Top 10 # Xem Nhiều Nhất Nhà Thơ Y Phương Và Bài Thơ Nói Với Con Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Nói Với Con Của Y Phương

Trong số các nhà thơ dân tộc thiểu số, Y Phương là gương mặt khá tiêu biểu. Tác phẩm của ông khẳng định được vị thế riêng trong thơ ca hiện đại bởi một “chất giọng” đặc trưng của người Tày. Y Phương tự nhận mình là cây đàn Tính của dân tộc Tày: “Cây đàn này đâu phải cây đàn / Bầu nước mắt trăm năm cười khóc / Cây đàn này đâu phải cây đàn / Bọc sinh nở, lời chào ly biệt / Vụt đứng lên cây đàn dìu dặt / “Đi như thế cho đến ngày nhắm mắt” / Ngôn ngữ cổ còn vài câu tích tịch / Hãy gẩy lên bất cứ nơi nào” (Đàn Tính).

Cây đàn Tính có cái tên Y Phương ấy luôn cần mẫn gom nhặt và làm sống dậy những giá trị nhân văn trong truyền thống văn hóa của cộng đồng người Tày. Dù viết về làng, về tình yêu đôi lứa hay về tình phụ tử, Y Phương cũng luôn có ý thức tái hiện linh hồn của văn hóa quê hương. Từ thơ Y Phương, người đọc có thể nhận ra một vùng văn hóa độc đáo và có bề dày mà ít nhiều còn khá bí ẩn. Bài thơ Nói với con là một khúc nhạc đàn Tính như thế – một khúc nhạc đan xem nhiều cung bậc.

Mang hình thức là những lời tâm tình, mộc mạc của người cha dành cho con nhưng vấn đề mà tác phẩm đặt ra không chỉ là tình phụ tử. Sự độc đáo ở “chất giọng” khiến tác phẩm vừa đầy hấp lực nhưng cũng có không ít trở lực đối với người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu văn học. Khi được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 9 THCS, người ta càng nhận rõ điều

Mở Bài Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Mở bài bài thơ Nói với con của Y Phương

Mở bài bài thơ Nói với con của Y Phương

Y Phương là nhà thơ người dân tộc nổi tiếng với những vần thơ mộc mạc, ngôn từ tự nhiên, phóng khoáng mà giàu cảm xúc. Hồn thơ của Y Phương cũng thô mộc mà tha thiết như chính những con người dân tộc giản dị, phóng khoáng mà giàu yêu thương, Nói với con là một trong những bài thơ kết tinh rõ nét nhất của tài năng và phong cách sáng tác của ông. Mượn lời người cha nói với con, Y Phương đã tái hiện thành công tình cảm gia đình thiêng liêng, đẹp đẽ; đó còn là tình yêu quê hương với niềm tự hào khôn xiết về những truyền thống tốt đẹp của “người đồng mình”.

Bài thơ “Nói với con” của Y Phương là lời tâm tình tha thiết, chân thành của người cha dành cho đứa con thơ của mình. Qua lời của người cha, độc giả không chỉ cảm nhận được tình cảm gia đình, tình yêu, hi vọng của người cha dành cho con mà còn cảm động bởi tình cảm quê hương tha thiết, đó là tấm lòng gắn bó, là niềm tự hào với những phẩm chất tốt đẹp, với những truyền thống yêu thương, kiên cường của quê hương. Thương con, yêu quê hương, người cha nuôi dưỡng ở con những tình cảm tốt đẹp, mong muốn con lớn khôn, trưởng thành có thể tiếp tục sự nghiệp “đục đá kê cao quê hương”.

Tình cảm gia đình là thứ tình cảm ấm áp, thiêng liêng nhất trong trái tim mỗi con người, gia đình cũng là nguồn đề tài lớn trong thơ ca Việt Nam xưa và nay, đã có rất nhiều áng thơ văn đẹp đẽ, xúc động viết về tình cảm gia đình. Trong nền thơ ca hiện đại chúng ta biết đến tình mẫu tử tha thiết với hình ảnh cánh cò luôn bên con trong bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên, cũng từng nghẹn ngào xúc động trước tình phụ tử mộc mạc nhưng chứa chan cảm xúc trong bài thơ “Nói với con” của nhà thơ người dân tộc Y Phương. Qua những lời tâm tình với con, bài thơ Nói với con đã mở ra bức tranh đẹp về tình cảm gia đình, tình cảm với quê hương, đất nước, dân tộc.

Thơ của Y Phương nổi bật với ngôn từ giản dị cùng lối tư duy giàu hình ảnh, cái mộc mạc, chất phác của người dân tộc để lại dấu ấn đậm nét trong các tác phẩm thơ văn của ông. Nói với con là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất trong sự nghiệp sáng tác của Y Phương, bài thơ nói về tình cảm tha thiết của người cha dành cho con, không những thế, qua những lời tâm sự của người cha ấy, ta còn thấy được những tình cảm đẹp đẽ dành cho quê hương, đất nước. Tự hào trước truyền thống tốt đẹp của người đồng mình, người cha mong muốn con có thể lớn lên và kế thừa được những phẩm chất tốt đẹp ấy: thủy chung, tình nghĩa trong cuộc sống, kiên cường tự lập trong xây dựng quê hương, làm chủ cuộc sống.

Vẻ Đẹp Trong Bài Thơ “Nói Với Con” Của Nhà Thơ Y Phương

Y Phương tên khai sinh là Hứa Vĩnh Sước, người dân tộc Tày, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948, quê ở làng Hiếu Lễ xã Lăng Hiếu huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Năm 1968 Y Phương tham gia quân đội năm. Năm 1981 ông chuyển về công tác tại Sở Văn hóa – Thông tin Cao Bằng. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1988. Năm 1993 ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng. Hiên nay ông sống và viết tại Hà Nội. Thơ Y Phương thể hiện cách cảm, cách nghĩ chân thật, mạnh mẽ, trong sáng, cách diễn tả bằng hình ảnh của người miền núi phía Bắc. Ông được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987, 1992; Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Các tác phẩm chính gồm có: Tiếng hát tháng giêng (thơ -1986), Lửa hồng một góc (thơ – 1987, viết chung), Lời chúc (thơ – 1991), Đàn then (thơ – 1996), Chín tháng (trường ca 2001).

BÀI THƠ: NÓI VỚI CON

(Y Phương)

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con!

Bài thơ “Nói với con” được sáng tác vào năm 1980. Nói về bài thơ, Y Phương bảo: “Đó là lời tâm sự của tôi với đứa con gái đầu lòng. Tâm sự với con còn là tâm sự với chính mình” và ông cũng cho biết thêm: “cái lý do lớn nhất để bài thơ ra đời chính là lúc tôi dường như không biết lấy gì để vịn, để tin. Cả xã hội lúc bấy giờ đang hối hả gấp gáp kiếm tìm tiền bạc. Muốn sống đàng hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hóa. Phải tin vào những giá trị tích cực vĩnh cửu của văn hóa”. Những lời “gan ruột” về hoàn cảnh ra đời ấy cũng chính là cái chìa khoá giúp cho người đọc thấy được chiều sâu với những vầng sáng lung linh mang đậm sắc màu văn hoá miền núi của tác phẩm.

Y Phương sáng tác bài thơ theo thể tự do, cách diễn đạt linh hoạt, trong sáng, giàu hình ảnh. Bố cục bài thơ gồm có hai đoạn rõ ràng, mạch lạc. Giữa các câu trong đoạn và giữa hai đoạn thơ trong bài có sự hiệp vần với nhau chặt chẽ tạo nên sự thống nhất hài hoà trong cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm. Đoạn thứ nhất nói cội nguồn sinh dưỡng: con lớn lên trong tình yêu thương, nâng đỡ của cha mẹ và sự đùm bọc nghĩa tình của quê hương (cái nôi sinh thành và nuôi con khôn lớn). Đoạn thứ hai nói về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ cùng truyền thống văn hoá của quê hương và lòng mong mỏi con sẽ giữ gìn, kế tục xứng đáng những vẻ đẹp ấy (vẻ đẹp quê hương và lòng ước mong). Bố cục này giúp cho tứ thơ phát triển một cách hợp lí, tự nhiên. Từ tình cảm gia đình tứ thơ mở rộng ra tình yêu quê hương đất nước; từ những tình cảm ấm áp, yêu thương rất thân quen, gần gũi của mỗi mái ấm gia đình tứ thơ nâng lên thành ý chí, nghị lực để thúc giục mỗi con người. Có thể nói những điều Y Phương nói với con thì không mới nhưng cách nói giản dị, mộc mạc, giàu hình ảnh và có tính khái quát, theo lối tư duy của đồng bào miền núi Đông Bắc thì khá lạ. Chính những tâm tình thiết tha và sự sáng tạo nghệ thuật này đã làm cho bài thơ dễ đi vào lòng người, lắng đọng trong lòng người và sống mãi với thời gian.

1.     Cái nôi sinh thành và nuôi con khôn lớn.

2.     Vẻ đẹp quê hương và lòng mong ước

Là một người con của dân tộc Tày, sống gắn bó sâu nặng với cái bản (làng) Tày ở vùng thung lũng Cô Sầu, Y Phương đã từng tự hào giới thiệu với mọi người về cái nơi chôn nhau cắt rốn của mình rằng: “Có ngôi nhà xây bằng đá hộc/ Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt/ Có niềm vui lúa chín tràn về/ Có tình yêu tan thành tiếng thác/ Vang lên trời/ Vọng xuống đất”. Đó là cái làng Hiếu Lễ, huyện Trùng Khánh mãi tít trên Cao Bằng xa xôi, nơi phên dậu phía Bắc của tổ quốc. Làng ấy hiện lên thật mộc mạc, chân thành những rất đỗi thiêng liêng. Tha thiết một tình yêu quê hương như thế nên những hình ảnh về thiên nhiên và phong tục của cái bản Tày ấy cứ lặng lẽ thấm sâu vào hồn thơ của Y Phương một cách rất tự nhiên nhưng vô cùng mãnh liệt: “Tết đến làng/ Eng éc tiếng lợn kêu/ Thụp thùm chày giã gạo/ Ơi ới người gọi người/ Khắp cánh đồng râm ran tiếng núi/ Tết đến nhà/  Lá vừa thơm/ Hoa vừa non/ Quả vừa giòn/ Con cái nhà ai đi ngang qua e thẹn/ Tết vào nhà/ Bố lửa cười/ Cột nhà hồng/ Con dao cái cuốc nghỉ chơi ăn bánh/ Tết ở lại/ Mưa sương như hoa rơi/ Trời dần ấm/ Rừng đào ló lé nụ/ Muôn mặt cười” (Mặt hồng cười). Bởi vì tha thiết với xứ sở dân tộc mình nên nhịp tim thầm kín của Y Phương lúc nào cũng thăm thẳm một một tình thương da diết: “Người đồng mình thương lắm con ơi”. Yêu lắm, thương lắm nên cũng tự hào lắm. Tự hào cũng phải thôi vì sức sống mạnh mẽ, bền bỉ và truyền thống văn hoá đẹp đẽ của quê hương cứ bền bỉ âm thầm tồn tại theo thời gian. Thế nên nhà thơ cũng khát khao mong ước đứa con yêu dấu của mình sẽ giữ gìn, kế tục xứng đáng truyền thống ấy, vẻ đẹp ấy.

Mở đầu đoạn thơ thứ hai nhà thơ lại lặp lại câu thơ “Người đồng mình thương lắm con ơi” (khác với câu thơ trong đoạn trước một chữ “yêu” bằng “thương”). Nghệ thuật điệp ngữ  đã nhấn mạnh được cảm xúc đang trào dâng trong tâm trạng nhà thơ trước bao nỗi niềm thiêng liêng, da diết của quê hương. Tiếng lòng nhà thơ như đang thổn thức với nhưng cơn “nấc” yêu lắm, thương lắm trước cái “đẹp” và cái “khó” của quê hương. Đặt bài thơ vào thời điểm ra đời, như lời nhà thơ đã từng nói: “cả xã hội lúc bấy giờ đang gấp gáp tìm kiếm tiền bạc. Muốn sống đoàng hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hoá” (Theo TT&VH online, ngày 15/6/2008) thì lời nhắc nhở con đáng trân trọng biết bao. Nhà thơ tiếp tục “Nói với con” về những cái “đẹp” của người “đồng mình”. Cái “đẹp” đó là nghị lực và ý chí của con người quê hương: “Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn”. Nhà thơ đã dùng cái cao của trời và cái xa của đất làm thước đo nỗi buồn và ý chí vươn lên. Nét đặc sắc ở đây là tác giả đã dùng những cái vô cùng của thiên nhiên để thể hiện tầm kích chí hướng của con người. Câu thơ cô đúc, đăng đối, chắc nịch như câu tục ngữ đã diễn tả một cách mạnh mẽ, dứt khoát một thái độ, một phương châm ứng xử rất đẹp của con người xứ núi: dẫu gian khó nhưng con người nơi đây không vì thế mà dời bỏ quê hương, ngược lại họ tìm mọi cách để thích nghi với cái khó, cải biến cái khó như cây rừng đã từng sinh sôi phát triển trên núi đá, xanh tốt trong thung, trong khe. Tiếp tục mạch chảy của cảm xúc ấy, Y Phương đã dùng một loạt các hình ảnh gợi cảm để nói về quê hương và nhắc nhở con rằng: “Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn/ Sống trên đá không chê đá gập ghềnh/ Sống trong thung không chê thung nghèo đói/ Sống như sông như suối/ Lên thác xuống ghềnh/ Không lo cực nhọc”. Các hình ảnh: sống trên đá, sống trong thung, như sông như suối, lên thách xuống ghềnh gợi lên trong người đọc một cuộc sống đầy gian khổ của “người đồng mình”. Và trong những hình ảnh ấy có lẽ hình ảnh của đá là ám ảnh nhất. Nó vừa gợi lên cuộc sống cực nhọc nhưng cũng lại gợi lên cái thế ngẩng cao đầu trên đá của con người. Hình ảnh của đá trong bài thơ này lại làm ta nhớ đến hình ảnh đá trong những bài thơ khác của Y Phương (Thơ Y Phương có rất nhiều hình ảnh của đá). Hình ảnh đá đó đã hiện lên như một nỗi ám ảnh không nguôi. Nó là nỗi niềm trăn trở đau đáu của nhà thơ về cuộc sống áo cơm nghèo khó: “Đi từ mùa khô/ Đến hết mùa mưa/ Chỉ thấy đá/ Đá lởm chởm/ Đá thu lu/ Đá hun hút” (Những người thấp bé) “Những hòn đá héo/ Dầm chân suối reo/ Như anh/ Dầm chân trong đời nghèo” (Những hòn đá héo) “Dẫu em qua một vùng toàn đá/ Đá lô nhô như sóng triều dâng/ Em có buồn? Sao em bâng khuâng/ Quê hương mãi nghèo thế ” (Tiếng hát tháng giêng). Trở lại với bài thơ, Y Phương gợi lên cái khó, cái khổ của quê hương không phải để nhắc con biết “thương” mà cao hơn thế là dạy con biết vượt lên những cái “khó”, phát huy cái “đẹp” của quê hương. Đó là sự cần cù, tinh thần lạc quan, ý chí không lùi bước trước khó khăn. Điệp ngữ “sống”,“không chê – không lo” không phải nhấn mạnh cái khó, cái khổ mà nhấn mạnh lời dạy con phải có ý chí nghị lực vươn lên; không sợ khó không sợ khổ, không được coi khinh quê hương, dân tộc. Từ lời dạy đó Y Phương muốn con phải gắn bó, thủy chung với quê hương.

Tiếp tục cái mạch tâm tình ấy, ở phần cuối của đoạn hai lời dặn dò của người cha tha thiết hơn và cũng nghiêm khắc hơn. Vẫn là cách nói hình ảnh quen thuộc của người miền núi nhưng ý thơ ở đây mang đậm màu sắc triết lí: “Người đồng mình tuy thô sơ da thịt/ Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”. Sự “thô sơ da thịt” là hình thức bề ngoài còn “chẳng mấy ai nhỏ bé” là nội dung. Bề ngoài thì mộc mạc, thô sơ nhưng bên trong là ý chí, nghị lực phi thường; là sự tự trọng và niềm kiêu hãnh vĩ đại. Bằng cách diễn đạt tương phản giữa nội dung và hình thức Y Phương đã thể hiện một sức mạnh tiềm tàng của những con người quê hương. Đó là sự phi thường của con người quê hương “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương/ Còn quê hương thì làm phong tục”. Câu thơ thật đặc sắc, đầy tự tôn dân tộc. Đây là câu thơ tả thực nhưng rất gợi cảm. Câu thơ  ấy gợi cho người đọc về một nét văn hóa của người miền núi. Đó là họ đẽo đá kê chân cột nhà, làm lối đi… Từ hình ảnh cụ thể này nhà thơ chuyển sang nghĩa khái quát “kê cao quê hương” để chỉ ý thức, tinh thần xây dựng quê hương. Bằng sự nhẫn nại hàng ngày những con người lao động thô sơ da thịt ấy đã làm nên quê hương, làm nên truyền thống, làm nên phong tực. Sự tôn vinh quê hương có thể nói là vô cùng sâu sắc. Bốn câu thơ cuối hình ảnh “người đồng mình” “thô sơ da thịt” lại được lặp lại. Sự lặp lại này là mượn cái hình thức giản dị bề ngoài của quê hương để gợi nhớ đến truyền thống vĩ đại của quê hương qua đó nhằm nhắc nhở, nhắn nhủ, thể hiện mong muốn con sau này lớn khôn, trưởng thành, dù đi khắp phương trời nhưng “không bao giờ nhỏ bé” ngược lại phải làm được những điều lớn lao, sống cao thượng cho xứng đáng với truyền thống của quê hương, cái nôi lớn của mình.

Bài thơ “Nói với con”, với Y Phương đó không chỉ là nhưng tâm sự của người cha với con về một vùng quê dù có nhiều cái đẹp nhưng cũng còn không ít vất vả và gian khó mà hơn thế là ông muốn truyền lại cho con một tình yêu, một nghị lực và khát vọng vươn lên để khắc phục và dựng xây mảnh đất có cái tên làng là Hiếu Lễ nói riêng và cả cái vùng đất biên cương nơi phía bắc của Tổ quốc thân yêu nói chung. Bài thơ đã không những góp phần làm giàu bản sắc văn hoá Tày mà còn làm phong phú văn hoá Việt Nam nói chung trong thời đại mới.

Cảm Nhận Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Cảm nhận bài thơ Nói với con của Y Phương

Cảm nhận bài thơ Nói với con của Y Phương

Bài làm

Có lẽ các bạn cũng đã biết xưa nay tình mẫu tử luôn là đề tài phong phú cho thơ ca. Những bài thơ nói về tình cảm cha con thì rất là ít. Riêng bài thơ ” Nói với con” của tác giả Y Phương là một trong những tác phẩm rất hiếm hoi đó. Bài thơ Nói với con thể hiện tình cảm êm ấm của gia đình, tình yêu quê hương da diết, ngọt ngào và ngợi ca giá trị truyền thống tình nghĩa, sức sống mạnh mẽ của người dân miền núi.

Cội nguồn sinh dưỡng của con trước hết là cái nôi gia đình con lớn lên trong mái ấm có cha có mẹ trong vòng tay yêu thương. Cha mẹ thấy hạnh phúc sung sướng, từ bước chập chững từ tiếng nói tiếng cười đầu tiên của con. Cách nói mộc mạc, nghệ thuật liệt kê điệp ngữ, gợi ra không khí gia đình đầm ấm tràn ngập yêu thương.

“Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng”

Hơn thế, cái nôi nhỏ bé ấy, còn được đùm bọc bởi cái nôi rộng lớn đó là quê hương. Con lớn lên trưởng thành trong cuộc sống lao động trong thiên nhiên thơ mộng nghĩa tình quê hương. Tác giả vận dụng cách nói của người miền núi để sáng tạo những hình ảnh cụ thể vừa mang tính khái quát cao. Người đồng mình, vùng núi, dân tộc mình yêu lắm con ơi. Đan lờ, ken vách cần cù lao động, cần cù lao động đùm bọc sẻ chia gắn bó với nhau.

” Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng”

Thiên nhiên đẹp đẽ thơ mộng trở qua nghệ thuật nhân hóa. Điều đó khẳng định một quê hương nghĩa tình. Người cha muốn nói với con vẻ đẹp ấy của người đồng mình mà để yêu, gắn bó. Do đó, khi sung sướng ôm con thơ vào lòng nhìn con khôn lớn, suy nghĩ về nghĩa tình làng bận quê nhà người cha nghĩ về kỉ niệm hạnh phúc.

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”

Những đức tính cao đẹp của người đồng mình và mong ước ở bên con. Vẫn cách diễn đạt mộc mạc độc đáo. Nhà thơ tiếp tục thể hiện, nét đẹp của người đồng mình qua những hình ảnh đặc sắc.

” Người đồng mình…

…….

không lo cực nhọc”

Điệp ngữ ” người đồng mình” lặp lại ba lần, đó là cảm xúc trào dâng trong tâm trạng nhà thơ. Biết bao nỗi niềm thiêng liêng da diết với quê hương với con người nơi đây mà thổn thức thành lời gọi ” Yêu lắm, thương lắm, con ơi”. Đứng trước hoàn cảnh quê hương đất nước lúc bấy giờ điểm tựa tinh thần và củng cố niềm tin duy nhất là cách tin vào sức mạnh truyền thống dân tộc lòng thủy chung với quê hương. Dù hôm nay quê hương, người đồng mình còn nghèo gian nan vất vả.” Sống trên đá, trong thung lên thác, xuống ghềnh” thì cũng đừng ” chê đá ghập ghềnh, chê thung nghèo đói”. Lạc quan ” như sông, như suối”. Trong ý thơ có nét đặc sắc, nhà thơ lấy cái cao xa của trời đất để đo tầm kích của nỗi buồn và ý trí người đồng mình, tác giả muốn nhắn nhủ khuyên dăn truyền cho con cách nhìn và nghị lực, nỗi buồn dẫu cao to như núi thì ý chí tâm hồn con người, sẽ càng xa càng dài như sông suối, lớn lao như biển rộng. Phải biết chân trọng yêu thương nơi mình sinh ra và lớn lên. Dù gian nan đến đến đâu cũng đừng chê đừng bỏ, đừng làm việc trái lòng mình. Phải biết cần cù lạc quan để vượt qua để sống cho xứng đáng.

Người đồng mình tuy mộc mạc thô sơ nhưng giàu bản lĩnh và lòng tự trọng

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì là phong tục“ ” Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương”

Ý thơ cụ thể mà hàm ý sâu xa, nhà thơ nhắc lại hai lần người đồng mình thô sơ da thịt, mộc mạc. Về lời ăn tiếng nói nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé về ý chí nghị lực lòng tự trọng mà ngược lại rất mạnh mẽ, khoáng đạt giàu niềm tin và tinh thần lạc quan, bền bỉ gắn bó với quê hương. Câu thơ độc đáo mang cách nói đặc trưng sâu sắc của người miền núi.

Đục đá kê cao là hành động thục người miền núi thường đục quá kê cao nhà kê nối đi, từ hình ảnh đó lời thơ chuyển nghĩa khái quát ” kê cao quê hương” đó là ý thức bảo vệ và tinh thần xây dựng quê hương ngày càng tiến bộ giàu đẹp hơn là tôn vinh giữ gìn truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của quê hương.

Những câu cuối, nhà thơ khẳng định muốn truyền cho con sức mạnh vào truyền thống quê hương, người đồng mình tuy thế nhưng sống cao đẹp, mong con sau này lớn khôn trưởng thành trên cuộc đời phải sống cao thượng để xứng đáng truyền thống tốt đẹp đó. Bài thơ sử dụng thể thơ tự do, số câu số chữ không khuôn chỉnh phù hợp mạch cảm xúc tự nhiên, linh hoạt nhịp điệu bay bổng nhẹ nhàng.

Theo chúng tôi

Qua những lời tâm sự của cha đối với con. Ta thấy tình cảm cha con thật thân thích, trìu mến, người cha luôn muốn truyền dạy cho con những điều tốt đẹp nhất. Chính vì vậy, mỗi người con như chúng ta hãy chân trọng cố gắng giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của ông cha ta.