Top 12 # Xem Nhiều Nhất Nêu Nội Dung Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Về Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà / 2023

(1)

– Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì “không ít học giả nổi tiếng trong công trình khoa học của mình vẫn khẳng định: bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt” như Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử …

– Tuy nhiên Giáo sư Hà Văn Tấn đã đặt lại vấn đề rằng “không có một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả”

– Tác giả Viên Như cho rằng Nam Quốc Sơn Hà là tác phẩm của Thiền sư Không Lộ (1016 – 1094) sau khi “đặc biệt tìm hiểu về bài Ngôn Hoài từ đó đem so sánh với bài NQSH để thấy những mối tương đồng giữa hai bài thơ”

(2)

– Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì tác giả Bùi Duy Tân “đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học để khẳng định bài thơ Nam quốc sơn hà là khuyết danh, không phải của Lý Thường Kiệt”

(3)

– Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà có từ bao giờ của tác giả Đinh Ngọc Thu. Tác giả dựa vào 2 chữ Thiên Thư mà cho rằng “bài thơ trên chỉ có thể xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt đánh Tống bên sông Như Nguyệt đầu năm 1077 mà thôi”.

– Bàn về hai chữ “Thiên thư” trong bài Nam quốc sơn hà của tác giả Lê Văn Quán.

– Cần dịch lại bài thơ Nam quốc sơn hà của tác giả Nguyễn Hùng Vĩ

– Bàn lại cách dịch bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng

– Vài điều cần trao đổi thêm về bài Nam Quốc Sơn Hà của tác giả Nguyễn Khắc Phi

– Phát hiện tiền thân bài “Nam quốc sơn hà” của ký giả Vũ Kim Biên

– Và còn rất nhiều nữa (xin xem một phần trong hình 2)

(4)

– Bộ chính sử thời Lê là Đại Việt sử kí toàn thư chép bài thơ tại mục năm bính thìn (1076)

– Lĩnh Nam chích quái chép bài thơ trong truyện Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện

– Việt điện u linh chép bài thơ trong truyện Trương Hống Trương Hát (Khước địch thiên hựu trợ thuận đại vương, Uy địch dũng cảm hiển thắng đại vương)

4.2 Bài thơ thời Lê Đại Hành

Tác giả Nguyễn Thị Oanh nhận định rằng “Theo chúng tôi, có thể ban đầu VĐUL đã chép truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát gắn với vua Lê Đại Hành và công cuộc chống giặc Tống xâm lược theo đúng hào khí lịch sử thời bấy giờ, nhưng về sau do quan điểm Nho giáo, coi trọng chính thống như đã phân tích trên, người biên soạn có thể đã thay đổi nội dung của truyền thuyết. Khi đã thay đổi nội dung của truyền thuyết, thì bài thơ vốn có trong truyền thuyết sẽ gắn cho nhân vật lịch sử nào ? Không phải vua Ngô Nam Tấn bởi vua Nam Tấn không đánh giặc ngoại xâm. Lý Thường Kiệt, vị anh hùng dân tộc đã đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt có lẽ là người xứng đáng nhất để thần hiển hiện đọc bài thơ cổ vũ binh sĩ”

4.3 Bàn luận

– 1 là Việt điện u linh có các dị bản ít thay đổi, như chính tác giả đã thừa nhận “các dị bản của sách VĐUL, chúng tôi thấy không có sự khác nhau giữa chúng”

– 2 là Lĩnh Nam chích quái có các dị bản rất khác nhau, cụ thể: bản A.2914 cho biết ae họ Trương là ng thời Ngô, ko qui thuận họ Đinh, nên phải uống thuốc độc tự tử; trong khi bản A.33 lại cho biết ae họ Trương là bộ tướng của Triệu Việt Vương, ko qui thuận Lí Nam Đế, nên phải uống thuốc độc tự tử

* So sánh cốt truyện của Việt điện u linh và 2 bản của Lĩnh Nam chích quái thì ng viết xếp làm 3 nhóm:

+ Nhóm 1 là Việt điện u linh: ae họ Trương là bộ tướng của Triệu Việt Vương, bị Lí Nam Đế ép chết, sau hiển linh giúp Ngô vương Quyền và Nam Tấn vương Ngô Xương Văn

+ Nhóm 2 là Lĩnh Nam chích quái 3: ae họ Trương là bộ tướng của Triệu Việt Vương, bị Lí Nam Đế ép chết, sau hiển linh giúp Đại Hành hoàng đế Lê Hoàn

+ Nhóm 3 là Lĩnh Nam chích quái 4: ae họ Trương là bộ tướng của Ngô vương Quyền, bị Đinh Tiên Hoàng ép chết, sau hiển linh giúp Đại Hành hoàng đế Lê Hoàn

– 4 là chúng ta thấy nhóm 1 có đầy đủ các yếu tố để tạo nên nhóm 2 và nhóm 3, cụ thể với yếu tố thân thế là bộ tướng của Triệu Việt vương thì nhóm 1 có thể kiến tạo nên nhóm 2 và với yếu tố hiển linh giúp Ngô vương Quyền thì nhóm 1 có thể kiến tạo nên nhóm 3; Nhưng chỉ từ nhóm 2 hoặc nhóm 3 riêng lẻ ko đủ yếu tố để kiến tạo nên nhóm 1, cụ thể nhóm 2 thiếu yếu tố Ngô vương Quyền, trong khi nhóm 3 thiếu yếu tố Triệu Việt vương.

(nôm na như kiểu Lão Ngoan Đồng chia bộ Cửu âm chân kinh làm quyển thượng và quyện hạ)

– 5 là Việt điện u linh cho thấy nó được soạn dựa trên 1 tài liệu cổ hơn nó là Sử kí của Đỗ Thiện, chỗ này ng viết xin dẫn lời nhận xét của dịch giả Lê Hữu Mục (để cho khách quan) như sau “Lý Tế Xuyên cho ta biết rõ ràng rằng chuyện Sĩ Nhiếp của ông là do hai nguồn tài liệu tạo nên; sự thẳng thắn ấy làm cho chúng ta không hoài nghi sự trung thực của ông (…) Chính giáo sư Durand rất khe khắt với Lý Tế Xuyên cũng đã công nhận bản văn của tác giả là bản Ngô Chí được sao lại và biến chế thay đổi đi, như thế ta có thể thẳng thắn công nhận rằng Lý Tế Xuyên đã sáng tác trong khuôn khổ của bản Ngô Chí, đã triệt để tôn trọng tài liệu và chỉ thêm bớt khi nào cảm thấy cần thiết”.

+ rõ ràng sự trung thực của tác giả sách Việt điện u linh được đánh giá rất cao

+ và sách ấy lại dẫn 1 tài liệu sử, có trước đó, thì hẳn là mọi sự đã rõ

* Như vậy chúng ta có thể khẳng định: ae họ Trương được cho là bộ tướng của Triệu Việt Vương và bị Lí Nam Đế ép chết, sau hiển linh giúp Ngô Tiên Chúa và Nam Tấn Vương.

4.4 Tồn nghi

– Lại thêm, nhiều tác giả cho rằng Đỗ Thiện làm quan cuối triều Nhân Tông và đầu triều Thần Tông, nếu đúng thì về mặt thời gian, ko có mâu thuẫn.

* Với tất cả những điểm đã bàn ở trên thì rõ ràng ghi chép của Việt điện u linh là đáng tin cậy hơn Lĩnh Nam chích quái và hẳn nhiên giả thuyết bài thơ Nam Quốc Sơn Hà gắn với cuộc kháng chiến chống Tống bên bờ sông Như Nguyệt là xác tín hơn.

– Tuy nhiên ở trên chúng ta mới chỉ đang bàn xem giữa Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái thì sách nào ghi chép đáng tin cậy hơn, chứ chưa bàn tới việc liệu rằng ghi chép của Sử kí có đáng tin cậy hay ko, nói cách khác bài thơ Nam Quốc Sơn Hà gắn với cuộc kháng Tống của Thường Kiệt là đáng tin hơn đấy, nhưng đã phải là sự thực chưa ?

* Người viết xin dẫn 1 bài thơ của Tập Hiền Học Sĩ Hà Đông Tống Bột được Lê Tắc chép trong An Nam chí lược như sau:

Bể Nam người Việt tự làm ăn (Sông núi nước Nam vua Nam ở)

Vốn chẳng phiền chi đến sứ thần (Sách trời định phận đã rõ ràng)

Linh thú hai ban đều bãi bỏ (Cớ sao giặc dữ dám xâm phạm)

Hán triều nhân hậu có vua Văn (Chờ đấy loài bây sẽ nát tan)

(hí hí, những bài kiểu này, mọi ng thông cảm, muốn kết lắm, mà ko kết nổi, nhân chuyện thơ văn, bữa sau em nói chuyện nguồn gốc thơ lục bát để hầu các bác)

Soạn Bài : Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà) / 2023

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn (bảy chữ) tứ tuyệt (bốn câu), một trong hai thể thơ rất phổ biến đời Đường (thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú), được du nhập sang nước ta và cũng trở thành một thể thơ phổ biến của văn học trung đại. Quy định về thanh điệu, vần luật trong thơ thất ngôn tứ tuyệt rất chặt chẽ, tuy nhiên chỉ cần lưu ý sự hiệp vần ở chữ thứ bảy trong các câu 1, 2 và 4 (cũng có khi chỉ cần hiệp vần ở chữ thứ bảy trong câu 2 và 4). Trong bài thơ này, vần “ư” được hiệp ở cả ba câu 1, 2 và 4).

1. Nhận dạng thể thơ của bài Namquốc sơn hà về số câu, số chữ trong câu, cách hiệp vần.

: Kiểm tra xem bài thơ (phần phiên âm) gồm mấy câu, mỗi câu gồm bao nhiêu chữ? Vần trong các từ cuối của các câu 1, 2, 4 có gì giống nhau?

2. Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy. Tuyên ngôn Độc lập trong bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện ở các khía cạnh:

– Tác giả khẳng định nước Nam là của người Nam. Đó là điều đã được ghi tại “thiên thư” (sách trời). Tác giả viện đến thiên thư vì ngày xưa người ta vẫn còn coi trời là đấng tối cao. Người Trung Quốc cổ đại tự coi mình là trung tâm củavũ trụ nên vua của họ được gọi là “đế”, các nước chư hầu nhỏ hơn bị họ coi là “vương” (vua của những vùng đất nhỏ). Trong bài thơ này, tác giả đã cố ý dùng từ “Nam đế” (vua nước Nam) để hàm ý sánh ngang với “đế” của nước Trung Hoa rộng lớn.

– Ý nghĩa tuyên ngôn còn thể hiện ở lờ khẳng định chắc chắn rằng nếu kẻ thù vi phạm vào quyền tự chủ ấy của nước ta thì chúng thế nào cũng sẽ phải chuốc lấy bại vong.

3. Bài thơ triển khai nội dung biểu ý theo bố cục: ở hai câu thơ đầu, tác giả đã khẳng định một cách tuyệt đối chủ quyền lãnh thổ với một thái độ của một dân tộc luôn trân trọng chính nghĩa. Từ khẳng định chân lí, đến câu thơ cuối, tác giả đã dựa ngay trên cái chân lí ấy mà đưa ra một lời tuyên bố chắc chắn về quyết tâm chống lại những kẻ làm trái những điều chính nghĩa.

Bố cục của bài thơ như thế là chặt chẽ, khiến cho những luận cứ đưa ra đều rất thuyết phục.

4. Bài thơ tuy chủ yếu thiên về biểu ý song không phải vì thế mà trở thành một bài luận lí khô khan. Có thể nhận thấy rằng, sau cái tư tưởng độc lập chủ quyền đầy kiên quyết ấy là một cảm xúc mãnh liệt ẩn kín bên trong. Nếu không có tình cảm mãnh liệt thì chắc chắn không thể viết được những câu thơ đầy chí khí như vậy.

5. Qua các cụm từ tiệt nhiên (rõ ràng, dứt khoát như thế, không thể khác), định phận tại thiên thư (định phận tại sách trời) và hành khan thủ bại hư (chắc chắn sẽ nhận lấy thất bại), chúng ta có thể nhận thấy cảm hứng triết luận của bàI thơ đã được thể hiện bằng một giọng điệu hào sảng, đanh thép, đầy uy lực.

Khác với thơ hiện đại thường thiên về miêu tả cảm xúc, thơ trung đại chủ yếu là thơ tỏ ý, tỏ lòng, thiên về miêu tả thái độ, ý chí của cộng đồng dân tộc. Bởi vậy, đối với bài thơ này cần đọc bằng giọng mạnh mẽ, dứt khoát, chú ý ngắt theo nhịp 4/3, nhấn mạnh cuối mỗi nhịp.

2. Có bạn thắc mắc tại sao không nó là “Nam nhân cư” (người Namở) mà lại nói “Nam đế cư” (vua Namở). Hãy giải thích để bạn kia được rõ.

: Như trên đã nói, người xưa coi trời là đấng tối cao và chỉ có vua (Thiên tử – con trời) mới có quyền định đoạt mọi việc ở trần gian. Tất cả mọi thứ có trên mặt đất đều là của vua. Hơn thế nữa, nói Nam đế cư là có hàm ý nói rằng vua của nước Nam cũng là Thiên tử chứ không phải là một ông “vua nhỏ” dưới quyền cai quản của Hoàng đế Trung Hoa

Tìm Hiểu Bài Nam Quốc Sơn Hà / 2023

Bài thơ được viết theo thể thất ngôn (bảy chữ) tứ tuyệt (bốn câu), một trong hai thể thơ rất phổ biến đời Đường (thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú), được du nhập sang nước ta và cũng trở thành một thể thơ phổ biến của văn học trung đại.

Quy định về thanh điệu, vần luật trong thơ thất ngôn tứ tuyệt rất chặt chẽ, tuy nhiên chỉ cần lưu ý sự hiệp vần ở chữ thứ bảy trong các câu 1, 2 và 4 (cũng có khi chỉ cần hiệp vần ở chữ thứ bảy trong câu 2 và 4). Trong bài thơ này, vần “ư” được hiệp ở cả ba câu 1, 2 và 4).

1. Nhận dạng thể thơ của bài Nam quốc sơn hà về số câu, số chữ trong câu, cách hiệp vần.

Gợi ý: Kiểm tra xem bài thơ (phần phiên âm) gồm mấy câu, mỗi câu gồm bao nhiêu chữ? Vần trong các từ cuối của các câu 1, 2, 4 có gì giống nhau?

2. Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy. Tuyên ngôn Độc lập trong bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện ở các khía cạnh:

– Tác giả khẳng định nước Nam là của người Nam. Đó là điều đã được ghi tại “thiên thư” (sách trời). Tác giả viện đến thiên thư vì ngày xưa người ta vẫn còn coi trời là đấng tối cao. Người Trung Quốc cổ đại tự coi mình là trung tâm của vũ trụ nên vua của họ được gọi là “đế”, các nước chư hầu nhỏ hơn bị họ coi là “vương” (vua của những vùng đất nhỏ). Trong bài thơ này, tác giả đã cố ý dùng từ “Nam đế” (vua nước Nam) để hàm ý sánh ngang với “đế” của nước Trung Hoa rộng lớn.

– Ý nghĩa tuyên ngôn còn thể hiện ở lờ khẳng định chắc chắn rằng nếu kẻ thù vi phạm vào quyền tự chủ ấy của nước ta thì chúng thế nào cũng sẽ phải chuốc lấy bại vong.

3. Bài thơ triển khai nội dung biểu ý theo bố cục: ở hai câu thơ đầu, tác giả đã khẳng định một cách tuyệt đối chủ quyền lãnh thổ với một thái độ của một dân tộc luôn trân trọng chính nghĩa. Từ khẳng định chân lí, đến câu thơ cuối, tác giả đã dựa ngay trên cái chân lí ấy mà đưa ra một lời tuyên bố chắc chắn về quyết tâm chống lại những kẻ làm trái những điều chính nghĩa.

Bố cục của bài thơ như thế là chặt chẽ, khiến cho những luận cứ đưa ra đều rất thuyết phục.

4. Bài thơ tuy chủ yếu thiên về biểu ý song không phải vì thế mà trở thành một bài luận lí khô khan. Có thể nhận thấy rằng, sau cái tư tưởng độc lập chủ quyền đầy kiên quyết ấy là một cảm xúc mãnh liệt ẩn kín bên trong. Nếu không có tình cảm mãnh liệt thì chắc chắn không thể viết được những câu thơ đầy chí khí như vậy.

5. Qua các cụm từ tiệt nhiên (rõ ràng, dứt khoát như thế, không thể khác), định phận tại thiên thư (định phận tại sách trời) và hành khan thủ bại hư (chắc chắn sẽ nhận lấy thất bại), chúng ta có thể nhận thấy cảm hứng triết luận của bàI thơ đã được thể hiện bằng một giọng điệu hào sảng, đanh thép, đầy uy lực.

Khác với thơ hiện đại thường thiên về miêu tả cảm xúc, thơ trung đại chủ yếu là thơ tỏ ý, tỏ lòng, thiên về miêu tả thái độ, ý chí của cộng đồng dân tộc. Bởi vậy, đối với bài thơ này cần đọc bằng giọng mạnh mẽ, dứt khoát, chú ý ngắt theo nhịp 4/3, nhấn mạnh cuối mỗi nhịp.

2. Có bạn thắc mắc tại sao không nói là “Nam nhân cư” (người Nam ở) mà lại nói “Nam đế cư” (vua Nam ở). Hãy giải thích để bạn kia được rõ.

Gợi ý: Như trên đã nói, người xưa coi trời là đấng tối cao và chỉ có vua (Thiên tử – con trời) mới có quyền định đoạt mọi việc ở trần gian. Tất cả mọi thứ có trên mặt đất đều là của vua. Hơn thế nữa, nói Nam đế cư là có hàm ý nói rằng vua của nước Nam cũng là Thiên tử chứ không phải là một ông “vua nhỏ” dưới quyền cai quản của Hoàng đế Trung Hoa.

Thử Dịch Lại Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà / 2023

I. Lời mở

1. Lâu nay khi đọc những bản dịch thơ “Nam quốc sơn hà” ta thấy ít có bản dịch nào thật hay, đến độ tín, đạt, nhã. Ngay cả bản dịch được xem là khá đạt như bản của cụ Trần Trọng Kim (hay là Hoàng Xuân Hãn?) cũng còn nhiều chỗ phải bàn thêm. (Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời! – Bản dịch này có chỗ ghi Trần Trọng Kim, có chỗ ghi Hoàng Xuân Hãn?). Rồi trong cả những bản dịch của các bậc thức giả, các vị quảng bác uyên thâm Hán Nôm như Nguyễn Đổng Chi, Ngô Linh Ngọc, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đăng Thục, Lê Thước, Nam Trân… vẫn còn nhiều chuyện cần trao đổi lại. Như chữ và nghĩa, ý và lời, vần luật và giọng điệu. Sự khác biệt (nếu không muốn nói là sai biệt) ở đây đôi khi lại rất xa.

Đặc biệt gần đây, bản dịch của hai cụ Lê Thước, Nam Trân được đưa vào SGK Văn 7 đã gây nên một cuộc tranh luận chưa có hồi kết. Bởi thế chúng tôi cho rằng, việc dịch lại “Nam quốc sơn hà”, ngõ hầu tìm ra được bản dịch hay, theo tiêu chuẩn tín, đạt, nhã là một việc làm rất cần thiết.

2. Theo nhiều người tìm hiểu và nghiên cứu thì “Nam quốc sơn hà” có khoảng 35 dị bản. Việc xác định đâu là bản nguyên tác (hoặc gần với bản nguyên tác) là điều thiết yếu và vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, về thời điểm ra đời của áng thơ bất hủ này cũng còn nhiều điều chưa thật thống nhất. Những tồn nghi, tranh luận về tác phẩm, tác giả rất cần sự tham gia của những nhà chuyên môn, những người làm công tác nghiên cứu văn chương trung đại, các nhà sử học, đặng làm sáng tỏ thêm, xác tín thêm giá trị của kiệt tác “Nam quốc sơn hà”.

Những người dịch thơ xưa nay, dù đạt hay chưa đạt đến độ hay của bản chữ Hán, thường coi bản hiện hành là chuẩn. Trong khi chờ đợi khảo cứu văn bản để đi đến một sự thống nhất chung, chúng tôi xin lấy bản chữ Hán trong Châu bản triều Nguyễn làm bản gốc. Bởi lẽ, xét trên nhiều bình diện, bản này được xem là có nhiều ưu điểm nhất (từ câu chữ đến ý tứ và giọng điệu đều hợp cách và hay).

Trong bài viết này, chúng tôi không bàn đến tác giả, cũng như không bàn đến những dị bản khác (Phiên âm Hán Việt – Châu bản triều Nguyễn: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên phân định tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”).

II. Đôi điều về một số bản dịch thơ

1. Trước hết, chúng ta khẳng định những bản dịch thơ ra tiếng Việt dùng chữ “đế” (Nam đế) như trong bản chữ Hán được coi là chuẩn nhất. Nó nói đúng ý của tác giả bài thơ. Người xưa dùng “Nam đế” là để đối sánh với “Bắc đế”. Dùng chữ đế với nghĩa là hoàng đế, là vua nước lớn thể hiện đúng và hay tinh thần tự chủ, tự cường của dân tộc ta từ thời dựng nước độc lập (sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc). Chữ “Nam đế” thấm đầy tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc của cha ông ta. Tinh thần ấy sau này lại được Nguyễn Trãi khẳng định đầy kiêu hãnh trong “Bình Ngô đại cáo”: “Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên làm đế một phương”

– Trước đây dịch “mỗi bên hùng cứ một phương”. Và gần hơn là trong tinh thần của thời đại Tây Sơn với Hoàng đế Quang Trung vĩ đại .

2. Đương nhiên, trong một số bản dịch thơ, nhiều dịch giả dùng chữ “vua/ vương” để dịch chữ “đế” (trong Nam đế) cũng được coi là hợp lý. Song, có ý kiến cho rằng, chữ “đế” (trong “hoàng đế”) cao hơn chữ vương/ vua. Bởi vì, “đế” là vua nước lớn (phân biệt với “vương” là vua nước nhỏ hoặc vua chư hầu). Cho nên dịch “Nam đế” là “vua nước Nam/ vua Nam” cũng chưa thật sát nghĩa, đúng nghĩa của tác giả trong bản Hán văn (tạm gọi là nguyên tác như đã xác định ở phần trước).

Ví như câu thơ dịch “Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự” (Ngô Linh Ngọc), hay câu “Sông núi nước Nam, Nam đế chủ” (Bùi Văn Nguyên), tuy giữ được chữ “đế” nhưng chữ “ngự” dù có hợp nghĩa khi đi với chữ “đế” lại vẫn mất vần luật. Vần bằng trong nguyên tác đã đổi ra vần trắc. Đó là chưa nói dùng vần trắc ở đây làm nhẹ đi, yếu đi chất hùng văn đĩnh đạc, đàng hoàng đầy hào khí vốn có trong giọng thơ của câu mở đầu. Vần bằng (cư) cao (phù bình) vang ngân xa. Vần trắc (ngự, chủ) thấp, khép, ngắn.

Ở câu thơ thứ 2 “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (hay “Tiệt nhiên phân định tại thiên thư”?), trong nhiều bản dịch thơ ngỡ như không phải bàn thêm vì ngữ nghĩa lời thơ khá rõ. Dẫu thế, theo thiển nghĩ của chúng tôi, có hai điểm cần tham chiếu sâu hơn.

Thứ nhất là hai chữ “tiệt nhiên”. Các bản dịch phần lớn là theo nghĩa: rõ ràng, hoàn toàn, phân biệt đâu ra đấy, nên thường dịch là “rành rành” (hay “Rõ/ hiển nhiên/ vằng vặc/…). Dịch như thế cũng coi là hợp lý. Tuy nhiên, theo chúng tôi, ở câu thơ này ý nghĩa sâu xa của nguyên tác nằm trong 4 chữ “tiệt nhiên” và “thiên thư”. Bốn chữ này có thể coi là “nhãn tự” (chữ mắt/ mắt chữ) mà không sợ nói quá lên. Hiểu thế, ta sẽ thấy ý nghĩa tư tưởng lớn lao của bài thơ hội tụ ở câu thơ này. Bởi lẽ, hai chữ “tiệt nhiên” theo “Hán – Việt từ điển” của cụ Đào Duy Anh có nghĩa là: “Đạo lý chính đáng, không di dịch được”. Như vậy, câu thơ nguyên tác toát lên vẻ đẹp của tư tưởng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” như một nguyên lý, một chân lý. Đạo lý chính đáng ấy đã được “phân định ở sách Trời”, không di dịch được, “không ai chối cãi được” (mượn chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Khi ấy ta có thể khẳng định “Nam quốc sơn hà” là áng “thiên cổ hùng thi”, là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Đại Việt ta là hay, là chính xác và đầy sức thuyết phục. Đã là “phân định tại Thiên thư” thì dẫu là “thiên tử” (con trời) thì cũng không “cãi” được Trời và sách Trời.

3. Câu 3 và câu 4, từ ngôn ngữ, ý nghĩa đến tư tưởng đều được biểu hiện khá rõ ràng, minh bạch. Hai chữ “nghịch lỗ” dịch là: nghịch tặc hay lũ giặc, giặc dữ… đều hợp lý, chấp nhận được. Tất nhiên, chữ “nghịch tặc” (từ Hán – Việt) hàm nghĩa là bọn giặc, lũ giặc làm trái, làm ngược với đạo lý chính đáng (ở câu trên), trái với “Thiên thư” (sách Trời) càng làm rõ thêm mạch ý tưởng của bài thơ. Và như thế ở câu 4, hai chữ “nhữ đẳng” (chúng mày/ bọn mày/ bọn bay…) chỉ có thể là nói, là chỉ bọn giặc xâm lược, cướp nước, hợp logic (ý nghĩa) hình tượng thơ hơn. Khó có thể hiểu hai chữ “nhữ đẳng” là chỉ quân ta được.

Riêng chữ “hành”, chữ Hán cùng một chữ viết nhưng có 4 cách đọc và hàm nghĩa khác nhau. Theo sách “Hán – Việt tự điển” của Thiều Chửu (NXB Thanh niên – tái bản lần thứ 6), chữ “hành” có thể đọc: hành/ hạnh/ hàng/ hạng. Ở đây chúng tôi tập trung vào cách đọc thứ nhất: hành. Ba cách đọc còn lại không hợp nghĩa bài thơ. Chữ “hành” ngoài những nghĩa cơ bản như: Bước đi/ đi/ thi hành ra/ bài hành (ca hành)/ lối chữ hành… còn có một nghĩa rất đáng lưu ý là: sắp tới, dần đến.

Và chữ “khan” (khán), ngoài nghĩa: coi, xem/ giữ/ coi, đãi… còn một hàm nghĩa là: hãy thử coi một cái (dùng như trợ từ).

Xem xét nhiều bình diện nghĩa của chữ “hành” và chữ “khan”, chúng ta thấy khi chúng đi cùng nhau, trong một cách dùng (hành khan), chúng ta có thể hiểu là: Hãy xem đây/ hãy coi đây/ hãy chờ xem/ sắp tới đây/ rồi đây hãy chờ xem.

Vì thế chúng tôi cho rằng, câu kết của bài thơ “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” nên dịch nghĩa là: Chúng bay hãy chờ xem sẽ chuốc lấy bại vong.

III. Bản dịch thơ của chúng tôi

1. Điều đầu tiên chúng tôi muốn nói thêm cùng bạn đọc khi đưa ra bản dịch thơ mới của mình là: trong nhiều bản dịch thơ trước nay, người dịch không giữ được thật đúng hoặc làm sai lệch ít nhiều vần luật trong bản (tạm coi là) nguyên tác. Bản nguyên tác: Luật trắc vần bằng (tác giả gieo vần bằng: cư – thư – hư). Hơn thế, có những bản lại đổi cả thể tài bài thơ sang song thất lục bát hoặc lục bát, làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp mạnh mẽ, đanh thép, hào hùng, vang ngân của giọng điệu thơ nguyên tác – đặc biệt là ở câu thơ đầu.

Khi dịch, chúng tôi cố gắng giữ vần luật như trong nguyên tác. Để làm được như thế, ý trong hai câu thơ thứ nhất và thứ hai cần phải thay đổi. Bên cạnh đó, bản nguyên tác gieo vần bằng – vần chính, như đã nói ở trên. Bản dịch của chúng tôi cố gắng chỉ đạt được “vần thông” (tương đối). Vì thế có điều gì chưa hay, xin bạn đọc chỉ giáo thêm. Kỳ vọng lần dịch lại sau sẽ cố gắng dịch tốt hơn.

2. Về hai chữ “hùng cư” chúng tôi dịch là xuất phát từ ý tứ và giọng điệu, vần luật trong bài thơ nguyên tác mà chúng tôi cảm nhận. Chữ “hùng” không có trong nguyên tác. Nhưng ý “hùng cư” theo thiển nghĩ của chúng tôi, là nó toát ra từ thời đại anh hùng của dân tộc (thời Tiền Lê hay thời Lý). Và nó cũng toát ra từ tâm thế của những bậc anh hùng thời đại cũng như trong cảm quan của tác giả bài thơ. Chính từ suy nghĩ ấy mà chúng tôi mạnh dạn dịch câu thơ đầu là: “Nam đế hùng cư sông núi Nam”. Ý và lời câu thơ dịch không chỉ giữ được như nguyên tác mà giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ, vang ngân của câu thơ cũng như cả bài thơ sẽ làm nổi bật thêm tính chất tuyên ngôn độc lập của tác phẩm. Xét trên nhiều bình diện của sáng tạo thi ca, từ ngôn ngữ, hình ảnh đến giọng điệu và nội dung tư tưởng, bài thơ “Nam quốc sơn hà” (hay Thơ Thần?) thật xứng danh là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam ta. Tác phẩm ấy thật xứng đáng là áng “Thiên cổ hùng thi” của dân tộc anh hùng.

3. Cuối cùng, ở câu thơ kết khi dịch, sau 4 chữ “Bay cứ chờ xem” chúng tôi đưa vào đây dấu hai chấm (:) ngõ hầu làm cho ý thơ trở nên mạch lạc hơn mà giọng điệu thơ vẫn giữ được như trong nguyên tác.

Về tên bài thơ nên lấy là “Thơ Thần” như nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất hoặc giữ nguyên là “Nam quốc sơn hà”. Chúng tôi xin chọn: “Thơ Thần”.

Phiên âm Hán Việt:NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,Sông núi nước Nam thì Nam đế ngự trị,Rành rành phân định ở sách Trời (không thay đổi được).Cớ sao lũ giặc bạo ngược sang xâm phạm?Chúng bay cứ chờ xem: sẽ chuốc lấy bại vong. Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa: SÔNG NÚI NƯỚC NAM

Nam đế hùng cư sông núi Nam,Sách Trời phân định thật đàng hoàng.Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?Bay cứ chờ xem: chuốc bại vong.

(Trần Nguyên Thạch dịch)

Hải Phòng – Đông xuân 2016-2017

Trần Nguyên Thạch(Q. Lê Chân – TP. Hải Phòng)Tuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 522