thành Một Câu Chuyện Theo Lời Của Nhân Vật Người Cháu

Mối Quan Hệ Giữa Bếp Lửa Đời Và Bếp…

Câu 4 Left(50 Điểm) Cảm Nhân Của Em…

Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ

Các Bài Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ

Những Bài Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ

Về Bài Thơ Chúc Tết Cuối Cùng Của Bác Hồ

Xuân Về, Tết Đến, Đọc Và Suy Ngẫm Bài Thơ Chúc Tết Cuối Cùng Của Bác Hồ

Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ 1942

Đã từ lâu, lặng đi trong thời khắc giao thừa để lắng nghe thơ chúc tết của Bác Hồ đã trở thành tục lệ của đồng bào ta. Từ các cụ già râu tóc bạc phơ đến bầy em nhỏ, tất cả đều cảm thấy lòng lắng dịu khi nghe giọng nói ấm áp, thiết tha của Người đọc thơ chúc tết. Và cả khi Người không còn nữa, Tết đến mọi nhà vẫn ước mong:

Thơ chúc Tết của Bác Hồ gửi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài thường khen ngợi thành tích của một nǎm công tác và đề ra nhiệm vụ, phương hướng cho nǎm mới, động viên mọi người phấn khởi hǎng hái tiến lên hoàn thành nhiệm vụ mới.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập hợp 22 bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ nǎm 1942 – 1969 trong tập Hồ Chí Minh “Thơ chúc Tết” do Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM NGỌ – 1942

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,

Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:

Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !

Chúc Việt-minh ta càng tấn tới,

Chúc toàn quốc ta trong nǎm này

Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!

Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,

Cách mệnh thành công khắp thế giới.

Hỡi các chiến sĩ yêu quí,

Bao giờ kháng chiến thành công,

Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

Tết này ta tạm xa nhau,

Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy.

Chúc đồng bào:

Trong nǎm Bính Tuất mới,

Muôn việc đều tiến tới.

Kiến quốc mau thành công,

Kháng chiến mau thắng lợi.

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Xuân này kháng chiến đã nǎm xuân,

Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.

Toàn hǎng hái một lòng

Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời.

Mừng nǎm Thìn vừa qua,

Mừng xuân Tỵ đã tới.

Mừng phát động nông dân,

Mừng hậu phương phấn khởi.

Mừng tiền tuyến toàn quân

Thi đua chiến thắng mới.

Mừng toàn dân kết đoàn,

Mừng kháng chiến thắng lợi.

Mừng nǎm mới, nhiệm vụ mới,

Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,

Mừng phe dân chủ hoà bình thế giới.

.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN NHÂM THÌN – 1952

Xuân này, xuân nǎm Thìn

Kháng chiến vừa sáu nǎm

Trường kỳ và gian khổ

Chắc thắng trǎm phần trǎm.

Chiến sĩ thi giết giặc

Đồng bào thi tǎng gia

Nǎm mới thi đua mới

Thắng lợi ắt về ta.

Mấy câu thành thật nôm na,

Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

Nǎm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:

– Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do

– Cải cách ruộng đất là công việc rất to

Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.

Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,

Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công.

Hoà bình dân chủ thế giới khắp Nam, Bắc, Tây, Đông.

Nǎm mới, thắng lợi càng mới, thành công càng nhiều.

.

THƠ CHÚC TẾT XUÂN MẬU THÂN – 1968

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,

Thắng trận tin vui khắp nước nhà,

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

.

THƠ CHÚC TẾT

Nǎm qua thắng lợi vẻ vang,

Nǎm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.

Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

Bắc-Nam sum họp, xuân nào vui hơn!

Thơ Chúc Tết Của Bác Hồ Và Những Dự Báo Lịch Sử

Tổng Hợp Thơ Chúc Tết Cha Mẹ Hay Và Đầy Ý Nghĩa Nhân Văn

66 Lời Chúc Tết Thầy Cô Xuân Tân Sửu 2022 Độc Đáo Ý Nghĩa Giàu Cảm Xúc Nhất

Bài Thơ Chúc Tết Cho Bé Hay Nhất ❤️️ Xuân Tân Sửu 2022

Thơ Chúc Tết Cho Bé 2022

🌟 Home
🌟 Top