Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Những Bài Thơ Thăm Nhà Bà Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Giáo Án Thơ: Thăm Nhà Bà

Kế Hoạch Bài Giảng Giáo Án Điện Tử :thơ Thăm Nhà Bà

Giáo Án Thơ Thăm Nhà Bà

Giáo Án Ptnn: Thơ : Tết Là Bạn Nhỏ

Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Xưa Trong Bài Thơ “tết Của Mẹ Tôi” Của Nguyễn Bính

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO QUẬN CẦU GIẤY

Trường mầm non Hoa Hồng Nghĩa Tân

GIÁO ÁN

(Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ)

Đề tài : Thơ ” Thăm nhà bà ”

Chủ đề: Gia đình

Giáo viên : Vũ Thị Kim Oanh

Lớp mẫu giáo bé C1

NĂM HỌC 2014 – 2022

GIÁO ÁN

(Lĩnh vực: Phát triển ngôn ngữ )

Chủ đề: Gia Đình

Đề tài : Thơ ” Thăm nhà bà “

Loại tiết: Trẻ đã biết

Đối tượng: Mẫu giáo bé C1

Số lượng: 20 trẻ

Thời gian: 15-20 phút

Ngày dạy : 13/11/2014

Người soạn : Vũ Thị Kim Oanh

I. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:

1. Kiến thức:

– Trẻ nhớ tên bài thơ “Thăm nhà bà” và tên tác giả “Như Mạo”

– Trẻ hiểu nội dung bài thơ: Bạn nhỏ đến thăm bà nhưng bà đi vắng, bạn nhỏ thấy đàn gà đáng yêu đang chơi ngoài nắng, bạn đứng ngắm, cho gà ăn thóc rồi lùa đàn gà vào chỗ mát.

– Dạy trẻ đọc thuộc diễn cảm bài thơ “Thăm nhà bà”

2. Kĩ năng:

– Trẻ đọc diễn cảm bài thơ và thể hiện được tình cảm khi đọc thơ.

– Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, rèn trẻ kỹ năng trẻ nói đủ câu, đủ ý.

– Trẻ trả lời đúng các câu hỏi của cô theo nội dung của bài thơ

– Phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ chủ định của trẻ, phát triển khả năng cảm thụ thơ cho trẻ.

3. Thái độ:

– Trẻ hứng thú tham gia vào tiết học.

– Trẻ chú ý lắng nghe cô đọc thơ

– Giáo dục : Qua bài thơ trẻ biết yêu quí vâng lời ông bà cha mẹ , biết yêu thích và có ý thức chăm sóc vật nuôi trong gia đình

II. CHUẨN BỊ:

1. Đồ dùng dạy học:

Đàn organ

Đĩa nhạc bài ‘Đàn gà trong sân’

Sa bàn, cây xanh , đàn gà con, gà mẹ , em búp bê, nhà, que chỉ

2. Đội hình:Trẻ ngồi trên ghế đội hình chữ u

III. CÁCH TIẾN HÀNH:

Nội dung

Hoạt động của cô

Hoạt động của trẻ

Bước 1:

Ổn định tổ chức:

– Vào bài

Bước 2:

Nội dung chính:

* Cô cho trẻ nhắc lại tên bài thơ

– Cô đọc diễn cảm lần 1:

– Cô đọc diễn cảm lần 2:

* Đàm thoại trẻ hiểu nội dung bài thơ

* Giáo dục trẻ:

* Dạy trẻ đọc diễn cảm bài thơ:

– Cô đọc diễn cảm kết hợp với tranh (Đọc trên nền nhạc)

– Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì?

Bài thơ “Thăm nhà bà” của nhà thơ nào?

Cô khái quát: Bài thơ “Thăm nhà bà” ” của nhà thơ: Như Mạo

Cô đọc diễn cảm kết hợp sa bàn

+ Bạn nhỏ đến thăm bà, bạn có gặp bà không? Bạn đã thấy điều gì?

+ Câu thơ nào đã thể hiện điều đó?

– Cô KQ trích dẫn: Đến thăm…… chơi ngoài nắng + Khi thấy đàn gà chơi ngoài nắng bạn nhỏ goi như thế nào?

+ Chúng mình cùng gọi gà nào?

– Khi bạn nhỏ gọi chúng mình thấy gà con chạy như thế nào?

+ Trích dẫn : chúng lật đật chạy nhanh nhanh. Xúm vòng ……chiếp chiếp

– Đàn gà con kêu thế nào không ?

– Các con giả tiếng gà con kêu nào ! nghe thật đáng yêu thật giống chú gà con

– Chú gà con đang mải miết nhăt gì ?

– Bạn nhỏ giúp bà lùa đàn gà vào đâu!

+ Trích dẫn : Gà mải miết

Giáo Án Văn Học Đề Tài: Thơ Thăm Nhà Bà

Phân Tích Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Dàn Ý Bài Thơ “tiểu Đội Xe Không Kính”

Nhận Xét Về Bài Thơ “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” Của Phạm Tiến Duật

Văn Mẫu Lớp 9: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Kế Hoạch Bài Giảng Giáo Án Điện Tử :thơ Thăm Nhà Bà

Giáo Án Thơ Thăm Nhà Bà

Giáo Án Ptnn: Thơ : Tết Là Bạn Nhỏ

Bài Thơ Tết Của Mẹ Tôi Của Tác Giả Nguyễn Bính

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Xưa Trong Bài Thơ “tết Của Mẹ Tôi” Của Nguyễn Bính

“tết Của Mẹ Tôi” Trong Thơ Nguyễn Bính

KẾ HOẠCH XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ – GIÁO DỤC MẦM NON

Trường: MN Hoa Hồng

LĨNH VỰC (MÔN HỌC): LQVH KHỐI LỚP: MGN B3

Họ tên giáo viên: Nguyễn Thùy Linh

THƠ: Thăm nhà bà

Trình độ chuyên môn: Trung Cấp

Trình độ Tin học: B

Địa chỉ, số điện thoại di động của GV: Giáo viên trường MN Hoa Hồng. 0904927335

Số tiết của bài dạy: tiết 2.

I. Mục tiêu bài dạy:

1. Kiến thức:

– Trẻ hiểu nội dung bài thơ: Bạn nhỏ đến thăm bà nhưng bà đi vắng, bạn nhỏ thấy đàn gà đáng yêu đang chơi ngoài nắng, bạn đứng ngắm, cho gà ăn thóc rồi lùa đàn gà vào chỗ mát.

– Trẻ đọc thuộc diễn cảm bài thơ “Thăm nhà bà”

2. Kỹ năng:

– Trẻ nhớ tên bài thơ “Thăm nhà bà” do nhà thơ Như Mao sáng tác.

– Cảm nhận hình ảnh trong bài: Bạn nhỏ thật là thân thiết khi nhìn thấy đàn gà nhà bà và trẻ biết cách đọc thơ diễn cảm.

– Trẻ biết lắng nghe và mạnh dạn trả lời câu hỏi đúng theo yêu cầu của cô.

3. Thái độ:

– Qua nội dung bài thơ trẻ cảm nhận được tình cảm của bạn nhỏ giành tặng bà: Bạn biết đến thăm bà và bạn còn biết yêu quý chăm sóc con vật nuôi giúp bà khi bà đi vắng

II. Yêu cầu của bài dạy:

III. Chuẩn bị cho bài giảng:

1. Chuẩn bị của Giáo viên:

– power point bài thơ:” Đến thăm bà”.

2. Chuẩn bị của Học sinh:

– xắc xô, phách…

IV. Nội dung và tiến trình bài giảng

1. Ổn định tổ chức :

– Trẻ cùng cô hát theo nhạc bài hát “Đàn gà trong sân”

2. Nội dung:

2.1 cho trẻ làm quen với tác phẩm

– Cô cho trẻ xem power point hình ảnh bé đang cho những chú gà ăn thóc.

– Cô đàm thoại: Đây là hình ảnh gì?

Các con đã bắt gặp những hình ảnh này ở đâu? Bạn nhỏ đang làm gì?

– Bạn nhỏ nhớ bà, bạn đến thăm bà nhưng bà lại đi vắng, thấy đàn gà ở sân bạn đã giúp bà cho gà ăn rồi lùa gà vào bóng mát.

Hình ảnh bạn nhỏ với đàn gà thật đẹp khiến tác giả Như Mao đa viết thành bài thơ “Thăm nhà bà” mà hôm trước cô cháu mình đã được làm quen rồi đấy.

* Cô đọc diễn cảm lại bài thơ kết hợp power point

– Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? do ai sáng tác?

* Trẻ đọc cùng cô lần 2 kết hợp power point

2.2 Đàm thoại giúp trẻ hiểu tác phẩm: (Kết hợp sử dụng sile minh họa)

– Bạn nhỏ đến thăm bà, bạn có gặp bà không? Bạn đã thấy điều gì?

+ Câu thơ nào đã thể hiện điều đó?

– Khi thấy đàn gà chơi ngoài nắng bạn đã làm gì?

+ Bạn nào có thể đọc lại được câu thơ đó?

– Khi nghe thấy bạn nhỏ gọi “bập bập bập” đàn gà đã làm gì?

+ Câu thơ nào thể hiện hình ảnh đàn gà đó?

– Khi đàn gà ăn thóc xong bạn nhỏ nhẹ nhàng làm

Giáo Án Thơ: Thăm Nhà Bà

Giáo Án Văn Học Đề Tài: Thơ Thăm Nhà Bà

Phân Tích Bài Thơ Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Dàn Ý Bài Thơ “tiểu Đội Xe Không Kính”

Nhận Xét Về Bài Thơ “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính” Của Phạm Tiến Duật

Nhà Thơ Thạch Quỳ Từng Đến Tận Nơi Lênin Đi Đày Thăm Con

Soạn Bài: Nói Với Con ( Y Phương)

Top 8 Kết Bài Nói Với Con Hay Nhất Ngữ Văn 9

Phân Tích Những Bài Học Được Rút Ra Từ Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Mẹ Tôi Của Ét

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Văn Cuộc Chia Tay Của Những Con Búp Bê Của Khánh Hoài

VHSG- Trước khi được gặp và làm quen với Thạch Quỳ trong đợt sang Liên Xô dự lớp tập huấn 3 tháng tại Học viện Văn học Gorki ở Moskva, thú thật tôi chỉ biết tới anh vỏn vẹn qua hai câu thơ: Đất nơi đây đào nơi nào cũng đỏ, Đập đá ra có ánh lửa ngời…

Đâu đó từ cuối năm 1968 trở đi, máy bay Mỹ phong toả gắt gao đoạn đường số 1 từ cầu Hàm Rồng vào tới phà Bến Thuỷ. Lính tráng bổ sung cho chiến trường Bắc Quảng trị – Đường 9 hoặc vượt Trường Sơn vào các chiến trường sâu đành đi qua đường Bò Lăn, lên Thanh Chương, Đô lương, đến một trạm nào đó ở Nam Đàn thì nghỉ lại, chờ tới tối sẩm hôm sau đi tiếp.

Qua một đêm bị xe lắc, ngủ gà ngủ vịt, khoảng 8 giờ, 8 rưỡi sáng hôm sau chúng tôi bừng tỉnh trong tiếng lao xao họp chợ ngay phía bên kia bờ giậu. Những tiếng chào mời, mà cả, xen lẫn tiếng lợn kêu vịt cạc giữa thời buổi chiến tranh nghe sao như muốn níu kéo cánh lính chúng tôi trở về với cuộc đời thanh bình, yên ả đến vậy? Càng lạ lùng hơn tiếng chào mời, mà cả kia lại theo một đơn vị tiền tệ xa xưa hình như đã biến mất từ lâu: một tiền, một tiền rưỡi có bán không?…

Nhào dậy khỏi võng, chạy ra sân định tìm tới giếng nước rửa mặt, đã nghe thấy tiếng cười tung toé của các cô gái. Chao, con gái vùng này mới xinh làm sao? Áo nâu non xẻ tà để hở một mảng lườn hồng hồng, săn chắc; mắt tròn to đen thăm thẳm; đôi môi tươi tắn lúng liếng nụ cười ghẹo trêu! Chạy ngược vào nhà, lấy gương ra soi. Đến lượt chúng tôi phá ra cười: Quần áo, mặt mũi, râu tóc thằng nào thằng nấy nhuộm sậm bụi đất đỏ bazan! Thứ đất đỏ ấy, mãi những năm còn sống sót sau này mới hay là rất đặc trưng cho vùng Thanh Chương, Đô Lương. Chưa kịp định thần các cô gái xứ Nghệ dạn dĩ đã ào tới, kéo tay chúng tôi đến bên những chiếc giếng đá ong đáy sâu tun hút, múc những gàu nước mát lạnh gíup chúng tôi gội đầu, rửa mặt. ” Đất đỏ xứ Nghệ rứa đó! Các anh đi đâu, ở đâu cũng đừng quên đất đỏ quê em nghe…”. Các cô gái ríu ran. Hứa hẹn. Ghi vào sổ lưu niệm quê quán, địa chỉ của nhau. Để khi chiều tắt nắng đành bịn rịn, dùng dắng chia tay. Và thế rồi cho tới khi tóc bạc, da mồi cũng không tìm được dịp may nào trở về nơi trú quân có những chiếc giếng đá ong, có phiên chợ buổi sáng kỳ lạ và những con đường đất đỏ, mỗi khi trời đổ mưa lòng đường đỏ sậm lại như một thân gỗ mới xẻ.Đành bám lấy hai câu thơ của Thạch Quỳ mà tự làm dịu đi những nhung nhớ, tiếc nuối của một thời trai trẻ…

Thạch Quỳ lên lớp nghe các nhà giáo, nhà văn Nga thuyết trình đâu đó chưa đầy nửa tháng, anh bỗng ngỏ ý với lớp trưởng là nhà thơ Lê Chí và phiên dịch viên là tôi muốn đi thăm người con trai đang lao động xuất khẩu đâu đó tận Siberia. Anh đưa tôi xem chiếc phong bì ghi địa chỉ nơi làm việc của con trai anh. Tôi quen biết nhiều cánh lao động Việt Nam xuất khẩu đang làm việc tại các vùng ngọai ô Moskva như Klin, Naghinxcơ… hay xa hơn như Riadan, Togliatti… nhưng cái địa danh nơi con trai nhà thơ làm việc sao rất xa lạ, chưa từng nghe thấy bao giờ. Nhà thơ Lê Chí nhờ tôi tìm hiểu xem nơi đó xa gần, phương tiện đi lại ra sao?

Buổi chiều tôi tìm xuống thư viện nhà trường, không khó khăn gì tôi đã thu thập được một lượng thông tin dữ dằn. Điều đầu tiên cô thủ thư Nga cho biết thị trấn ấy ở cách Moskva khoảng 3500 hay 4000 cây số. Đi máy bay thì không kể làm gì, đáp tầu lửa chừng mất cả nửa tháng vừa đi vừa về. Cô gái Nga nheo nheo mắt cười cho biết điều thứ hai còn ghê gớm hơn: thị trấn ấy chính là nơi xưa kia, dưới thời Sa Hoàng, trước ngày Cách mạng tháng Mười bùng nổ, vị lãnh tụ của giai cấp vô sản Nga Vladimir Iliyich Lênin đã từng bị đi đày. Nhiều năm trôi qua, bây giờ tôi không còn nhớ đích xác tên cái thị trấn nằm giữa vùng băng tuyết heo hút Siberia, nhưng tôi đoan chắc với các bạn nó đã được ghi rành rõ trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô hoặc Tiểu sử Lênin! Nghe tôi báo tin ấy không chỉ đoàn trưởng Lê Chí mà các đoàn viên như Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Bế Kiến Quốc, Pờ Sảo Mìn, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, Ngô Thị Kim Cúc… đều phát hoảng cả lên. Đường xá xa xôi cách trở như vậy, nhà thơ xứ Nghệ lại mới ra nước ngòai, mới đến nước Nga lần đầu, tiếng Nga hoàn toàn không rành. Nhỡ anh lạc đường hoặc đau ốm, cảm mạo thì sao đây? Cũng không ai có thể bỏ dở chương trình tập huấn để tháp tùng anh cả. Còn chuyện nhờ vả nhà trường trợ giúp xem ra rất phiền phức, lôi thôi. Đoàn trưởng Lê Chí nói với chúng tôi cùng xúm vào khuyên Thạch Quỳ mau gạt phắt dự định đó đi. Nghe vậy, Thạch Quỳ nổi quạu:

– Tau sang đây đi học là phụ, đi thăm con là chính- Thạch Quỳ thủng thẳng nhưng cương quyết- Bọn mi đặt vào địa vị tau mà coi- con làm ăn, luơng bổng ra răng, sống chết ra răng thằng cha không hay, liệu ngồi học chữ có vô đầu?

Ai đó nhẩy vào cuộc:

– Đấy là nơi xưa kia cụ Lênin bị đi đầy, ông biết chứ?

– Ông Lênin bị đi đầy ở đó đâu có chết mà vẫn trở về làm được cả một cuộc cách mạng. Bay dọa tau, tau nỏ sợ mô!

Cứ thế! Nhà thơ không chịu thua ai.

Ba ngày sau, Thạch Quỳ khoe Lê Chí và tôi tấm vé tầu anh đã mua. Anh kéo tôi ra một góc, móc túi trao cho tôi một cuốn tập vở học trò. Tôi chưa biết chuyện gì xẩy ra, nhà thơ nói luôn:

– Sách XIN ĂN đấy! Tau học tập bọn giặc lái Mỹ đó mà! Chương mục đã chia đàng hoàng. Phía tiếng Việt tau đã ghi rành rõ, mi dịch cho tau qua tiếng Nga.

Chờ Thạch Quỳ đi khỏi, tôi lật từng trang cuốn vở tập học trò mà không khỏi bật cười. Cuốn tập được chia như một thứ tự điển, có những tiểu mục hẳn hoi, tên tiểu mục ghi bằng bút đỏ. Ví như: XUẤT XỨ, LẠC ĐƯỜNG, MẤT TIỀN-XIN ĂN, MẮC BỆNH. Dưới mỗi tiểu mục là những dòng chữ Việt xếp thành hàng ngang, tôi sẽ giúp anh chuyển ngữ sang tiếng Nga. Ví như ở tiểu mục XUẤT XỨ. Tên: Thạch Quỳ. Công dân: Nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghề Nghiệp: Nhà thơ. Công tác: Hiện đang theo học khóa bồi dưỡng viết văn tại Viện Văn học Gorki. Địa chỉ cần liên hệ: Thành phố Moskva. Đường phố… số nhà…Điện thọai… Ví như tiểu mục MẤT TIỀN-XIN ĂN. Lý do xin ăn: bị mất sạch cả tiền. Đã chịu đói mấy… ngày. Cám ơn đã nuôi sống tôi… ngày. Mua cho tôi tấm vé trở về Moskva và cung cấp cho tôi… ngày thực phẩm, nước uống… Ví như ở tiểu mục MẮC BỆNH. Thấy người ớn lạnh, hâm hấp sốt. Tôi không mang theo nhiệt kế, hãy đo nhiệt độ cho tôi. Tôi bị đau bụng đã… ngày không khỏi. Tiền sử nghi bị loét bờ cong dạ dày…

Hôm sau khi trao lại cuốn tập vở cho nhà thơ, tôi sững người hỏi anh:

– Tôi dịch chuẩn cả rồi! Nhưng anh không biết tiếng Nga, sao anh phát âm nổi để người Nga hiểu?

Nhà thơ nạt nộ:

– Học hành chi cho lắm mà vẫn ngu rứa? Tau không cần đọc tiếng Nga của bọn bay. Cần nói điều gì, tau tìm câu tiếng Việt mà dùng ngón trỏ di ngang sang câu mi đã dịch qua tiếng Nga, người Nga khắc hiểu.

Nói như cánh M.C bây giờ, tôi huơ tay cao trên đầu và reo vang: Tuyệt! Vâng, với cuốn sổ tay “ăn xin” đó, Thạch Quỳ đã vượt qua cả một đoạn đường rất dài, đã đi cắt ngang nước Nga mênh mông, để tìm tới cái thị trấn xa xôi ở vùng Siberia tuyết trắng kia thăm cậu con trai. Mũ lông, thả cả hai dải che tai xuống, buộc chặt ở cầm; chiếc áo dạ màu nâu vừa cũ vừa đã sờn rách, không rõ nhà thơ mượn ở đâu, buông vạt lệt xệt chấm gót chân; chiếc balô lép kẹp lắc lẻo phía sau lưng, nom nhà thơ xứ Nghệ vừa giống một nhà truyền giáo Nga thế kỷ 16, vừa giống một gã mudic Nga nghèo đói đương đại, cứ thế lên tầu nhắm hướng Đông thẳng tiến! Một ngày, ba ngày, một tuần trôi qua vẫn biệt vô âm tín. Thuở đó chưa hề có điện thọai di động. Tàu chạy băng băng, chắc nhà thơ cũng khó tìm ra chòi bưu điện ở những ga xép trên đường mà nhắn tin cho chúng tôi. Hoặc anh đã quyết chí đi, việc thông báo anh đã đến đâu, khỏe hay bệnh- theo anh cũng là điều vô ích?

Nói thành thật, khi chúng tôi hầu như quên bẵng sự hiện diện của Thạch Quỳ trong khóa học lần đó, nhà thơ bỗng sừng sững xuất hiện ngay trước mặt chúng tôi. Vẫn như một nhà truyền giáo hay một gã mudic, song vui vẻ, tươi tắn, đầy tự tin, Thạch Quỳ lặp đi lặp lại chỉ một câu: “Bọn bay thấy chưa! Có chết được mô?”.

Nhà thơ cho biết con trai anh khỏe mạnh, lương bổng hậu hĩ, ăn uống đầy đủ, lên 3 ký, không những không xin tiền bố mà còn gửi bố tiền để bố mua quà mang về cho mẹ, cho các em. Có ai đó cất tiếng hỏi, cả đoạn đường đi, về có lúc nào anh cần phải dùng tới cuốn sổ XIN ĂN không, nhà thơ cười hơ hơ hồn nhiên, tay xua xua thủng thẳng kể cho chúng tôi nghe câu chuyện sau đây…

Nằm cuộn tròn trên chiếc giường áp sát trần tầu một đêm và nửa ngày, nhà thơ bỗng cảm thấy phí thời gian, anh quyết định ngay trên tầu phải “thâm nhập” cuộc sống của người Nga. Lợi dụng một lúc thuận tiện, anh nhẩy xuống sàn tầu, vỗ tay vào ngực mình kêu to: “Việt Nam! Việt Nam!”. Đám hành khách trong toa sững sờ một lát, chợt hiểu ra nhẩy cẫng lên hò reo: “Viet nam pobeda! Voina conchit! “American go home!” (Việt Nam chiến thắng! Chiến tranh đã kết thúc! Mỹ đã xéo về nước!”. Sau những tiếng reo hò ấy, những bình rượu vốt ca ủ trong làn mây, bị cói được kéo ra. Cá muối, thịt xông khói, bơ miếng, hành lá, rau mùi…được kéo ra. Ly cụng ly chan chát. Rượu chảy xuống bao tử Nga, bao tử Việt ồng ộc. Thêm một vài ly nữa, cao hứng nhà thơ xứ Nghệ đập tiếp vào ngực mình, thốt ra một chữ tiếng Nga khá chuẩn: “Poet” (nhà thơ). Lập tức những tràng vỗ tay, những tiếng “Ura, ura” (Hoan hô) rộ lên hưởng ứng.

– Ông đọc thơ bằng tiếng Nga sao? – Có ai hỏi móc máy.

Thạch Quỳ:

– Tau nỏ biết tiếng Nga, nhưng tau đọc thơ tau theo kiểu ông Maiakovsky. Sợ chi mô! Nghĩa là vung tay ra, rút tay vào, ngửa mặt nhìn lên trời, cúi mặt nhìn xuống đất, tiến lên một bước, lùi lại môt bước…Đám hành khách Nga hiểu hết những điều thơ mình định nói. Cứ thế lu bù say ngày qua ngày, đêm qua đêm. Rượu vốtca và tuyết trắng vùng Siberia, còn gì hài hòa, uyển chuyển hơn! Tốp hành khách này xuống ga, họ liền giới thiệu tau với tốp hành khách khác. Tầu tới ga, họ còn đưa tau tới tận nơi thằng con trai tau làm việc. Đi cũng tưng bừng, vui vẻ như thế. Mà về cũng vui vẻ, tưng bừng vậy. Chẳng tốn cắc bạc nào!

– Còn nhớ chuyến mình tới nơi ông Lênin đi đầy thăm thằng con năm sang Nga không? Chui cha, cái thời đó cực chi là cực! Tôi gật liền mấy cái. Bỗng nhà thơ tươi tỉnh, vui vẻ hẳn- Cái thằng theo ông Lênin sang Siberia đi đầy nớ đó, chừ làm ăn khá lắm. Thành ông chủ rồi!

Tôi chúc mừng Thạch Quỳ và trong đầu bỗng bật nhớ hai câu thơ của anh về đất, về đá xứ Nghệ:

Đất nơi đây đào nơi nào cũng đỏ. Đập đá ra có ánh lửa ngời… TÔ HOÀNG

(Trích tập tạp bút “Nỗi buồn lâu quên” NXB Hội Nhà văn 2014)

Thơ Nguyễn Huy Hoàng: Vẫn Đắng Đót 1 Trái Tim Yêu, Dẫu Nước Nga Bây Giờ Đã Khác

Trả Lời Malieng Về Bài Thơ “nam Quốc Sơn Hà ….”

Thêm Một Bằng Chứng Về Nguyên Văn Bài Thơ “nam Quốc Sơn Hà”

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Thần Nam Quốc Sơn Hà Của Lí Thường Kiệt

Bài 3: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư

Xuất Xứ Bài Thơ Thăm Lại Pác Bó

Văn Nghị Luận: Tức Cảnh Pác Bó

Đừng Trách Chi Những Phút Xao Lòng

Nghị Luận Xã Hội Về Người Phu Quét Đường Vĩ Đại

Phân Tích Bài Thơ Thu Hứng Của Đỗ Phủ

Thơ Xuân Của Đỗ Phủ

Ngày 19-2-1961, sau Tết Nguyên đán Tân Sửu, Bác Hồ trở lại thăm Cao Bằng – nơi 20 năm trước Người đã vượt biên giới Việt – Trung về Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (29-1-1941) để lãnh đạo kháng chiến. Tuy vừa đi ô tô một đoạn đường dại quốc lộ 4 gập gềnh, khúc khuỷu từ Lạng Sơn lên, người mệt mỏi, sáng ngày 20-2-1961, Bác Hồ vẫn tranh thủ đi thăm Pác Bó. Ngày ấy, từ ngã ba Đôn Chương vào Pác Bó chưa có đường ô tô như ngày nay, chỉ có đường mòn cách xa 8 km, trời lại vừa mới mưa phùn nên đường lầy trơn rất khó đi.

Để bảo đảm an toàn cho Bác, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã chuẩn bị sẵn và đề nghị Bác đi ngựa – Bác chấp thuận. Hai chiến sĩ biên phòng lo Bác ngồi trên lưng ngựa không vững bèn chạy theo hai bên để đỡ Bác. Bác gạt đi: “Các chú khỏi lo. Suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Bác làm gì có xe ô tô để đi. Nếu đi công tác chặng đường gần thì đi bộ, chặng đường xa mới có ngựa cưỡi. Bác cưỡi ngựa thạo rồi”.

Sau hai mươi năm, ngày 20-2-1961, Hồ Chủ tịch về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng). Được gặp lại Người, bà con Pác Bó vô cùng xúc động. Ảnh: Người thăm lại suối Lê-nin (Pác Bó).

Vào đến bản Pác Bó, Bác và các đồng chí cùng đi thẳng vào hang Cốc Bó rồi mới quay ra gặp gỡ bà con dân bản. Từ bản Pác Bó vào khu vực hang Cốc Bó, ngựa không sao đi nổi, Bác phải chống gậy đi bộ. Năm ấy Bác đã bước sang tuổi 71, sức khỏe đã giảm nhiều, lại thêm phần xúc động khi trở lại thăm chốn xưa, nên đến đầu nguồn suối Lê-Nin, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đề nghị Bác không leo núi dốc để thăm lại hang Cốc Bó nữa. Ngước nhìn lên phía hang nằm ở lưng chừng núi, Bác bùi ngùi nói:

-Thôi, đành vậy. Nhờ các chú lên thăm hang giúp Bác. Xem nhũ đá Bác tạc tượng ông Các Mác, dưới chân ông có tượng vượn người, và trên vách hang, bác có viết bằng chữ nho bằng than củi “Ngày mùng tám tháng hai, năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt” là ngày Bác vào ở hang có còn giữ được không?

Trong khi chờ đợi đoàn người lên thăm hang, Bác thong dong đi thăm lại những phiến đá Bác kê thay bàn thế để ngồi làm việc, thăm gốc cây ổi thường ngày Bác vẫn hái lá đun uống thay chè (trước đây chỉ với tay tầm ngang đầu là hái được từng nắm lá), nay đã trở thành một cây ổi cổ thụ vươn cao hàng chục mét, gốc đã tróc vỏ trơ lõi sần sùi, thăm phiến đá nhẵn bóng dưới gốc cây si già, khi thư giãn Bác thường ngồi câu cá bên bờ suối… gợi nhớ biết bao kỷ niệm của một thời hoạt động bí mật gian truân.

Từ trên hang xuống, đồng chí Lê Quảng Ba, người từng dẫn đường cho Bác từ Trung Quốc vượt biên giới về Pác Bó và đã được sống gần gũi với Bác suốt thời gian ở Pác Bó, năm ấy là Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương, thưa với Bác:

-Thưa Bác, đường lên hang trơn trượt, cỏ mọc đôi đoạn phủ cả lối đi. Còn trong hang, tượng ông Mác, tượng vượn người, dòng chữ nho Bác viết trên vách đều còn nguyên vẹn. Duy chỉ có những tấm phản kê làm giường cho Bác nằm thì đã mục nát cả.

Bác xúc động nói:

-Bà con Pác Bó tốt quá. Trước đây, nếu không được bà con đùm bọc, cưu mang thì làm sao Bác sống qua được những ngày cách mạng còn đen tối. Nay đã 20 năm qua đi, lại vẫn giữ gìn, bảo vệ cả cái hang Bác ở. Hôm nay, Bác rất vui. Bây giờ còn ít phút, Bác và các chú ta cùng làm một bài thơ. Chủ đề là tức cảnh thăm lại hang Cốc Bó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt – Các chú có đồng ý không?

Mọi người vỗ tay hưởng ứng, Bác liền chỉ tay vào đồng chí Hồng Kỳ, lúc ấy là Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng:

-Chú là Bí thư, chú xướng câu mở đầu.

Đồng chí Hồng Kỳ lắc đầu, gãi tai, cười trừ:

-Thưa Bác, cháu là Bí thư nhưng cháu rất là bí thơ. Cháu không biết làm thơ đâu ạ!

Bác phê bình khéo:

-Đáng lẽ chú là Bí thư thì phải giỏi làm thơ mới đúng. Thơ cũng là vũ khí cách mạng. Có khi cán bộ nói cả buổi mà quần chúng không nghe ra, nhưng chỉ đọc mấy vần thơ thì ai cũng hiểu. Thôi được, tha cho chú. Vậy, Bác chỉ định người khác vậy.

Bác nhìn quanh rồi chỉ vào đồng chí Tố Hữu:

-Đồng chí Lành vậy – Chú là nhà thơ mà.

Đồng chí Tố Hữu cũng lắc đầu cười:

-Dạ, ở đây Bác là người có tuổi hơn cả. Xin kính lão đắc thọ, mời Bác khai thơ trước ạ!

Bác cười to:

-Các chú khôn thật, định dồn Bác vào chân tường đấy phỏng? Được, Bác sẽ khai thơ vậy.

Suy nghĩ giây lát, Bác đọc hai câu mở bài:

Hai mươi năm trước ở hang này

Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây

Đấy, Bác mở đến nửa phần bài thơ. Bây giờ đến lượt các chú làm hai câu thơ cuối.

Mọi người vỗ tay hoan hô. Rồi mỗi người thêm một ý, góp một câu, cuối cùng Bác kết luận:

Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu

Non sông gấm vóc có ngày nay

Thế là bài thơ hoàn thành. Thực ra bài thơ là “Không đề”, về sau này khi xuất bản mới đặt tên bài thơ là Thăm lại Pác Bó.

Lê Hồng Bảo Anh

Con Người Hồ Chí Minh Hiện Lên Qua Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó

Đề Bài: Tình Yêu Thiên Nhiên Trong Thơ Bác Thể Hiện Qua Bài ” Tức Cảnh Pác Bó” ” Ngắm Trăng” ” Đi

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó (Hồ Chí Minh)

Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Đặc Sắc Chi Tiết

Phân Tích Bài Thơ Tức Cảnh Pác Bó Của Tác Giả Hồ Chí Minh

🌟 Home
🌟 Top