Top 10 # Xem Nhiều Nhất Ngâm Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ “Quê Hương” Của Tế Hanh

Tế Hanh là một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới, thơ ông  thường mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết. Quê hương là nguồn cảm hứng dạt dào trong suốt cuộc đời thơ ông. Bởi vậy có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng khi xa quê”.

Trước hết, trong xa cách nhà thơ nhớ về quê hương. Cảnh vật quê hương được miêu tả với nỗi nhớ và tình yêu tha thiết. Khung cảnh làng quê hiện lên với một bức tranh lao động tươi sáng và đầy hứng khởi. Cuộc sống lao động của làng quê hiện lên qua cảnh đoàn thuyền đầy khí thế vượt Trường Giang lúc ra khơi và đông vui, no đủ, bình yên khi trở về.  Con người ở làng quê hiện lên với vẻ đẹp khỏe khoắn, vạm vỡ, mạnh mẽ. Đoàn thuyền xuất phát giữa cảnh bình minh trong sáng dịu mát và rực rỡ nắng mai hồng. Chiếc thuyền được so sánh với con tuấn mã cùng với các động từ, tính từ mạnh: “hăng, phăng, vượt” cho thấy khí thế mạnh mẽ, dũng mãnh băng mình vươn tới khi ra khơi. Hình ảnh so sánh, giàu ý nghĩa “cánh buồm – hồn làng” làm cho hình ảnh cánh buồm trở nên lớn lao, kì vĩ, thiêng liêng và rất thơ mộng. Nhà thơ chợt nhận ra cái linh hồn của làng chài quê hương trong hình ảnh cánh buồm. Cánh buồm được nhân hóa như một con người nó đang rướn cao thân mình thu hết gió của đại dương đẩy con thuyền đi nhanh hơn. Câu thơ đầu tả hình ảnh dân chài làn da ngăm đen vì nắng gió là tả thực, làm nổi bật một nét riêng của màu da dân biển. Câu thơ tiếp theo “ Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” mới là sáng tạo: Nước da ngăm nhuộm nắng, gió và  những chuyến đi xa của biển cả. Hình ảnh người dân chài vừa chân thực vừa lãng mạn với tầm vóc phi thường. Câu thơ đầu được tả chủ yếu qua thị giác, qua cái nhìn, quan sát của đôi mắt, câu sau mới là tả tâm hồn và cảm quan lãng mạn của nhà thơ. Nhớ quê hương là nhà thơ nhớ đến hình ảnh son thuyền, con thuyền như một cơ thể sống, nhận biết được chất muối của biển đang ngấm dần, lặn dần vào da thịt của mình. Hình ảnh con thuyền đồng nhất với cuộc sống của người dân làng chài. Hai câu thơ cho ta cảm nhận được một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và tình yêu sự gắn bó máu thịt với quê hương mình của nhà thơ Tế Hanh.

Đặc biệt, tình yêu quê hương được thể hiện trực tiếp qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ. Đó là nỗi nhớ luôn ăm ắp tràn đầy thường trực về một làng chài yêu dấu mà Tế Hanh mang theo trong suốt đời thơ của mìnhNỗi nhớ quê hương qua những hình ảnh quen thuộc: Tác giả nhớ về “Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi”, đó là những hình ảnh quen thuộc, gắn liền với người dân miền biển. Màu nước biển trong xanh nơi những con thuyền giương cánh buồm vôi trắng thâu góp gió rẽ ra biển khơi, tìm đến những mẻ cá bạc sau bao gian lao mưa nắng và hiểm nguy, vất vả.  Nỗi nhớ về khung cảnh sinh hoạt của người dân làng chài: ”. Đâu đó trong tiềm thức của nhà thơ, vẫn mường tượng ra cảnh sinh hoạt đánh bắt cá của người dân quê hương, họ đang ngày đêm ra khơi đánh bắt với sự hăng say và tinh thần yêu lao động, lái những con thuyền vươn ra biển cả, đương đầu với sóng gió và thử thách của đại dương mênh mông để rồi từ đó thu về những mẻ cá nặng trong niềm vui hân hoan . Nỗi niềm dâng trào trong cảm xúc của nhà thơ: Phải có sự gắn bó sâu sắc và tình yêu sâu đậm với ngôi làng chài này lắm, tác giả mới có những cảm nhận tinh tế, cách miêu tả đầy sống động và lãng mạn như thế. “Cái mùi nồng mặn” ấy chính là mùi của biển cả, của vị xa xăm nồng thở trong thân hình người dân trai tráng, của chất muối thấm trong thớ gỗ con thuyền.  Qua nỗi nhớ của tác giả bức tranh quê hương hiện lên thật tươi đẹp, khỏe khoắn, tràn đầy sức sống và mang những nét đặc trưng riêng biệt của một làng quê vùng biển không thể lẫn với bất kì một làng quê nào khác. Qua bức tranh ấy chúng ta cảm nhận được nỗi nhớ, niềm tự hào, sự gắn bó máu thịt và tình yêu quê hương tha thiết sâu nặng của chính nhà thơ.

  Kết bài:   Tóm lại, với giọng thơ  nhẹ nhàng, tha thiết ngôn ngữ thơ bình dị, gợi cảm, hình ảnh chọn lọc có những biện pháp tu từ đặc sắc. Cả bài thơ là khúc ca quê hương tươi sáng ngọt ngào, là sản phẩm của một hồn thơ trẻ trung, tha thiết, đầy thơ mộng.

Bình Giảng Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh

“Quê hương” của nhà thơ Tế Hanh là hành trình của một vị cố nhân vượt không gian và thời gian để tìm về với một thời xa cách. Quê hương âm vang trong hồn thơ của Tế Hanh một cách lấp lánh và trong trẻo khôn cùng. Bài thơ là một dòng tự sự dài song ngập tràn cảm xúc của một đứa con dành cho quê hương yêu dấu của mình.

Cái làng chài nghèo ở một cù lao trên sông Trà Bồng nước bao vây cách biển nửa ngày sông đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tế Hanh, đã trở thành nỗi nhớ da diết để ông viết nên những vần thơ thiết tha, lai láng. Trong dòng cảm xúc ấy, Quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ. Bài thơ là một dòng cảm xúc mạch lạc không thể ngắt quãng.

1. Cảnh con thuyền ra khơi

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:

Khổ thơ đầu bắt đầu với dòng tự sự, nhà thơ miêu tả chi tiết quê hương của ông – quê hương của những người chài lưới. Câu thơ như mang trong mình vị mặn của biển cả, oi nồng và nóng bức. Từ ý thơ miêu tả khái quát cảnh làng quê, nhà thơ hoài niệm về một thời đã xa trong tuổi thơ của chính mình:

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:

Khung cảnh thiên nhiên hiện lên đầy diễm lệ, trong xanh và ngọt mát. Cách ngắt nhịp của câu thơ như thể đang liệt kê, nhà thơ chỉ chọn những điểm nhấn quan trong nhất để miêu tả cảnh sinh hoạt đời thường của người dân làng quê. Trước mắt người đọc, buổi bình mình đầy trong trẻo hiện lên với đủ hương và sắc, bức tranh thủy mặc có ánh sáng, có gió mát được vẽ lên chỉ bằng một câu thơ. Trong thiên nhiên chan hòa, cuộc sống của ngư dân được lồng ghép vô cùng tinh tế, khơi trọn xúc cảm dạt dào đối với quê hương. 

Cách miêu tả trong thơ vô cùng hồn nhiên để giữ trọn vẹn cảm xúc của một người còn xa quê nay mong ngóng trở về. Tuổi thơ luôn là niềm cảm hứng dạt dào của các thi nhân:

Mỗi lần nắng mới hát bên song

Xao xác gà trưa gáy nào nùng

Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng

Chập chờn sống lại những ngày không.

(Nắng mới)

Và Tế Hanh không phải là một ngoại lệ.

Khổ thơ tiếp theo, nhịp thơ chuyển mình sôi động mạnh mẽ:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Giữa trời nước bao la nổi bật hình ảnh con thuyền hiên ngang, hăng hái, đầy sinh lực dưới bàn tay điều khiển thành thạo của dân trai tráng đang nhẹ lướt trên sóng qua hình ảnh so sánh như con tuấn mã. Đằng các từ ngữ sinh động, nhà thơ đã khắc hoạ tư thế kiêu hãnh chinh phục sông dài, biển rộng của người làng chài. Lời thơ như băng băng về phía trước, như rướn lên cao bao la cùng với con thuyền, với cánh buồm Tế Hanh đã cảm nhận cuộc sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó.

Những người ngư dân mang trong mình hồn của đất, tự hào của quê hương chinh phục biển cả bao la. Hình ảnh chính trong khổ thơ là hình ảnh con thuyền dũng mãnh, tượng trưng cho sức mạnh to lớn của người dân làng chài, họ sở hữu một ý chí kiên cường mà biển cả to lớn cũng không thể khuất phục được nó. Huy Cận đã từng viết:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng,

Ra đậu dặm xa dò bụng biển,

Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Những con thuyền tượng trưng cho hồn làng chài, mạnh mẽ và uy nghiêm, mang tâm thế làm chủ thiên nhiên.

2. Cảnh con thuyền trở về

Điều kì lạ là khi nhà thơ miêu tả về những chuyến ra khơi đánh cá, lại không có cảnh đánh cá. Khổ thơ tiếp theo không gian đột ngột chuyển hướng:

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ

Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Điều này chứng tỏ bài thơ được viết theo mạch cảm xúc, không cần có sự lô gich trong miêu tả, bản thân nhà thơ cũng không phải là một người đánh cá, đó là lí do nhà thơ bỏ qua cảnh tượng này, để bài thơ thật nhất với những gì mình đã trải qua và chứng kiến. Không khí vui tươi tràn ngập bài thơ, nhà thơ cảm nhận sự hồ khởi trong ánh mắt của mỗi người dân làng chài khi chứng kiến thành quả lao động của mình. Bên cạnh đó, câu thơ: “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe” phần nào thể hiện sự lo lắng của người thân của những người ngư dân. Bởi mỗi chuyến ra khơi là một lần chiến đầu với biển cả hung bạo luôn có những hiểm nguy, điều này làm nâng thêm niềm vui của mọi người. Ở đây chỉ có âm thanh ồn ào; chỉ có trạng thái tấp nập, nhưng rõ ràng là một không khí vui vẻ, rộn ràng, thoả mãn. Nhờ ơn trời như là tiếng reo vui, tiếng thở phào nhẹ nhõm cảm tạ thiền nhiên trời biển đã giúp đỡ. Phải con em làng chài mới thấy hết được niềm vui bình dị khi đón ghe đầy những con cá tươi ngon.

Nều những khổ thơ bên trên, nhà thơ chỉ miêu tả khái quát, thì ở khổ tiếp theo, ống kính đã được di chuyển gần hơn:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Đây có thể nói là khổ thơ hay nhất trong tác phẩm. Nhà thơ tựa như một nhà điêu khắc chuyên nghiệp, khắc họa hình ảnh người ngư dân chi tiết và chân thực nhất. Nhà thơ chỉ chọn hai chi tiết đó là làn da và hơi thở để miêu tả. hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc thì ngay câu thơ sau lại tả bằng một cảm nhận rất lãng mạn “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” – Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơi thở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la. Những người ngư dân mạnh mẽ được miêu tả như những đứa con của biển cả.

Con thuyền được miêu tả sau một cuộc hành trình gian khổ, lặng lẽ và im lặng. Tựa như những con người sau khi chinh phục tự nhiên lại trở về với dáng vẻ khiêm tốn thường ngày, không khoe khoang thành tích. Nhà thơ không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Cũng như dân chài, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe chất muối của đại dương đang thấm trong từng thớ vỏ của nó. Thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân

3. Nỗi nhớ quê hương da diết

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Mở đầu là hoài niệm và kết thúc bằng nỗi nhớ. Không cần phải sử dụng nhiều từ loại mạnh, chỉ một tính từ nhớ thôi cũng đủ để làm nổi bật nên xúc cảm của nhà thơ. Đỗ Trung Quân đã từng viết:

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương có ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.

Nỗi nhớ quê da diết khiến hồn thơ trở nên đằm thắm. Tế Hanh nhớ mùi nồng mặn – mùi của biển cả, của núi trời bao la, của những chiếc thuyền mệt mỏi trên bến đỗ, của một hồn quê rực rạo. Nỗi nhớ giản dị nhưng đủ tha thiết, câu thơ giản đơn nhưng đủ lắng đọng, như vậy là đủ cho một đứa con xa nhà, đang hoài niệm về “Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi”, những điều nhỏ bé đã làm nên một nhà thơ lớn.

“Quê hương” được viết khi nhà thơ mới 18 tuổi, câu thơ không có sự mĩ miều nhưng có đủ cảm xúc, đơn giản song đủ để truyền tải nỗi nhớ quê hương da diết, từ đó khơi gợi nỗi nhớ quê hương trong trái tim người đọc.

Thảo Nguyên

Phân Tích Bài Thơ Quê Hương ( Tế Hanh )

Bài thơ Quê Hương – Phân tích bài thơ Quê hương ( Tế Hanh )

Quê hương – bến đỗ bình yên nhất trong cuộc đời của mỗi con người .Dù có đi đâu xa,trôi dạt giữa dòng đời tấp nập thì sâu thẳm trái tim vẫn luôn mong ngóng và trở về quê hương. Với nhà thơ Tế Hanh cũng vậy, cũng dạt dào và cháy bỏng một tình yêu với nơi chôn rau cắt rốn. Để rồi bài thơ “Quê Hương” ra đời như là một sự tất yếu của tâm hồn giàu cảm xúc của một người con xa quê.

Đó là cảm giác nhớ nhung da diết và cháy bỏng của một chàng thanh niên 18 tuổi .Nỗi nhớ cái mùi nồng mặn của biển khơi.Cái vị mặn đặc trưng đó đã theo nhà thơ suốt cả cuộc đời.

Mở đầu bài thơ ,ngay ở dưới nhan đề,Tế Hanh đã vô cùng khéo léo khi thêm vào một câu đề từ trích dẫn:

“Chim bay dọc biển mang tin cá.”

Một hình ảnh hiện lên thật đẹp và nên thơ, giữa một vùng biển bao la và rộng lớn ấy xuất hiện những cánh chim bay lượn. Khung cảnh vùng quê vẽ ra trước mắt chúng ta thật yên bình.Tuy nhiên giá trị mà câu đề từ nhà thơ trích vào đây không phải nằm ở hình ảnh  mà là ý nghĩa vô cùng đặc biệt  ẩn đằng sau đó.

Ở đây nhà thơ đang nhắc tới một kinh nghiệm ngàn đời của những người ngư dân. Nhìn đàn chim bay lượn để dự đoán thời tiết. Biển động hay sóng êm để người dân xem xét trước lúc ra khơi. Nếu như những cánh chim ấy thong dong bay lượn thì ngư dân có thể yên tâm ra khơi. Còn nếu cánh chim bay vội vã thì có thể ngoài kia biển đang động,sóng to gió lớn,người đi biển phải hết sức cẩn thận và lưu tâm.

Sự hiểu biết cụ thể và tường tận như vậy chỉ có thể là người sinh ra từ vùng biển, gắn bó với biển khơi. Bởi vì gắn bó như vậy nên khi đi xa những hình ảnh vô cùng thân quen ấy bỗng ùa về,trỗi dậy như đang hiện lên trước mắt nhà thơ. Ông giới thiệu về quê hương của ông bằng hai câu vô cùng ngắn gọn:

“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới. Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.”

“Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm dương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.”

Khởi đầu cho một ngày mới là hình ảnh ra khơi của những con thuyền,của những thanh niên “trai tráng”. Một ngày mưu sinh,lênh đênh giữa biển khơi đã bắt đầu.

Bởi vậy chúng phải thật bền và chắc chắn để “phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”. Còn những cánh buồm cũng góp mặt trong buổi sáng tươi vui và nhộn nhịp ấy bằng hành động “rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.

Một hình ảnh thật đẹp và giàu ý nghĩa cánh buồm như biểu tượng của làng chài. Nó thâu góp gió biển để thuyền rẽ sóng ra khơi nhưng nó cũng thâu góp những hy vọng. Những mong ước của bà con ngư dân về một chuyến ra khơi bội thu với khoang đầy tôm,cá. Vậy lúc những chiếc thuyền trở về thì sao.Có chở đầy những hy vọng của bà con làng chài nơi vùng sông nước này không:

“Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.”

Không khí của bến đỗ buổi sáng ngày hôm sau thật tưng bừng,nhộn nhịp. Dân làng tập nấp ra đón những con thuyền trở về với khoang đầy cá tôm. Còn hạnh phúc nào lớn hơn khi nhìn thấy thành quả sau một ngày lao động vất vả.

Việc liên tục sử dụng những động từ “ồn ào ,tấp nập” càng làm nổi bật lên bức tranh của bến thuyền buổi sáng ,khung cảnh sống động như hiện lên trước mắt chúng ta. Cảnh vật nào cũng tươi mới ,hoạt động nào cũng vui tươi ,nhộn nhịp và rồi giữa sự tấp nấp đó nhịp thơ bỗng dưng sâu lắng khi nhà thơ viết: “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”.

Hân hoan trong niềm hạnh phúc người dân cũng không quên cảm ơn “Trời” đã mang cho họ có được thành quả như ngày hôm nay. Câu nói chứa chan bao nhiêu tình cảm ,thể hiện cách sống “sâu sắc như cơi đựng trầu” của những ngư dân hiền hòa,chất phác. Bởi chúng ta biết rằng đặc thù của công việc làm nông hay đánh cá phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết.  Sóng êm ,biển lặng thì con thuyền ra khơi mới được bình yên. Ở đây không phải là sự mê tín mà là một niềm tin, niềm tin đã hình thành từ ngàn đời và tất yếu trong suy nghĩ của những người dân làng chài.

Hình ảnh của những người lao động cũng hiện lên thật đẹp qua ngoài bút của nhà thơ. Họ mang những nét đặc trưng của người dân vùng biển với làn da ngăm rám nắng khỏe mạnh và rắn rỏi. Và đặc biệt nhất ở khổ thơ này là hình ảnh :”nồng thở vị xa xăm”. Một hình ảnh vô cùng trừu tượng và giàu liên tưởng. Vị xa xăm ấy hay chính là vị của biển khơi ,vị mặn mòi của muối, vị của đất trời,quê hương.

Qua hình ảnh những người ngư dân  nhà thơ cũng muốn ca ngợi lên vẻ đẹp của những người lao đông nói chung. Chỉ khi lao động con người ta mới có niềm hạnh phúc, lao động chính là vinh quang.

Nối tiếp những hình ảnh giàu chất thơ ấy là khung cảnh đầy thơ mộng của con thuyền sau một ngày lao động vất vả:

“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”.

“Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”

Chưa bao giờ nỗi nhớ lại dâng trào như lúc này đây. Cái cảm giác nhớ nhung và khắc khoải đó chỉ những người con xa quê mới hiểu. Ông nhớ từng chiếc thuyền,từng con cá ,nhớ màu nước biển xanh trong và nhớ cả những cánh buồm giương to ra khơi đánh cá. Nỗi niềm sâu kín ,nhớ thương đó nay chỉ chờ giấy phút nhìn thấy nơi xứ người hình ảnh một con thuyền ra khơi đã bỗng nhiên trỗi dậy,cuộn trào như từng lớp sóng.

Ở ngoài kia gió biển đang thổi,vậy sóng biển ở trong lòng người biết đến khi nào mới ngừng thổi đây. Sinh ra từ vùng biển ,gắn bó nơi chôn rau cắt rốn này. Để rồi cái vị mặn mòi của biển đã ăn sâu vào trong từng thớ thịt ,từng hơi thở. Khái niệm “mùi nồng mặn” tuy trừu tượng nhưng đối với tác giả nó gần gũi và thân thuộc biết bao.

Đối với nhà thơ Đỗ Trung Quân, quê hương có thể là  “chùm khế ngọt ,là cầu tre nhỏ” .Với Giang Nam là “những ngày trốn học, đuổi bướm cạnh bờ ao”. Thì với Tế Hanh, quê hương chính là “vị mặn nồng” của biển cả.

Cuộc đời mỗi chúng ta ai cũng có một quê hương để nhớ nhung,để trở về .Vì mưu sinh ,vì dòng đời xô đẩy những đứa con phải rời quê hương tới xứ người lao động. Nhưng lúc nào trong lòng họ nỗi nhớ quê vẫn luôn dâng đầy. Tế Hanh cũng chung cảm xúc xa quê đó.

Quê hương qua ngoài bút của ông hiện lên với những hình ảnh thật sinh động và tươi đẹp. Giọng văn ẩn chứa niềm tự hào và nỗi nhớ, là mong ngóng khát khao được trở về.

Giới thiệu tác giả Hương Miết Hành

Cảm Nhận Bài Thơ Quê Hương Của Tác Giả Tế Hanh

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người

(Quê hương-Đỗ Trung Quân)

Trong trái tim của mỗi con người,bao giờ chẳng có hình ảnh một quê hương-nơi mình đã sinh ra và lớn lên! Tình yêu quê hương là tình cảm thiêng liêng của con người và cũng là nguồn cảm hứng vô tận của văn chương nghệ thuật. Ở nhà thơ Tế Hanh,nguồn cảm hứng ấy đã chảy suốt đời thơ và ngay từ những vần thơ đầu tay của tuổi trẻ,hồn thơ Tế Hanh đã gắn bó với cuộc sống con người làng chài ven biển mà bài thơ “Quê hương” là sự mở đầu. Bài thơ được viết năm 1939,lúc nhà thơ là một cậu học sinh trung học mười tám tuổi xa quê.

Giữa lúc phần đông các thi sĩ Thơ Mới đang thở than sướt mướt với tình yêu tuyệt vọng,với mối sầu cô đơn,”quê hương” của Tế Hanh cất lên một tiếng nói khỏe khoắn khác lạ. Trong khi các thi sĩ đồng quê như Bàng Bá Lân,Đoàn Văn Cừ,Anh Thơ đưa người đọc đến với những làng thôn xứ Bắc yên ả,tươi vui với “cổng làng”,”chợ tết”,”đám hội”,”bến đò ngày mưa” với “trưa hè”,”chiều xuân”…Thì Tế Hanh lại nhớ về một làng quê làm nghề chài lưới ở miền Trung với cuộc sống lao động vất vả mà đầy chất thơ. Chính sự “lạc giọng” này khiến chúng ta càng chú ý nhiều hơn đến “quê hương” của Tế Hanh.

Gắn bó với quê hương,trước hết nhà thơ đã gắn bó với làng chài ven biển quê mình bằng cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

Nước bao vây cách biển nửa ngày sông

Một lời tự bạch đầy ngọt ngào sâu lắng về quê hương mình. “Vốn” là đã có từ lâu,đã làm nghề chài lưới từ lâu. Không yêu quê hương,không ngẩng cao đầu kiêu hãnh về quê hương thì sao Tế Hanh dám nói dứt khoát đến giản dị như thế về quê hương. Câu thơ thứ hai với những chữ “nước”,”biển”,”sông” gợi ra hình ảnh một miền quê làm nghề chài lưới gắn bó với sông nước,biển khơi. Khi nói về làng mình “cách biển nửa ngày sông”,nhà thơ đã dùng phép đo khoảng cách của người dân chài,một cách nói mộc mạc dân dã,bình dị.

Sáu câu mở đầu,cảm hứng như đã khơi nguồn,thi sĩ bắt đầu say sưa mô tả cảnh đẹp của quê hương:

Khi trời trong,gió nhẹ,sớm mai hồng

Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Dòng thơ cứ nhẹ nhàng tuôn chảy hình ảnh như tự nó thi nhau kéo đến,đẩy câu thơ đi liền một mạch theo dòng cảm xúc dào dạt. Ngọn bút của thi nhân chỉ điểm phớt qua vài nét mà cảnh vật như bừng sáng “trời trong,gió nhẹ,sớm mai hồng”. Một ngày lao động của dân chài được bắt đầu bằng buổi bình minh trong sáng,dịu mát và rực rỡ nắng mai. Trong không gian đầy sức sống ấy,những người dân chài cùng hăm hở lên đường “dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”. Niềm hăm hở của con người truyền sang cả “chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã”. Chiếc thuyền nhẹ lướt ra biển trong tư thế của một con “tuấn mã” khi những “trai tráng” vạm vỡ,khỏe mạnh,dẻo dai khua những nhịp chèo hối hả,say mê. Đẹp một cách kiêu hãnh,phóng khoáng,con thuyền được so sánh với con tuấn mã tung vó chinh phục những dặm đường thiên lí thật độc đáo. Cảnh sớm mai ở làng chài hiện lên đầy vẻ rạng rỡ,huy hoàng:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

Cánh buồm là vật hữu hình và gần gũi,được so sánh với “mảnh hồn làng”. Đối với Tế Hanh,cánh buồm mỏng manh như mảnh “hồn làng” nhưng nó mở rộng “bao la” vì đó là tâm hồn rộng mở của quê hương. Thi sĩ dùng ba chữ “mảnh hồn làng” để gợi ra linh hồn của làng chài. Cánh buồm mang theo bao hi vọng và lo toan của người dân chài trong cuộc sống mưu sinh trên sông nước. Tế Hanh nhìn thấy trong cánh buồm có cả niềm tự hào,kiêu hãnh và sức mạnh của người dân trong cuộc chinh phục biển khơi. Cánh buồm trắng như rướn lên,thâu góp gió trời để bay vào cùng bao la,bát ngát của không gian. Những hình ảnh thơ đầy lãng mạn,bay bổng, vừa diễn tả khí thế mạnh mẽ và khát vọng chinh phục thiên nhiên của người dân chài,vừa thể hiện tình yêu mến thiết tha và niềm tự hào của thi sĩ về cuộc sống,về con người quê hương.

Không chỉ vậy,tình cảm gắn bó với quê hương của nhà thơ còn là niềm trân trọng,yêu mến con người lao động tràn trề sức lực:

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.

Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về được tả thực đến từng chi tiết,từ hình ảnh đến âm thanh,màu sắc. Nhà thơ sung sướng biết bao được nhìn thấy cảnh “dân làng tấp nập đón ghe về”. Trong bao nhiêu âm thanh “ồn ào trên bến đỗ”,nhà thơ nâng niu ghi lại một câu nói mộc mạc của người dân chài: “Nhờ ơn trời,biển lặng cá đầy ghe”. Đó là lời cảm tạ rất chân thành cất lên hồn nhiên,chất phác của người lao động. Nghề chài lưới dãi đầu giữa biển khơi,ai biết bao nhiêu bất trắc,nguy hiểm về bão tố sẽ xảy ra. Vì thế người dân chài không phải không tin vào chính mình,nhưng họ vẫn phải trông cậy vào thiên nhiên. Người đọc bỗng cảm thấy một niềm hạnh phúc dâng lên và lan tỏa trong dòng thơ:

Nhờ ơn trời,biển lặng cá đầy ghe

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Nhà thơ say mê ngắm nhìn và ngưỡng mộ trước vẻ đẹp của những chàng trai:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Đó là vẻ đẹp khỏe khoắn,vừa rất thực vừa lãng mạn. Đặc tả nước da đặc trưng của chàng trai quanh năm vật lộn với sóng nước biển khơi đầy nắng gió. Hình ảnh đẹp,nồng ấm sự sống bởi “cả thân hình nồng thở vị xa xăm”. Nhà thơ đã thi vị hóa một hiện tượng bình thường trong đời thực: nước biển mặn ngấm vào da thịt người dân chài tạo thành mùi vị riêng trên cơ thể họ,gợi ra hình ảnh vô cùng lãng mạn. Và con thuyền được hình dung như một cơ thể sống cũng mệt mỏi,nằm “im” trên bến,lặng lẽ cảm nhận vị mặn mòi của biển ngấm vào xương tủy:

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Trong câu thơ nhân hóa con thuyền,Tế Hanh đã phối hợp tài tình hai hiện tượng: nước biển mặn ngấm sâu vào vỏ gỗ của con thuyền ngấm nước lâu ngày,tiếng tí tách rạn nứt của lòng thuyền ngấm mặn khi phơi mình trên cát. Chất muối mặn mòi “thấm dần trong thớ vỏ” chiếc thuyền hay đã ngấm sâu vào làn da,thớ thịt,vào tâm hồn nhà thơ với bao bâng khuâng,kì diệu? Không phải người con của làng chài chắc chắn nhà thơ không thể viết được những câu thơ có sức nặng như thế!

Phần cuối là nỗi nhớ quê hương:

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh,cá bạc,chiếc buồm vôi…

Nỗi nhớ thiết tha trong xa cách bật ra thành bài thơ giản dị,tự nhiên như một lời nói từ đáy lòng: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!”. Cậu học trò xa quê nhớ về làng quê mình là nhớ màu “xanh” của nước,màu “bạc” của cá,màu “trắng” của chiếc buồm vôi,nhớ hình ảnh “những con thuyền rẽ sóng ra khơi”,nhưng nhớ nhất là cái “mùi nồng mặn” đặc trưng của quê hương. Với Tế Hanh,cái mùi ấy chính là hương vị đầy quyến rũ của quê hương,là chất thơ bình dị và khỏe khoắn toát lên từ bức tranh thiên nhiên tươi sáng,thơ mộng và hùng tráng của làng chài thân thuộc.

Tưởng nhớ quê hương trong xa cách trở thành một dòng cảm xúc chảy dọc đời thơ Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một cù lao trên sông Trà Bồng “nước bao vây,cách biển nửa ngày sông” đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ ông,đã trở thành một điểm hướng về để ông viết nên những vần thơ thiết tha,đau đáu. Trong dòng cảm xúc ấy,”quê hương” là thành công khởi đầu rực rỡ. Bài thơ mang âm hưởng khỏe khoắn,toát lên tình cảm đậm đà,trong sáng của chàng thi sĩ Tế Hanh ở độ hoa niên giữa lúc bầu trời thơ xung quanh đang vương màu ảm đạm.