Top 16 # Xem Nhiều Nhất Nhà Thơ Bằng Việt Và Bài Thơ Bếp Lửa / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Nhà Thơ Bằng Việt Tuyệt Hay / 2023

Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

“Ngó lên nạt luộc mái nhà

Bao nhiêu nạt luộc nhớ ông bà bấy nhiêu.”

Viết về tình cảm muôn thuở loài người đó là tình bà cháu,tình cảm gia đình, tình quê hương, đất nước, ta bắt gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường với dòng sông quê, những câu hát. Hay những cảm xúc trong trẻo, tươi đẹp trong ca dao, dân ca thấm đẫm hồn người… Nhưng có một điều đặc biệt, khi tìm đến những lời thơ của Bằng Việt qua bài thơ “Bếp lửa” viết về tình bà cháu thiêng liêng, hồn ta lại run động, băn khoăn trước đức hy sinh của người bà tần tảo và tình bà cháu cao đẹp.

Văn chương ra dời giữa những niềm vui đan xen nỗi buồn trong cuộc sống con người. “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”(Thạch Lam). Chính vì thế, văn giống như suối nguồn đầy cảm hứng tạo nên sự sống trong trẻo, tươi mới. Những dòng cảm xúc trong thơ văn như đắp thêm vào hồn ta những tình cảm ta sẵn có và làm giàu thêm những thứ mà ta chưa có. Đối với Bằng Việt – nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã có những tình cảm thân thương đối với người bà yêu quý của mình. Những năm tháng xa quê, cư trú tại nước ngoài chính là nguồn cảm hứng đã thôi thúc nhà thơ viết nên những dòng thơ đầy xúc động và chan chứa tình người. Bài thơ “Bếp lửa” là những dòng tâm sự chân thật, là tình bà cháu thiêng liêng bất diệt, là tình yêu hương được gửi gắm tinh tế qua hình tượng bếp lửa đơn sơ, bình dị. Cuộc sống xa quê mang vị nhớ nhà, giã từ xứ lạnh đầy sương tuyết buốt giá, Bằng Việt lại chạnh lòng, khắc khoải và nhớ đến hình ảnh cái bếp lửa thân thương, ấm áp của quê nhà. Cùng với đó là hình ảnh người bà và những kỉ niệm tuổi ấu thơ khó phai nhòa trong lòng tác giả

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Rất tự nhiên, rất giản dị, mở đầu bài thơ là một hình ảnh ấm áp, nồng nàn biết bao. Bếp lửa hiện lên mang hơi vị ấm nồng của ngọn lửa,mang hơi ấm của tình thương, của người bà thân yêu. Từ nhỏ đã sống với bà, với cuộc sống khó khăn nơi mùa đông lạnh giá, có lẽ vì thế mà hình ảnh bếp lửa đã trở thành tiêu điểm khó phai mờ của nhà thơ. Điệp từ “một bếp lửa” xuất hiện ngay khổ thơ đầu đã trở thành một điệp khúc với giọng điệu êm đềm, sâu lắng. Nhà thơ như đang khẳng định một dấu ấn không bao giờ quên trong tâm trí mình. Hình ảnh bếp lửa ấm cúng, lại còn có bà đã gợi nên nỗi niềm nhớ quê sâu sắc trong lòng. Ở làng quê thưở nhỏ, tác giả đã quen sống với những thứ bình dị, thân thương,và dường như “bếp lửa chờn vờn sương sớm” đã là một thứ quá quen thuộc đối với nhà thơ và đối với mỗi gia đình ở làng quê Việt Nam vào mỗi buổi sáng. Giữa cái lạnh giá của tiết trời, lại có một cái bếp “chờn vờn” trong “sương sớm” đã gợi nên một cảm giác ấm áp lạ thường, thật thân thương, gần gũi, “ấp iu nồng đượm”. Từ láy “chờn vờn” đã thể hiện một không gian mờ ảo, khói bếp ẩn hiện lờ mờ trong làn sương sớm và ánh ban mai gợi nên nỗi nhớ bập bùng trong lòng tác giả. Ở đâu đó, có một bàn tay khéo léo, “ấp iu”, với tấm lòng chi chút của người nhóm lửa. Hình ảnh người bà xuất hiện “cháu thương bà biết mấy nắng mưa”, tình cảm nhà thơ được bộc rõ hơn. Hai từ “nắng mưa” như đang gợi tả một sự khó nhọc, một thời gian dài đằng đẵng, triền miên với bao vất vả trong cuộc đời người bà. Nhà thơ như thương cảm với người bà thân yêu của mình, thương bà khuya sớm tảo tần ngày này qua tháng khác để chăm bẵm đứa cháu thơ ngây. Ở ba câu thơ đầu, Bằng Việt đã khái quát được tình cảm của người cháu đối với cuộc đời lam lũ, khó nhọc của bà và cùng với đó chính là mạch nguồn cảm xúc đang dâng trào với những kí ức tuổi ấu thơ sống cùng bà và bên bếp lửa:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

Những năm tháng chiến tranh gian khổ sống trong cảnh đói nghèo, nhà thơ đã quá quen với mùi khói bếp của bà, “mùi khói” cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ đã đi sâu vào kí ức của cháu. Những ngày thơ bé, chiến tranh loạn lạc, cháu đã ở cùng bà trải qua bao gian khó của cuộc sống thường nhật. Đó cũng là khoảng thời gian cay cực, thiếu thốn và khủng khiếp bởi bóng đen ghê rợn bởi nạn đói năm 1945. “Lên bốn tuổi”, độ tuổi còn quá nhỏ nhưng nhà thơ đã hiểu hết được sự thực trong cuộc sống lúc bấy giờ. Chiến tranh tàn khốc, thực dân đô hộ trên đất nước, trong làn khói sương chứa đầy kỉ niệm, Bằng Việt như đang nhớ lại những hồi ức đau thương nhất cuộc đời khi phải chịu cảnh “đói mòn đói mỏi”, lại thấp thoáng xuất hiện hình ảnh người bố “đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”, vất vả sớm hôm. Tất cả như hiện về trong tâm trí người cháu, không rõ ràng, “chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu”. Hình ảnh bếp lửa và người bà hiện ra trong nỗi nhớ ngậm ngùi, nhớ thương. Và rồi, khi nhớ về cuộc sống khi xưa ấy, những tháng năm gian khổ, đầy bi thương, nhà thơ không khỏi xúc động “nghĩ đến bây giờ sống mũi còn cay”. Tuổi thơ của tác giả đã có quá nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn. Và rồi, cảm xúc hiện tại cùng kí ức xưa hòa lẫn, nhà thơ lại rung động, cay cay

Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

Mẹ cùng cha công tác bận không về,

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Bếp lửa hiện diện cho tình bà cháu ấm áp, đậm đà. Đó chính là chỗ dựa tinh thần, sự cưu mang, đùm bọc chi chút của người bà, sưởi ấm và vun đắp tình thương cho cháu suốt thời thơ. “Tám năm ròng” sống cùng bà là tám năm cháu nhận được tình yêu thương vô bờ, sự nuôi dưỡng, dạy bảo của người bà mến yêu. Đó cũng là những kỉ niệm về người bà tần tảo, chắt chiu nhóm lên ngọn lửa tình thương, ngọn lửa ấm áp để nuôi dưỡng, bao bọc đứa cháu. Công ơn to lớn của người bà khiến cháu phải suy nghĩ:”nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Người cháu vẫn luôn biết ơn và yêu thương người bà còm cõi, cụi lui của mình. Bà và bếp lửa là chỗ dựa tinh thần cho cháu, bà nhóm bếp, bếp lửa quê hương, bếp lửa ấm áp, bếp lửa của tình thương, tình cảm bà cháu. Và từ bếp lửa, nhà thơ lại nhớ về những năm tháng tuổi thơ sống bên bà với những kỉ niệm đáng nhớ – kỉ niệm gắn bó với cánh đồng cùng con chim tu hú mỗi độ hè về. Bếp lửa đã đánh thức cả kỉ niệm tuổi thơ, ở đó có hình ảnh người bà và hình ảnh quê hương. Tiếng chim tu hú như đang giục giã, khắc khoải một điều gì da diết, bồn chồn khiến tâm hồn nhà thơ trỗi dậy những hoài niệm nhớ thương. Âm thang tiếng kêu của con tu hú đã hòa vào dòng hồi ức đẹp đẽ của tác giả, gợi chiều sâu và nỗi nhớ trong những kỉ niệm và nỗi nhớ thương bà cứ thăm thẳm trong lòng. Đó là một cách viết đầy sáng tạo của Bằng Việt, tiếng chim như nhập vào mảnh hồn tuổi thơ của người cháu để làm xuất hiện hình ảnh người bà thương cháu, thương con. Bà là cha, vừa là mẹ và cũng là người bà thân thương nhất của đứa cháu trong những tháng năm gian khổ, đói kém.

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!

Những hình ảnh được Bằng Việt gợi tả đậm chất hiện thực, với thành ngữ “cháy tàn cháy rụi’được sử dụng linh hoạt trong thơ đã đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoàng tàn bởi khói lửa và sự tàn phá của chiến tranh. Cuộc sống đời thường còn chứa đựng nhiều tình người, khung cảnh tan tác do hậu quả của chiến tranh đã ập đến, “làng xóm bốn bên trở về lầm lụi/ đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”. Dù nghèo, dù cuộc sống đói kém muôn phần, trên cái nền bị chiến tranh hủy diệt, tàn phá lại xuất hiện sự cưu mang, đùm bọc của làng xóm đối với hai bà cháu. Đó chính là vẻ đẹp tình người đang tỏa rạng trong khung cảnh chiến tranh. Nhưng điều khiến nhà thơ xúc động và cảm phục nhất chính là người bà, một mình bà dù đã già, yếu ớt nhưng vẫn mạnh mẽ, kiên cường chống lại mọi gian khó thời chiến tranh, nuôi dưỡng đứa cháu thơ nên người. Và đặc biệt, bà con dặn cháu:”mày có viết thư chớ kể này kể nọ/ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”. Một thân bà gồng mình lo toàn mọi việc, bà chính là hậu phương vững chắc của tiền tuyến, bà lo chu toàn mọi việc ở nhà để người bố yên tâm kháng chiến, đánh đuổi kẻ thù. Trong từng lời thơ, hình ảnh người bà bao giờ cũng xuất hiện. Có thể thấy, nhà thơ đang gửi gắm một tình yêu chan chứa, giàu cảm xúc đến bà. Đó là lòng biết ơn, niềm tự hào của người cháu đã trưởng thành nhớ về bà thân yêu.

Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

Thơ chống Mỹ luôn cao trào và mãnh liệt, nhưng cũng giàu suy tư và tình cảm. Ngọn lửa từ tay bà mang bao yêu thương, trìu mến đã nuôi dững cháu lớn khôn. Và cũng từ ngọn lửa ấy, cháu nhận ra niềm tin vào ngày mai tươi sáng mà hiểu được rằng, bà chính là linh hồn thiêng liêng, cao cả, một con người vất vả, gian lao mà nghĩa tình. “Rồi sớm rồi chiều”, lúc nào cũng thế, bà vẫn nhóm lên ngọn lửa để sưởi ấm căn nhà, nuôi dưỡng tâm hồn đứa cháu. Điệp từ “một ngọn lửa” lại lặp lại như thể hiện một tấm lòng chan chứa yêu thương, ngọn lửa ấy lòng bà luôn ủ sẵn”, “chứa niềm tin dai dẳng”. Đó là ngọn lửa ấm áp tình thương, ngọn lửa của niềm tin dai dẳng, bền chặt vào tương lai của cuộc kháng chiến, của sự sống âm thầm mà mãnh liệt. Trong bài thơ có đến mười lần nhắc đến hình ảnh bếp lửa, và cùng hiện diện với nó chính là hình ảnh người bà khuya sớm tảo tần. Ở đoạn thơ sau, nhà thơ dùng một loạt điệp từ “nhóm” để liệt kê hết những công dụng của bếp, nhóm “bếp lửa ấp iu nồng đượm”, “niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi”, “niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui”, “dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”… Bếp lửa ấy gắn liền với mỗi khó khăn, vất vả đời bà. Nhóm bếp lửa chính là thắp sáng niềm vui, niềm yêu thương mà bà dành cho cháu và cho mọi người. Ở cuối đoạn thơ, nhà thơ còn dùng một câu cảm thán “ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa! Để nói lên sự kì diệu của ngọn lửa tình thương, tỏ thái độ yêu thương đối với hình ảnh bếp lửa thân quen cùng người bà hiền dịu. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn truyền lửa cho thế hệ sau.

Tuổi thơ đầy kỉ niệm đã lùi xa, chiến tranh đã qua, người cháu lớn khôn và rời xa bà mang bao nhung nhớ:

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

– Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

Lòng kính yêu, tự hào về bà, về quê hương đất nước đã cùng cháu lớn khôn. Người cháu năm xưa đã trưởng thành và bay đến những chân trời mới có “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả” nhưng đối với cháu, bếp lửa của bà vẫn luôn hiện diện trong tâm trí mãi không nguôi. Hình ảnh bà và bếp lửa luôn thường trực trong cháu,gợi một nỗi nhớ về hoài niệm xưa, nhớ về người bà đã thay cha mẹ nuôi mình thuở nhỏ. Thời thế đổi thay, nhiều thứ hiện đại được tiếp nhận vào cuộc sống nhưng đối với nhà thơ, bếp lửa vẫn là thứ thiêng liêng, bất diệt bởi ở đó có hình ảnh người bà đáng quý của ông. Điệp từ “trăm” đã mở ra một thế giới mới mẻ, rộng lớn, cháu được tiếp nhận cuộc sống với những niềm vui lạ. “Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở/ sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”. Mỗi ngày cháu đều nhớ về bà, nhớ về bếp lửa của bà, đó là tất cả tuổi thơ của cháu. Hình ảnh ấy đã trở thành một hình tượng thiêng liêng, cao quý, làm ấm lòng nhà thơ, nâng đỡ ông trên những nẻo đường đời.

Bùi Phương Thảo

Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Nhà Thơ Bằng Việt / 2023

Đề bài: Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

Bài làm

Hẳn ai cũng có một quá khứ bên người thân, gia đình. Trong thời kỳ đất nước chống giặc ngoại xâm, biết bao người đã rời khỏi gia đình để nhập ngũ, dốc sức vì đất nước. Nhà thơ Bằng Việt cũng có một tuổi thơ mà bố mẹ ông đều đi đánh giặc. Một mình sống với bà nhưng ông không hề cảm thấy cô đơn mà còn rất tự hào và vui sướng vì được sống bên bà. Ông đã sáng tác nên bài thơ “Bếp lửa” để nói lên tình cảm của ông giành cho bà cũng như khẳng định rằng bếp lửa không chỉ làm ấm tình cảm bà cháu mà còn sưởi ấm một đời người.

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm.

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Ngay ba câu thơ đầu, điệp ngữ “một bếp lửa” đã đi liền với các từ láy chờn vờn, ấp iu… gợi cho ta cái cảm giác ấm áp với tình cảm chứa chan. Và ngay lập tức, hình ảnh người bà đã hiện lên. Ở đây, bà không hiện lên như một bà tiên mà hiện lên trong trái tim của người cháu nhớ về người bà gian nan. Từ hồi ức dần dần trở về dưới những dòng thơ của tác giả:

“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

Trong tình cảnh nạn đói của đất nước, gia đình tác giả cũng không phải là ngoại lệ. Bố ông còn con ngựa để đi đánh xe là may mắn lắm. Nhưng cái không khí nghèo túng của toàn xã hội đã bao phủ tất cả. Gần hai mươi năm sau, khói vẫn làm cay mắt tác giả. Cái “cay” này không phải là cái “cay” do củi ướt, củi tươi mà cái cay đắng cuả những kỉ niệm đói khổ của nhiều người, trong đó có hai bà cháu tác giả.

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”

“Cháu cùng bà nhóm lửa”, nhóm lên ngọn lửa củasự sống và của tìng yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên, trong trắng như một trang giấy.Chính hình ảnh bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Đó là tiếng chim tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu như giục giã lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái đói, và dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: “Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe rồi đấy!”. Từ “tu hú” được điệp lại ba lấn làm cho âm điệu cấu thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác giả.Tiếng “tu hú” lúc mơ hà, lúc văng vẳng từ nững cánh đồng xa lâng lâng lòng người cháu xa xứ. Tiiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơ, rộng hơn trong cái không gian xa thẳng của nỗi nhớ thương.

“Mẹ cùng cha công tác bận không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc

Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa!”

Qua đoạn thơ này ta thấy hiện lên một căn nhà quạnh quẽ giữa đồng, chỉ hẩm hút có một già một trẻ. Đứa trẻ thì “ăn chưa no, lo chưa tới”, còn bà thì ốm yếu hom hem. Bà phải xoay sở nuôi thân mình và nuôi cả cháu. Vậy mà bà còn “bảo cháu làm, chăm cháu học” bên cạnh cái bếp lửa. Hình ảnh bếp lửa ở đây không ghi dấu đắng cay nữa mà đó là hình ảnh của một căn nhà ấm áp, nương náu để hai bà cháu sinh sống.

Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố mẹ phải đi công tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ.? cùng bà, ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Và trong cái khói bếp chập chờn, mờ mờ ảo ảo ấy, người bà như một bà tiên hiện ra trong câu truyện cổ huyền ảo của cháu. Nếu như đối với mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì đoiá với Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là cách chim, là một cành hoa của riêng ông. Cho nên, tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối với ông. Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho cháu những chữ cái, những phép tính đầu tiên. Không chỉ thế, bà còn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người. Nững bài học đó sẽ là hành trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất sự một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng. Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế,… Nhà thơ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?”. Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi. Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ “bà”, “cháu” đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lấn gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó, quấn quýt không rời.

Chiến tranh, một danh từ bình thường nhưng sức lột tả của nó thì khốc liệt vô cùng, nó đã gây ra đau khổ cho bao người, bao nhà. Và hai bà cháu trong bài thơ cũng trở thành một nạn nhân của chiến tranh: gia đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt cháy rụi…

“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi

Đỡ đần bà dựng lại túp lếu tranh

Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:

“Bố ở chiến khu bố còn việc bố

Mày viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt ngèo, nghị lứccủa bà càng bền vững, tấm lòng ủa bà càng mênh mông. Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù, nhẫn nại và giàu đức hi sinh. Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay đã khong còn, bà dù có đau khổ thế nào cũng không dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bong của mình lo buồn. Bà cứng rắn, dắt cháu vượt qua mọi khó khăn, bà không đứa con đang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà. Điều đó ta có thể thấy rõ qua lới dặn của bà: “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ. “Cứ bảo nhà vẫn đươc bình yên!”. Lới dăn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình. Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lòng để yên lòng người nơi tiền tuyến. Hình ảnh người bà không chỉ còn là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho nhữnh người phụ nữa Việt Nam giàu đức hi sinh, thương con qúy cháu.

Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn, một ngọn lửa:

“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.

Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn lửa của tình yên thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng si sáng cho con đường đứa cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu.

Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thớ muốn gửi tới bạn đọc, qua đó cũng là những bài học sâu sắc từ công việc nhỏ, lửa tưởng chừng đơn giản:

” Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm”

Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa ” ấp iu”, “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như một lần nữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu.

“Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”

Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩ tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau, những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì.

“Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”

“Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ.

“Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”.

Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà còn là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp, thêm huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị nhưng có một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh:

“Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.”

Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà.Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như tình cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗ vào bãi biển xanh thẳm lòng bà. Người bà đã là, đang là và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương trời nào. Bà đã trờ thành một người không thể thiếu trong trái tim cháu.

Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, nhà thơ Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về bà:

“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

Xa vòng tay chăm chút cuả bà để đến vơí chân trơì mới, chính tình cảm cuả hai bà chaú đã sưởi ấm lòng tác giả trong cái muà đông lạnh giá cuả nước Nga. Đứa cháu nhỏ cuả bà ngàu xưa giờ đã trưởng thành nhưng trong lòng vần luôn đinh ninh nhớ về góc bếp, nới nắng mưa hai bà cháu có nhau. Đưá cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ cuả đưá chaú đã được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó.

Qua bài thơ, bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lửa hồng và dáng người bà lặng lẽ ngồi bên. Bếp lửa là hình ảnh đẹp nhằm gợi tả sự ấm áp của gia đình đối với mỗi người. Bài thơ “Bếp lửa” sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc nhờ sức truyền cảm sâu sắc cuả nó. Bài thơ đã khơi dậy trong lòng chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, với những người đã tô màu lên tuổi thơ trong sáng cuả ta.TÌNH NGƯỜI TRONG BẾP LỬACó lẽ khi nhắc về quá khứ, nhất là những thời điểm đẹp đẽ, người ta vẫn thường kể nhiều hơn. Với “Bếp lửa” nhà thơ Bằng Việt thực đã dắt dẫn người đọc vào sâu trong mạch kể, mạch hồi tưởng của ông. Hồi ức đẹp một đi không trở lại của tuổi thơ được tái hiện không phải bằng một trí nhớ lan man, chắp vá. Trái lại, ở sâu trong tiềm thức của tác giả, hình ảnh “Bếp lửa” và “người bà” lúc nào cũng tỏ sáng lạ kì – trở thành một điểm đi về trong cõi nhớ. Dòng suy tưởng và hoài niệm của người cháu xa quê nhà có lẽ đều được khởi nguồn từ những hình ảnh đầy giản dị mà thân thương, ấm áp vô cùng.

Việc đồng hiện lên hình ảnh “Bếp lửa” và “bà” trong bài thơ thật dễ khiến cho người ta có một sự liên tưởng về mối quan hệ lạ kì, thiêng liêng. Từ bếp lửa của củi rơm đến “Bếp lửa” của lòng người có lẽ hơn bao giờ hết con người cảm nhận thật rõ về tình bà cháu, tình quê nồng ấm.

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hum nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

Cái “nỗi nhớ về bếp lửa” được nói trực tiếp song không vì thế mà giảm đi phần sâu lắng, tinh tế. Hình ảnh “Bếp lửa” gợi nhớ bằng nhiều giác quan bằng trí tưởng tượng. Thị giác (chờn vờn sương sớm), cảm giác (ấp iu nồng đượm) và khướu giác (sống mũi còn cay) rồi xúc giác (hun nhèm mắt cháu). Tác giả hướng mọi giác quan để quay về sống lại kỉ niệm trong trí tưởng tượng. Dường như không còn cảm giác khoảng cách của thời gian ở đây nữa, mọi hình ảnh gắn với bếp lửa đã tái hiện chân thật, rõ ràng từ một thời kí ức xa xôi! Hình ảnh bếp lửa còn gắn với người bà đầy thân thương. Tuy không trực tiếp nói ra song người đọc hình dung được công việc của người bà: “nhóm bếp”. Tuổi thơ của cháu gắn với bếp lửa, với mùi khói cay nhèm và cũng gắn chặt với bà. Phải chăng hình ảnh: “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” chính là hoá thân của tình cảm bà dành cho cháu. Vì vậy có lẽ tìm về với bếp lửa quê nhà cũng chính là tìm về tuổi thơ sống bên bà dành cho cháu. Sự tương đồng đẹp đẽ ấy dễ thường mấy ai nhận ra. Chỉ có Bằng Việt với khoảng cách thời gian đầu đời trong sáng được gắn bó bên bà mới có thể “cảm” sâu sắc đến thế, cái tưởng chừng quá bình dị, mộc mạc. Đắm mình trong dòng hồi ức tươi mát của tác giả, chúng ta muốn tìm đến với những tình thương yêu nồng hậu như thế.

“Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế…

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”.

Cái ấm áp của “Bếp lửa” và “tình người” trong sự tương đồng, ta đã biết.

Đằng sau đó dường như còn có một sự tương đồng nữa. Bếp lửa và người bà đều là những gì gắn bó, thân thương nhất với kỉ niệm của cháu. Nếu “Bếp lửa củi rơm” gắn với cảm nhận “mùi khói”, với kỉ niệm “khói hun nhèm mắt cháu”, với dư vị “sống mũi còn cay” thì người bà gắn với tuổi thơ cháu vừa như một người biết chăm sóc, vừa như một người bạn lớn. Những kí ức như ùa vào trong tâm tưởng cháu. Đó là từ năm: “lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”, lại cả những năm “đói mòn đói mỏi”, những lúc bà hay kể chuyện những ngày ở Huế những khi “giặc đốt nhà cháy tàn, cháy trụi”… Từ lúc nào tuổi thơ nhỏ bé của cháu đã được truyền hơi ấm từ bếp lửa, từ bà! Một điều không thể ngẫu nhiên là: mỗi khi nhắc về bếp lửa thì lại thấy xuất hiện người bà và mỗi khi xuất hiện người bà lại thấy công việc của bà xoay quanh bếp lửa.

Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc.

Không nói mà tình cảm vẫn dạt dào, không hô hào, bồng bột mà người ta vẫn không thể làm ngơ trước sự chân thành. Đó có lẽ là những gì Bằng Việt đã làm khi dựng lên hình ảnh song song mà hoà hợp với nhau giữa “Bếp lửa” và “người bà”. Trong kỉ niệm, trong cảm xúc của mỗi nỗi nhớ, lí trí đã nhường chỗ cho tình cảm và cái rõ ràng, minh bạch đã nhoè đi để được thêm những cái mơ màng, chập chờn của hồi ức. Hình ảnh bà và bếp lửa qua tâm trạng ấy đã đồng nhất, hoà quyện với nhau. Tuy một mà hai tuy hai mà một để chỉ còn hiện lên trong tâm tưởng người cháu của một cái gì thật ấp iu, nồng đượm.

Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ xét cho kĩ thì chính là điểm gợi hứng, là cầu nối để đứa cháu phương xa ngàn dặm gửi tình thương nỗi nhớ về bà, về quê hương. Nhưng qua dòng hồi tưởng nhẹ nhàng tươi mát của cháu, bếp lửa của củi rơm kia cũng không còn là bếp lửa bình thường như cái nhìn trước đó. Nó trở thành một hình ảnh cứ trở đi trở lại trong bài thơ, trong tâm trí người cháu và không lần nào cái bếp lửa bình dị ấy không gắn với hình ảnh người bà tảo tần, đầy thân thương. Và vì lẽ đó mà người ta có cảm giác bếp lửa kia chính là tình cảm của người bà đôn hậu.

Nếu có một bếp lửa quê nhà vẫn “chờn vờn sương sớm” thì cũng có một ngọn lửa tình bà “ấp iu nồng đượm”. Có lúc hai thứ lửa ấy cùng tách ra, lại có khi hợp cùng nhau. Khi tách ra nó gợi về những kỉ niệm: kỉ niệm về bếp lửa củi rơm (“khói hun nhèm mắt cháu”, “sống mũi còn cay”) kỉ niệm về bếp lửa tình bà (“Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”, “bà dạy cháu làm bà chăm cháu học”) Nhưng khi đã hoà hợp với nhau nó trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, kì lạ biết bao trong cái bình dị. Sống mũi còn cay là thực của ngày xưa ngồi cạnh bếp lửa, bên bà và là thực của hôm nay (và chắc là mãi mãi) của tình bà cháu.

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm hồn tuổi nhỏ

Ôi kì lạ và thiêng liêng – Bếp lửa”.

Trong cái hoà quyện tuyệt vời, người ta thấy cái nóng cái đượm của bếp lửa củi rơm cũng như cái nồng cái ấm áp của bếp lửa lòng người. “Bếp lửa” kì lạ, thiêng liêng ấy nhóm “khoai sắn ngọt bùi”, “nồi xôi gạo mới” cũng dành nhóm cả “niềm yêu thương”, “tâm tình tuổi thơ”. Thực là diệu kì. Tại sao nói đoạn thơ trên là một trong những đoạn hay nhất của bài thơ, câu trả lời có lẽ nằm ở cái tình ấm lửa trong đó mà lúc nào cũng được ấp ủ.

“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.

Tình cảm của bà rõ ràng đã được tượng trưng hoá với “ngọn lửa”. Nếu nói “Bếp lửa” e chưa thật trúng, còn nói “ngọn lửa” thì người ta cảm thấy cái linh hồn, tình cảm đã nằm ngay ở đó. Ngọn lửa ấy phải chăng là tâm huyết, nhiệt huyết (chứa niềm tin dai dẳng) phải chăng là tình yêu (lòng bà luôn ủ sẵn). Từ “Bếp lửa” đến “ngọn lửa” có lẽ là hành trình từ cái đơn sơ giản dị đến những cái thiêng liêng cao cả, từ cái thực đến cái linh hồn. Một lần nữa hình ảnh “Bếp lửa” hay “ngọn lửa” đã tiếp tục tôn cao lên tấm lòng chân chất, tình thương giản dị sâu sắc mà đôn hậu của bà. Có thể chấp nhận được chăng khi ta hình dung “Bếp lửa” trong kí ức tuổi thơ của tác giả chính là hiện hữu của một tình yêu nồng nàn, đượm đà bà dành cho cháu? Cái chính là bà lúc nào cũng ấp ủ một ngọn lửa vô hình song “dai dẳng”, “thiêng liêng” để lúc nào cũng vậy hễ nhắc tới “Bếp lửa” thì tác giả và người đọc luôn cảm thấy có bà trong đó.

Chẳng phải vô tình mà trong suốt bài thơ, hình ảnh “Bếp lửa” cứ ám ảnh tâm trí Bằng Việt như vậy. Không dưới mười lần tác giả nhắc tới hình ảnh đó và lần nào cũng kèm theo sự xuất hiện của bà. Tác giả đang làm cái công việc của người đi so sánh, thí dụ giá trị hai vẻ đẹp “Bếp lửa” và “người bà” chăng?

Không hẳn như vậy! Đọc kĩ lại ta thấy Bằng Việt đã làm một mĩ từ pháp có hiệu quả cao nhất: ẩn dụ. Hình ảnh bếp lửa là ẩn dụ của ngọn lửa nồng hậu nơi người bà, và tình cảm người bà chính là ẩn dụ ngọn lửa – một thứ tình yêu cao cả nhất. Ta đã biết “người bà” và “Bếp lửa” là hai giá trị chẳng thể nào tách rời trong hồi ức của tác giả thì lẽ nào tác giả lại đi làm công việc trái ngược nhau: phân tích hai hình ảnh để so sánh? “Bếp lửa” tượng trưng cho cái đơn sơ, khiêm nhường. Đã bao giờ chúng ta nghĩ về bếp lửa nhà mình như thế này chưa: nó giản dị, đơn sơ (chỉ vài que củi, một ôm rơm, một cái kiềng là thành một bếp lửa). Nó cũng thật khép nép khi thu mình vào trong góc bếp chật chội. Nhưng bếp lửa cũng là một cái gì đó rất ấm áp nồng đượm (những ngày đông lạnh thấu da thấu thịt). Người bà cũng vậy: thật chân chất, mộc mạc, dân dã, quê kiểng song ẩn chứa tình yêu vô bờ, tha thiết, chan chứa. Qua con mắt nhà thơ, bếp lửa và bà bình dị, cao quí, thiêng liêng. Lấy hình ảnh của bếp lửa để nói về tình cảm của bà dành cho mình, thiết tưởng Bằng Việt phải nặng lòng với bà, với quê hương lắm.

Một đứa con xa quê hương, một đứa cháu xa bà luôn luôn thường trực trong nỗi nhớ về “Bếp lửa” – về tình yêu ấm nồng tưởng như cái lạnh cái cô đơn ở quê người cũng đôi chút vợi đi vậy. Nhưng nhớ về cái “Bếp lửa” phải chăng cũng đồng nghĩa với việc nhớ quê nhà, nhớ về bà đồng nghĩa với việc nhớ về tổ ấm gia đình với niềm vui sum họp.

“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà. Niềm vui trăm ngã

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…”

Trong tình cảm của bà có tình cảm của đất nước, tác giả nhớ đến tình bà cũng là nhớ đến đất nước quê hương. Có người từng nói: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc” Nói như vậy có nghĩa là tình cảm của bà trở nên lòng yêu Tổ quốc là một ẩn dụ của tình cảm của đất nước dành cho những người xa quê. Hành trình từ “Bếp lửa” đến “Bếp lửa” là hành trình của giọt nước hoà vào suối và đổ ra sông… Càng ngày càng thiêng liêng, cao cả. “Bếp lửa” là một dòng hồi tưởng “chờn vờn”, “nồng đượm”, rực sáng mãi không thôi trong lòng những người dù chỉ đến với nó một lần. Làm sao chúng ta sống lại tuổi ấu thơ cảm động bên người bà yêu dấu với tình thương bao la, sâu đậm ở một miền quê còn nhiều đau khổ. Một ngọn lửa mãnh liệt như vậy liệu có bao giờ vụt tắt được chăng?

Nguồn: Văn mẫu hay

Soạn Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt / 2023

Soạn bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

1. Bài thơ là lời của nhân vật người cháu, hồi tưởng về quãng thời gian thơ ấu sinh sống cùng bà. Tái hiện lại những hồi ức của tuổi thơ cũng như những kỉ niệm sâu sắc về người bà của mình

2. Bài thơ “Bếp lửa” có thể chia bố cục 4 phần như sau:

+ Phần 1: ba câu thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa đã khơi dậy những kí ức về người bà thân yêu. +Phần 2: Bốn khổ thơ tiếp theo ( đến “Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”): Những kỉ niệm sống bên bà cùng với những kí ức gắn liền với hình ảnh bếp lửa. + Phần 3: Khổ thơ tiếp theo ( “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa”) Những suy tư về bà cũng như cuộc đời cơ cực của bà. + Phần 4: Khổ thơ còn lại: Người cháu đã trưởng thành, đi xa nhưng vẫn luôn nhớ về người bà của mình.

3. Đọng lại trong kí ức của người cháu là biết bao nhiêu kỉ niệm bên bà, đó là những khắc sâu trong tâm trí của người cháu. Cụ thể như sau:

3. Hình ảnh bếp lửa xuất hiện rất nhiều lần trong bài thơ ( 10 lần) . Hình ảnh bếp lửa vốn gợi ra những dòng hồi ức tuổi thơ của nhà thơ Bằng Việt cũng như gây xúc động với người đọc bởi hình ảnh bếp lửa ấy luôn gắn liền với hình ảnh của người bà. Để rồi hình ảnh bếp lửa tự bao giờ đã trở thành biểu tượng để nghĩ về bà.

Mỗi khi nhắc đến bếp lửa là người cháu nhớ đến bà vì người cháu đã cùng bà nhóm lửa trong suốt những năm tháng sống bên bà, những hình ảnh ngọn lửa, mùi của khói bếp đều thấm đượm trong tâm hồn của người cháu, gắn liền với những câu chuyện, những kỉ niệm bên bà. Mặt khác, tấm lòng của người bà cũng ấm áp như chính ngọn lửa trên bếp, có thể xua đi lạnh giá, cô đơn, mang đến ánh sáng của tình thương, của hi vọng cho người cháu.

4. Kết thúc khổ thơ thứ 4, nhà thơ Bằng Việt viết ” Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”, ở đây nhà thơ sử dụng hình ảnh “ngọn lửa” chứ không phải hình ảnh “bếp lửa” bởi ở đây hình ảnh bếp lửa không chỉ là hình ảnh thực trong kí ức nữa mà nó đã trở thành một ngọn lửa bất diệt trong tâm hồn người cháu. Bằng tình yêu, tình thương của mình dành cho cháu, người bà đã đốt lên được ngọn lửa của yêu thương, ngọn lửa của hi vọng, của sức sống bất diệt trong tâm hồn của người cháu. Vì vậy ngọn lửa ở đây tồn tại như một biểu tượng.

5. Tình bà cháu trong bài thơ “Bếp lửa” thật đẹp, thật đáng trân trọng, người bà luôn dành cho người cháu những tình cảm sâu sắc nhất, luôn ở bên che chở, bảo vệ người cháu, những kỉ niệm tuy đơn sơ nhưng lại thật đẹp biết bao bởi nó được xây dựng bằng tình thương chân thật, sống động nhất.

Tổng Ôn Kiến Thức Về Bài Thơ Bếp Lửa Của Nhà Thơ Bằng Việt / 2023

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp bà.

Bài thơ Bếp lửa in trong tập Hương cây – Bếp lửa, tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi Bằng Việt đang là sinh viên học ở nước ngoài (Liên Xô cũ).

Thể thơ và mạch cảm xúc, bố cục bài thơ

Thể thơ: kết hợp tám chữ với bảy chữ, chín chữ một cách linh hoạt.

Bài thơ mở ra là hìn ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những hình ảnh tuổi thơ sống bên bà, được bà yêu thương, chăm sóc với bao lo toan, vất vả. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu về bà với bao cảm phục, biết ơn. Cuối cùng người cháu gửi niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ hiện tại đến suy ngẫm. Bài thơ là lời tâm tình của đứa cháu hiếu thảo với bà, từ nơi xa nhớ về bà.

Bố cục bài thơ

Ba dòng đầu: Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng cảm xúc về bà

Ba khổ tiếp (lên bốn tuổi … niềm tin dai dẳng): hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Hình ảnh người bà gắn liền với bếp lửa.

+Khổ thứ sáu (Lận đận… thiêng liêng – bếp lửa): suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

Khổ cuối: người cháu đã trưởng thành, ở xa, không nguôi nhớ về bà.

Đặc điểm nội dung, nghệ thuật

Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ Bếp lửa gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với người bà và cũng là đối với gia đình, quê hương đất nước.

Định hướng tiếp cận bài thơ

Bài thơ là lời tâm tình, nỗi nhớ của đứa cháu với bà.

Nơi bắt đầu của những nỗi nhớ

Bài thơ là lời tâm tình của đứa cháu hiếu thảo từ nơi xa hướng về người bà nơi quê nhà. Dòng cảm xúc được khơi nguồn từ hình ảnh bếp lửa:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

Những từ “chờn vờn”, “ấp iu” vừa gợi bép lửa vừa gợi cảm xúc. Bếp lửa ấy với ngọn lửa bốc cao, tỏa sáng, ẩn hiện tứ sương sớm, ấp ủ than nồng đượm, nhờ sự kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa và nhớ thương bà.

Nỗi nhớ đi qua kỉ niệm của thời gian

Bếp lửa đã thắp lên nỗi nhớ , gợi về bao kỉ niệm. Kỉ niệm tuổi thơ lần lượt hiện lên trong kí ức như một thước phim. Kỉ niệm đầu tiên hiện về là khi lên bốn tuổi:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe,khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

Tuổi thơ ấy có nhiều nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn, có bóng đen ghê rợ của nạn đói 1945. Khi ấy, cháu cùng bà nhóm lửa, khói hun nhèm mắt, “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”. Cảm giác cay vì khói đã in đậm dấu ấn vật chất không phai mờ trong tác giả hay đó cũng là nỗi xúc động khi nhớ lại những năm tháng cô cực ở lứa tuổi ấu thơ. Hoài niệm ấy đã xóa đi khoảng cách mấy chục năm trời, khiến quá khứ như đồng hiện trong hiện tại.

Tiếp đó là chuỗi kỉ niệm về tám năm dòng kháng chiến sống cùng bà. Bố mẹ công tác ở chiến khu, chỉ có hai bà cháu sống cùng nhau nơi miền quê. Tiếng chim tu hú gợi về những buổi mai, hai bà cháu dậy sớm nhóm lửa giữa không gian vắng lặng, mênh mông. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong: “Tiếng tu hú sao mà da diết thế!”. Tiếng tu hú trở đi trở lại thành điệp khúc, là chủ âm của khúc hoài niệm này. Bên bếp lửa bà kể chuyện cho cháu nghe, bà bảo ban cháu, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học. Mẹ cùng cha bận công tác không về, bà ở nhà giữ gìn tổ ấm, cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ, nuôi nấng của bà giữa hoàn cảnh đất nước kháng chiến. Cảm công ơn ấy, người cháu càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Đứa cháu sống trong sự yêu thương, chăm sóc của tình bà, càng chạnh lòng thương con tu hú bé bỏng, thiệt thòi:

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Hoàn cảnh đất nước giặc giã có biết bao yêu thương, mất má, gian lao, thử tháchđã ghi vào trong kí ức. Trong những năm tháng ấy, có một kỷ niệm mà người cháu vẫn nhớ ngọn ngành:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh: “Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

Lời dặn của bà, cháu vẫn khắc ghi. Nỗi khổ vì giặc giã tàn phá xóm làng, bà âm thầm chịu đựng, không muốn người con ở chiến khu biết điều đó, để người con yên tâm công tác. Bà muốn sẻ chia gánh vác cùng con cháu, cùng mọi người, góp phần đẩy nhanh công cuộc kháng chiến tới thắng lợi. Giữa tro tàn, mất mát, đau thương, bà lại nhóm lửa, vẫn nhóm lửa. Bếp lửa ân cần, ấm cúng, nhẫn nại của bà tương phản với ngọn lửa hung tàn, tiêu hủy dã man của bọn giặc:

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng …

Bếp lửa bà nhen không còn là bếp lửa thông thường nữa mà nó chứa ngọn lửa lòng bà, ngọn lửa của tình thương và đức tin trong sáng, mãnh liệt. Ngọn lửa ấy lòng bà luôn ủ sẵn, bất diệt. Bà đã nhóm lên một bếp lửa tinh thần trong tâm hồn đứa cháu, nhóm lên những yêu thương, suy nghĩ đầu tiên, rộng lớn hơn tình bà cháu thông thường, đó cũng là lòng yêu thương, tin tưởng với đất nước, con người. Hìn ảnh “ngọn lửa” mang ý nghĩa trìu tượng và khái quát. Và dòng sông êm đềm của tình bà cháu đã hào vào biển lớn của tình yêu đất nước, con người.

Từ hoài niệm và suy tưởng, từ quá khứ trở về với hiện tại, ngươid cháu suy ngẫm về cuộc đời bà. Suốt một đời vất vả, lận đận, bà đã và vẫn làm cái công việc nhóm lửa:

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Khôn lớn, trưởng thành, người cháu càng thấu hiểu ý nghĩa cao cả, thiêng liêng trong cái công việc tưởng rất đỗi bình dị của bà. Điệp từ nhóm được dùng với hai lớp nghĩa và nhịp thơ dồn dập đã nói lên biết bao công việc bà làm và ý nghĩa cao cả của những việc làm đó. Bà đã làm cái công việc khởi đầu cho một ngày – nhóm bếp lửa mỗi sớm mai và cũng làm cái công việc khởi đầu cho một đời, một tâm hồn. Bà nhóm lửa cho hôm qua và cho cả hôm nay cho cuộc đời mới, cho cháu con, cho mọi người và cho cả bà. Bếp lửa vì thế trở nên kì lạ, thiêng liêng: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”. Bếp lửa ấy luôn hiện diện cùng bà – người phụ nữ Việt Nam muôn thuở với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương. Lời thơ thốt lên chưa hết ngạc nhiên và đầy cảm kích về bếp lửa, về bà. Nhớ về bếp lửa như nhớ về cội nguồn với niềm tri ân sâu nặng.

Nỗi nhớ khôn nguôi trong xa cách

Đứa cháu năm xưa giờ đã khôn lớn, trưởng thành, được chắp cánh bay xa, tới những khung trời rộng lớn, với những niềm vui rộng mở (có ngọn khói trăm tàu, có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả) vẫn không nguôi quên bếp lửa của bà: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa? …”. Bếp lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước người cháu trên hành trình dài rộng cuộc đời. Nghĩa là một bếp lửa mới đã được nhen lên, sự sống cứ thế truyền đời, bất diệt. Như thế, bà không chỉ là người nhóm lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, tình thương, niềm tin cho các thế hệ. Bếp lửa trở thành biểu tượng của sự sống, niềm yêu thương, nghĩa tình, gia đình, đất nước, sức sống bền bỉ của con người. Nhớ về bếp lửa là nhớ về cội nguồn, nghĩ về phẩm chất của dân tộc và ý thức kế thừa, phát huy nó, sống xứng đáng với những ân nghĩa đã nhận chịu. Bài thơ khép lại bằng một câu hỏi tu từ tạo nên một kết thúc mở với nỗi nhớ khôn nguôi, với niềm hoài vọng tha thiết, đau đáu.

Cảm nhận tác phẩm từ nhiều góc nhìn

Ý kiến của Nguyễn Xuân Nam

Trong Đôi dòng tiễn đưa bà nội, một lần nữ Bằng Việt đã vẽ nên bức chân dung của những bà cụ thầm lặng yêu thương con cháu, đỡ đần bao nhiêu việc không tên. Bổ sung cho bài Bếp lửa trước kia, hình ảnh của bà cụ càng rõ nét:

Đôi mắt càng già càng thấm thía yêu thương Dù da dẻ khô đi, tấm lòng không hẹp lại Giàu kiên nhẫn bà còn hi vọng mãi Chỉ mỗi ngày rắn lại, ít lời thêm

(Nguyễn Xuân Nam, nhà thơ Việt Nam hiện đại)

Ý kiến của Nguyễn Trọng Hoàn

“Bài thơ thể hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi con người, đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời. Mạch triết luận thầm kín được khởi đầu từ “Bếp lửa” còn được tiếp nối trong nhiều bài thơ khác như “Trở lại trái tim mình” khi ông coi thủ đô Hà Nội như một cội nguồn tình cảm, cội nguồn sức mạnh”.

(Nguyễn Trọng Hoàn, Đọc – Hiểu văn ngữ Ngữ văn 9,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr. 96, 97)

Ý kiến của Chu Văn Sơn

“Bếp lửa là lời tâm tình của đứa cháu hiếu thảo đang ở nơi xa gửi về người bà thân yêu nơi quê nhà. Lời tâm tình được dệt bằng biết bao tâm tình tuổi thơ, mỗi kỉ niệm được bao bọc trong nỗi nhớ thương vừa dâng trào vừa sâu lắng. Cả bài thơ là một dòng tâm trạng, một dòng hồi ức. Mặc dù tác giả đã có ý sắp xếp theo một trật tự thời gian, nhưng toàn bài vẫn là một dòng chảy xáo động. Những thương nhớ cứ xô đẩy trật tự sắp đặt, cảm xúc cứ giành lấy quyền dẫn dắt ý tứ. Cho nên các khổ thơ dài ngắn không đều. Bài thơ gồm có hai giọng – giọng kể lể (tự sự) nắm vai trò tổ chức chung đối với toàn bài, và giọng cảm thương (trữ tình) thấm đượm vào mỗi một kỉ niệm, một đoạn thơ. Nhưng đọc toàn bài, thấy giọng cảm thương, nhớ nhung da diết cứ muốn trào dâng, lấn át tất cả. Mạch tự sự kể lể mờ đi, lẩn mình vào mạch cảm xúc”.

(Chu Văn Sơn, Giảng văn văn học Việt Nam hiện đại,

NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000)

Ý kiến của Vũ Dương Quỹ

“Từ đầu bài thơ, hình ảnh “bà” và “bếp lửa” luôn song hành đến đoạn cuối này đã hào làm một. Điệp từ “nhóm” được nhắc lại bốn lần mang bốn nghĩa khác nhau, bồi đắp cao dần, toả sáng dần dần:

Ôi kì lạ và thiếng liêng – bếp lửa!

Tác giả – người cháu trong bài thơ như đã nhận ra một điều sâu xa rằng: Bếp lửa được bà nhen lên không chỉ bằng nhiên liệu mà chình là được nhóm lên tùa ngọn lửa trong lòng bà – ngọn lửa của sự sống, lòng yêu thương và niềm tin … Vì thế, khi bà “nhóm bếp lửa” cũng là lúc nhóm niềm yêu thương, bà truyền cho cháu tình ruột thịt nồng ấm, “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”, bà mở rộng tấm lòng đoàn kết, gắn bó với xóm làng, quê hương. Và cuối cùng, người bà kì diệu ấy “nhóm dậy”, “khơi dậy”, giáo dục, thức tỉnh tâm hồn và sức sống thanh xuân thơ ấu để đứa cháu khôn lớn nên người… để đứa cháu được đi xa, được thấy “ngọn khói trăm tàu” để có “lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”. Như thế, hình ảnh người bà không những biểu tượng cho người “nhóm lửa”, giữ lửa mà còn biểu tượng cho những người, lớp cha ông , truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, lòng yêu đời, niềm tin … cho các thế hệ nối tiếp. Ngôn ngữ dạt dào như sóng dội, lan tỏa như lửa ấm. Hay đây chính là cảm xúc dân trào, đang tỏa ấm của nhân vật người cháu, của nhà thơ? Mỗi câu thơ, mỗi chữ cứ hồng lên, nồng ấm biết bai tình cảm nhớ thương, ơn nghĩa. Đó là đạo lí cội nguồn của dân tộc Việt Nam chúng ta trong quan hệ gia đình, con đối với cha mẹ, cháu đối với ông bà, tổ tiên: “Ăn quả nhớ người trồng cây”, “Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm”

(Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo, Bình giảng văn học 9, NXB Giáo dục, 2005, tr.81 – 82)