Top 12 # Xem Nhiều Nhất Hệ Thống Câu Hỏi Bài Thơ Em Yêu Nhà Em / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh / 2023

Sang thu không chỉ là khoảnh khắc chuyển mình của thiên nhiên: hương quả, ngọn gió, dòng sông, bầy chim, đám mây, bầu trời, nắng, mưa, sấm chớp, bão dông, cây cối sang thu mà cả hồn người cùng một nhịp sang thu. Vừa lưu luyến, bồi hồi, vừa trang nghiêm chững chạc, vừa sâu lắng lại vừa mở rộng bâng khuâng, vừa khiêm nhường nhưng cũng tự hào kiêu hãnh khi con người đã đi qua những cuộc chiến ác liệt, nay được sống trong bình yên, hạnh phúc, mới càng thấy trân trọng và yêu cuộc sống tha thiết nhường nào!

Câu hỏi 1. Giới thiệu những nét chính về tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ Sang thu.

– Hữu Thỉnh (Nguyễn Hữu Thỉnh) sinh năm 1942, quê Vĩnh Phúc. Ông là nhà thơ trưởng thành trong quân đội. Từ một cán bộ văn hóa, tuyên huấn trong quân đội và sáng tác thơ, ông đã làm Phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ quân đội, Tổng biên tập báo Văn Nghệ,… Từ năm 2000, ông là Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam.

– Các tác phẩm chính: Âm vang chiến hào (in chung, 1975); Khi bé Hoa ra đời (in chung); Thư mùa đông (1984), Từ chiến hào tới thành phố (1985),… và hai trường ca: Đường tới thành phố (1979), Trường ca biển (1984).

Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều, viết hay về con người, cuộc sống ở nông thôn về mùa thu.

– Hoàn cảnh sáng tác: Sang thu được sáng tác vào gần cuối năm 1979, in lần đầu trên báo Văn nghệ, sau in lại nhiều lần trong các tập thơ.

Bài thơ là những cảm nhận tinh tế, những rung động bất chợt của nhà thơ về sự biến đổi của đất trời tử cuối hạ sang thu.

Câu hỏi 2. Em hãy nêu mạch cảm xúc của bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh.

Sang thu là bức thông điệp lúc giao mùa. Mùa thu đang tới xâm lấn dần mùa hạ, khoảnh khắc ấy được diễn tả bằng sự rung cảm tinh tế, sâu sắc về những biến đổi trong không gian, thiên nhiên lúc sang thu: bắt đầu từ hương ổi qua vận động của gió, sương, dòng sông, cánh chim, đám mây, nắng, mưa, tiếng sấm, hàng cây. Từ cảm nhận về thiên nhiên lúc sang thu, nhà thơ suy ngẫm về đời người khi đứng tuổi (tuổi trung niên).

– Thơ là thu của lòng người, thu là thơ của đất trời. Trong bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông, mùa thu được thi sĩ thiên vị hơn cả và ngược lại, mùa thu cũng ban tặng cho thi ca nhiều tứ thơ đẹp nhất, bởi mùa thu là mùa đẹp nhất.

– Mùa thu đi qua các triều đại thi ca, người đọc không thể quên những áng thơ thu tuyệt đẹp trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu,… và Hữu Thỉnh, nhà thơ đã góp vào dòng thơ thu một nét Sang thu của thiên nhiên, đất trời thật tinh tế và sâu sắc.

b. Thân bài. Cần đạt được các nội dung sau:

– Nếu chùm thơ thucủa Nguyễn Khuyến ( Thu vịnh, Thu ẩm, Thu điếu) còn mang đậm chất Đường thi cổ điển của thu thiên, thu thủy, thu điệp, ngư ông,… thì Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới lại cảm nhận mùa thu về có khi yểu điệu như thục nữ:

Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.

Có khi đang ở độ giao thời (cuối hạ sang thu) mà thi sĩ đã cảm nhận như đã tàn phai, phôi pha nhưng vẫn kiêu sa, đài các như một giai nhân:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.

Rồi lại bỗng reo lên vui sướng ngỡ ngàng khi chợt nhận ra mùa thu đã về, khoác trên mình tấm áo mơ phai, lướt nhẹ nhàng như một vũ nữ:

Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng. (Đây mùa thu tới)

Xuân Diệu cảm nhận độ thu về với những sắc thái tinh vi, mơ hoò giàu sức gợi hình, gợi cảm. Còn Hữu Thỉnh, mùa thu đến với thi sĩ khá đột ngột, bất ngờ, dường như không hẹn trước mà ” bỗng nhận ra“. Một buổi sáng chớm vào thu, cảm nhận đầu tiên trong tâm hồn thi sĩ không phải bắt đầu từ trời xanh, mây trắng, hoa cúc vàng mà bắt đầu từ hương ổi. Hương ổi thơm ngào ngạt, phả vào không gian tưởng như đặc sánh trong gió se. Đây là cảm giác rất thực của người lính – thi sĩ vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, lần đầu tiên được hưởng một mùa thu hòa bình, trong không gian yên tĩnh vắng hẳn tiếng súng, bom, trận mạc: ” Có lẽ phải là người lính mới khát sống và yêu sự bình yên đến thế ” (Lời tác giả). Tâm hồn thi sĩ bỗng trào dâng một tình yêu say đắm cái hạnh phúc đơn sơ – hương ổi – nhưng lại vô cùng lớn lao với người lính mà trong cuộc chiến tranh vừa đi qua, họ không hề có:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về.

Hương ổi phả vào gió chứ không phải gió bay đưa hương ổi đi, bởi tại gió se, gió mùa thu rất nhẹ, rất khẽ, mới chớm thu mà đã thấy lành lạnh. Cảm giác có lẽ cũng bởi sương thu bảng lảng chùng chình ngoài ngõ. Những dấu hiệu mang đặc trưng của mùa thu đã hiện diện. Cảm nhận rất tinh tế và chính xác rồi sao tác giả còn viết: Hình như thu đã về? Có cái gì đó còn nghi ngờ chăng? Cảnh vật được kiểm nghiệm qua khứu giác (mùi hương ổi), qua xúc giác (hơi gió se), qua thị giác (sương chùng chình qua ngõ), tất cả đều mách bảo thu về mà sao vẫn chưa tin? Phải chăng thu về đột ngột, bất ngờ hay trong chữ hình như còn chất chứa nỗi niềm sang thu của đời người? Bởi thế sương mới chùng chình đi qua ngõ – cái ngõ thực và cái ngõ của thời gian thông giữa hai mùa, cái ngõ của cuộc đời đã bước vào thu có cái gì như tiếc nuối, bâng khuâng, quyến luyến, ngập ngừng chưa muốn dứt để bước hẳn vào thu? Phút giây giao mùa của thiên nhiên nhìn thấy, cảm thấy mà sao vẫn sững sờ, bâng khuâng đến thế!

– Cảm giác thu sang từ một khu vườn (không gian hẹp), thiên nhiên được mở ra ở góc nhìn rộng lớn, nhiều tầng bậc hơn. Bức tranh thu từ những gì vô hình ( hương, gió) chuyển sang những hình ảnh cụ thể, hữu hình ( sông, chim, mây) với một không gian rộng dài, cao xa vời vợi:

Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.

Dường như người đọc lại bắt gặp một bức tranh thu cổ điển, chỉ vài nét chấm phá mà bao quát cả bầu trời mặt đất. Song bức tranh thu của Hữu Thỉnh lại rất hiện đại, cấu trúc đăng đối tự nhiên, chặt chẽ mà tuyệt đẹp. Dòng sông không cuồn cuộn, dữ dội như những ngày mưa nguồn mừa hạ mà êm ả, dềnh dàng, lững lờ trôi như suy tư, như ngẫm nghĩ. Ngược lại với dòng sông, chim lại bắt đầu vội vã bay. Có lẽ hơi thu đã báo trước cho chúng một cuộc “di dân” tránh rét. Phải là người tinh tế lắm mới có thể nhận ra sự bắt đầu chứ không phải là đang vội vã của những cánh chim.

Dù cánh chim vội vã thì không khí thu vẫn cứ bao trùm, cái thư thái, lắng đọng chậm rãi, lâng lâng được diễn tả qua hình ảnh đám mây mùa hạ thảnh thơi, duyên dáng vắt nửa mình sang thu. Câu thơ đẹp và sống động, chữ vắt vừa gợi hình vừa gợi cảm. Đám mây mềm, mỏng như dải lụa, như tấm khăn voan của thiếu nữ vắt lên bầu trời nửa đang còn mùa hạ, nửa đã nối sang thu, Bầu trời bắt đầu nhuốm sắc thu, đến một lúc nào đó, nó bỗng thấy ngỡ ngàng thu đã xâm lấn từ lúc nào chẳng biết. Không yêu thu sao thi sĩ có những phát hiện và cảm nhận tinh tế đến thế?

– Hai khổ thơ trên rất đẹp trong cách tạo hình, rất tinh trong cảm nhận, có người nói: hai khổ thơ như hai cành biếc của một cây thơ lạ, đến khổ thơ thứ ba (khổ cuối) là gốc của cây thơ, đem đến một vẻ đẹp mới, làm trọn vẹn thêm cái ý sang thu của cây thơ và sang thu của hồn người:

Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi.

Nếu hai khổ thơ trên là những cảm nhận trực tiếp từ những biến chuyển hết sức tinh vi của thiên nhiên, đất trời thì khổ này, mùa thu được cảm nhận bằng đoán nhận, bằng kinh nghiệm, bằng sự suy ngẫm sâu lắng. Cảnh thu đang đi từ xa vào tâm tưởng, lắng đọng, suy tư.

Vẫn là nắng, mưa, sấm chớp, bão dông như mua hạ nhưng tất cả chỉ còn mức độ. Nắng còn nhiều nhưng không còn gay gắt, chói chang. Mưa đã vơi dần nhưng không còn ào ạt, bất chợt như những cơn mưa đầu mùa. Sấm cũng bớt bất ngờ, đùng đoàng, ầm ĩ, dọa nạt những hàng cây đứng tuổi. Thiên nhiên vào thu và dần đi vào thế ổn định. Thiên nhiên vào thu hay cũng chính là sự từng trải, suy nghĩ chín chắn của con người khi cuộc đời đã bắt đầu sang thu, chẳng thấy còn bất ngờ, sợ hãi, chao đảo trước nắng mưa, sấm sét, dông bão (những biến cố bất thường) của cuộc đời.

Ta càng hiểu sâu sắc hơn hai chữ chùng chình, dềnh dàng ở các đoạn thơ trước, phải chăng đó là tâm trạng của người đã đứng tuổi khi bận mải với việc mà lúc ngẩng đầu lên đã thấy tóc pha sương? Nên có gì như tiếc nuối, dùng dằng, bịn rịn vì sững sờ nhận ra cuộc đời đã sang thu. Ở khổ cuối, hai từ đứng tuổi như một cái chốt đóng lại cái tuổi bồng bột, sôi nổi, ào ạt, trẻ trung để mở sang một chặng khác: sâu sắc, chín chắn, thâm trầm, điềm đạm hơn; mặt khác, cũng phải vội vã như những cánh chim kia để làm được nhiều điều có ích cho cuộc đời: ” Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm ” (Xuân Diệu).

Sang thu không chỉ là khoảnh khắc chuyển mình của thiên nhiên: hương quả, ngọn gió, dòng sông, bầy chim, đám mây, bầu trời, nắng, mưa, sấm chớp, bão dông, cây cối sang thu mà cả hồn người cùng một nhịp sang thu. Vừa lưu luyến, bồi hồi, vừa trang nghiêm chững chạc, vừa sâu lắng lại vừa mở rộng bâng khuâng, vừa khiêm nhường nhưng cũng tự hào kiêu hãnh khi con người đã đi qua những cuộc chiến ác liệt, nay được sống trong bình yên, hạnh phúc, mới càng thấy trân trọng và yêu cuộc sống tha thiết nhường nào!

Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Đây là một trong những câu thơ đặc sắc, hình ảnh độc đáo, gợi nhiều liên tưởng: đán mây mỏng, nhẹ như dải lụa vắt trên bầu trời xanh bao la: ” Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Nguyễn Khuyến), lại vừa đẹp nhẹ như một tấm khăn voan của người thiếu nữ, một nửa còn mùa hạ, một nửa đã sang thu; lại như có hình có hồn ( vắt nửa mình) qua phép nhân hóa. Hình ảnh thơ có tính tạo hình trong không gian nhưng lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian – một hình ảnh đẹp, thể hiện nét riêng của thời điểm giao mùa từ hạ sang thu.

Câu hỏi 5. Trình bày hiểu biết của em về hai dòng thơ cuối bài thơ Sang thu :

Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi.

Hai câu thơ cuối mang ý nghĩa triết lí, chiêm nghiệm, nói về hiện tượng tự nhiên để gửi gắm ý nghĩa cuộc đời. Nên hiểu ý thơ theo hai nghĩa: nghĩa thực ( hiện tượng thiên nhiên) và nghĩa hàm ẩn (quy luật cuộc đờ). Đời người cũng vận động theo quy luật của tự nhiên trả qua bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông (tương ứng với sinh lão bệnh tử). Khi đất trời sang thu cũng là khi nó vận động gần hết một vòng quay và con người cũng vậy, khi đứng tuổi như hàng cây lâu năm kia cũng là lúc người ta lên đến đỉnh dốc cuộc đời, chuẩn bị bước sang chặng cuối. Đó là cái tuổi “tri thiên mênh” (tự cuộc đời, số mệnh của mình) nên tinh thần, tư tưởng, cách nhìn, cách nghĩ vững vàng, kiên định hơn trước những tác động bất thường, những vang chấn của ngoại cảnh, cuộc đời. Sẵn sàng vượt qua tất cả: ” Thác bao nhiêu thác cũng qua/ Thênh thênh chiếc thuyền ta trên đời ” (Tố Hữu).

Kết thúc bài thơ Chiều sông Thương, nhà thơ Hữu Thỉnh viết:

Nắng thu đang trải đầy Đã trăng non múi bưởi Bên cầu con nghé đợi Cả chiều thu sang đông.

Hình ảnh, cảm xúc ở khổ thơ này có điểm gì gần gũi, tương đồng và khác biệt với hình ảnh, cảm xúc bài thơ Sang thu?

– Điểm giống nhau:

+ Cả hai đều là thể thơ năm chữ nên giọng điệu tha thiết, có khi lắng sâu, diễn tả cảm xúc bồi hồi, bâng khuâng, xao xuyến của cái tôi chữ tình trước vẻ đẹp của tạo vật đang chuyển mình – giao mùa hay đang ở giữa thu.

+ Hình ảnh thơ: cả hai bài đều nói đến nắng thu, sông thu. ” Nắng thu đang trải đầy” (Chiều sông Thương), và “Vẫn còn bao nhiêu nắng” (Sang thu). Nắng trong hai bài thơ có lẽ rất vàng và ấm áp bởi đó là nắng thu.

– Điểm khác nhau:

Hai bài thơ được sáng tác ở hai thời điểm khác nhau. Sang thu (1977) sau hai năm người lính bước ra khỏi cuộc chiến, còn Chiều sông Thương (1992) nên nội dung thơ đều gắn với cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ ở mỗi thời điểm đặc biệt.

+ Sang thu: Cảm xúc của cái tôi trữ tình được dồn nén, bâng khuâng trước thời khắc chuyển mình của tạo vật từ hạ sang thu nên bài thơ chỉ có ba khổ. Cảm xúc thơ phát triển từ không gian hẹp (vườn, ngõ) ra không gian rộng, bao quát cả bầu trời, mặt đất và thu vào trong tâm tưởng.

Hình ảnh thơ cũng được chắt lọc, có những hình ảnh đẹp, đặc sắc qua phép nhân hóa: ” Sương chùng chình qua ngõ”, “Sông được lúc dềnh dàng”, “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”, “Trên hàng cây đứng tuổi “.

+ Nếu Sang thu là cảm nhận ở thời khắc cuối hạ sang thu trong một buổi sáng khi sương bảng lảng đi qua ngõ thì Chiều sông Thương lại là cảm nhận ở thời khắc chiều thu, khi đất trời đã giữa thu. Cảnh vật được miêu tả rất thực về cánh đồng, dòng sông, bầu trời, con nghé đợi… (Khổ cuối). Hình ảnh thơ đẹp dịu dàng, gợi ra bức tranh thanh bình, ấm áp: nắng thu còn trải rộng khắp nhân gian mà trăng non như múi bưởi đã in trên nền trời xanh nhạt, dưới cầu nước chảy trong veo, bên cầu con nghé đợi… Cả chiều thu sang đông. Cảnh lắng đọng như chính sự tồn tại của nó chứ không sống động, cựa mình chuyển mùa như bài Sang thu. Đó chính là nét đẹp riêng của mỗi bài thơ.

-dehoctot.edu.vn-

Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy / 2023

Ánh trăng như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lối sống thuuỷ chung, tình nghĩa. Trăng trong bài thơ cũng là biểu tượng của đạo lí nghĩa tình trọn vẹn, trong sáng của nhân dân trong những năm tháng đánh Mỹ gian khổ. Ánh trăng cũng như tình yêu thương đùm bọc, che chở của nhân dân đối với bộ đội, với đất nước, góp phần làm nên chiến thắng, mãi mãi tỏa sáng, thủy chung, tình nghĩa. Được xem như biểu tượng của đạo lí thủy chung, bất hiến, vĩnh hằng, ánh trăng nhắc nhở mọi người dù sống trong hoàn cảnh nào cũng đừng quên quá khứ ” Uống nước nhớ nguồn “.

Câu 1. Nêu một số nét chính về tác giả Nguyễn Duy và hoàn cảnh sáng tác bài thơ Ánh trăng.

– Nguyễn Duy – tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại Thanh Hóa. Nguyễn Duy là nhà thơ – chiến sĩ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Nguyễn Duy được trao giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972 – 1973 với chùm thơ: Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông. Từ giải thưởng này, ông trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác.

– Tác phẩm chính: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990), Về (1994), Bụi (1996),…

– Hoàn cảnh sáng tác: Ánh trăng được viết năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập Ánh trăng (1984).

Bài thơ ra đời sau ba năm cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc đã khép lại. Ba năm sống trong hòa bình với những tiện nghi hiện đại, không phải ai cũng nhớ đến gian lao và kỉ niệm nghĩa tình của một thời gian đã qua. Ánh trăng như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính mình, với mọi người về lối sống thuuỷ chung, tình nghĩa.

Bài tập này yêu cầu HS làm rõ các nội dung sau:

– Chỉ rõ kết cấu bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện kể.

– Kể (tự sự) kết hợp với trữ tình (cảm xúc, giọng điệu).

– Tính hàm súc và ý nghĩa của hình tượng ánh trăng.

Lần lượt triển khai như sau:

– Kết cấu bài thơ như một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian:

+ Khổ 1, 2 kể về hồi nhỏ và khi trưởng thành đi chiến đấu, nhà thơ sống gắn bó với thiên nhiên: đồng, sông, bể rừng, trăng rất hồn nhiên, thân thiết. Đặc biệt là trăng. Trăng tỏa sáng cho trẻ thơ sống ở vùng quê nô đùa, vui chơi, trăng soi bước đường hành quân cho người chiến sĩ… trăng còn gợi cảm xúc thơ mộng trong tầm hồn mỗi người, trăng trở thành tri kỉ, nghĩa tình.

+ Khổ 3, 4 kể về thời gian hòa bình, trở về thành phố, nhà thơ được sống trong điều kiện đầy đủ: nhà cao cửa rộng, ánh điện lung linh, của gương sáng loáng… khác hẳn với những ngày thơ bé ở đồng ruộng và những ngày chiến đấu gian khổ ở rừng rú. Ánh sáng duy nhất là ánh trăng thì bây giờtrăng đi qua ngõ như người dưng qua đường, xa lạ, dửng dưng như người không quen biết. Nhưng thật trớ trêu, một tình huống bất ngờ xảy ra: thình lình tắt điện, phòng buyn – đinh tối om, cửa sổ được bật tung, đột ngột vầng trăng xuất hiện soi sáng căn phòng.

+ Khổ 5, 6: gặp lại trăng – người bạn cố tri, nghĩa tình, mặt đối mặt lòng bỗng dâng trào cảm xúc. Tất cả quá khứ ùa về gợi nhắc kỉ niệm xưa: đồng, bể, sông, rừng – những ngày khó khăn gian khổ nhưng gắn bó, nghĩa tình. Nhà thơ tự trách mình sao quá vô tình mà lãng quên quá khứ. Vầng trăng im phăng phắc nhhư nghiêm khắc lại như bao dung khiến nhà thơ càng thêm day dứt, giật mình, nhìn lại chính mình.

– Giọng kể kết hợp với giọng điệu trữ tình:

+ Ba khổ đầu: nhịp thơ chảy trôi thầm thĩ như một lời tâm tình.

+ Khổ 4: giọng thơ đột ngột chuyển hướng, tâm trạng ngỡ ngàng trước tình huống và sự xuất hiện của vầng trăng.

+ Khổ 5, 6: giọng điệu thiết tha, trầm lắng, xúc cảm và suy tư.

– Hình tượng trăng vừa có ý nghĩa cụ thể vừa có tính khái quát, mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, gợi chiều sâu suy tư, triết lí.

+ Trăng là biểu tượng đẹp của tự nhiên, là đối tượng yêu mến của tuổi thơ gắn với cổ tích chị hằng chú cuội và những đêm trăng rằm tháng tám. Trăng thơ mông với tình yêu; trăng là cái liềm vàng, đĩa bạc, là vú mộngcủa thi sĩ ngụp lặn tâm tình. Vì thế, trăng người bạn tri kỉ.

+ Trăng trong bài thơ cũng là biểu tượng của đạo lí nghĩa tình trọn vẹn, trong sáng của nhân dân trong những năm tháng đánh Mỹ gian khổ. Ánh trăng cũng như tình yêu thương đùm bọc, che chở của nhân dân đối với bộ đội, với đất nước, góp phần làm nên chiến thắng, mãi mãi tỏa sáng, thủy chung, tình nghĩa. Được xem như biểu tượng của đạo lí thủy chung, bất hiến, vĩnh hằng, ánh trăng nhắc nhở mọi người dù sống trong hoàn cảnh nào cũng đừng quên quá khứ ” Uống nước nhớ nguồn “.

– Chủ đề: Bài thơ cất lên từ một tâm sự rất riêng tư, nhưng đó là lời nhắc nhở thấm thía về thái độ sống, tình cảm đối với thiên nhiên, với nhân dân, với quá khứ gian lao mà tình nghĩa, bình dị, hiền hậu.

Bài tập này tích hợp cả 3 tri thức: đọc- hiểu tác phẩm văn học, làm văn và Tiếng Viẹt. Để làm tốt, HS cần:

– Về tri thức: căn cứ vào văn bản thơ, tri thức đọc- hiểu và một phần gợi ý ở câu 2 (tính hàm súc,đa nghĩa, nhiều tầng của hình tượng ánh trăng) để làm bài.

Câu 4. Tưởng tượng mình là nhân vật trữ tình trong Ánh trăng, hãy diễn tả dòng cảm nghĩ trong bài thơ thành một tâm sự ngắn.

-Yêu cầu người viết nhập than vào nhân vật trữ tình trong bài thơ để bày tỏ cảm xúc, tâm sự của minh về một tình huống: mất điện, giật mình gặp lại ánh trăng xưa, người bạn tri kỉ, nghĩa tình đã gợi lại bao kỉ niệm trong quá khứ. Bản thân bỗng xúc động và tự cứ trách mìnhđã quá vô tình lãng quên người bạn đã từng gắn bố trong những năm tháng gian lao…

– Đọc, tham khảo bài viết:

ÁNH TRĂNG

Hai mươi hai giờ đêm, bỗng cả một vùng của thành phố mất điện. Tôi vội vàng bật tung cửa sổ. Đột ngột vầng trăng tròn vành vạnh xuất hiên. Ánh trăng ùa vào căn phòng soi sang không gian. Thảng thốt nhận ra cố nhân, tôi vươn ra khỏi khung cửa sổ, ngửa mặt nhìn lên trăng, trăng cũng soi ngắm tôi. Nỗi xúc động trào dâng, tôi thấy dung dung trong long, rưng rưng khóe mắt…

Cuộc chiến tranh dai dẳng, khốc liệt đã lùi xa, thấm thoắt đã ba mươi năm rồi. Tôi về thành phố, song trong điều kiện đất nước đã thống nhất, độc lập, hào bình,đời sống đã khác xưa. Nhà cao tiện nghi hiện đại, khác xa với những năm tháng gian lao sống cùng đồng, cùng song, cùng bể, cùng trăng. Phải chăng giờ đây tôi đã quen với đèn điên, cửa gương trong cuộc sống hiện đại, đủ đầy, giàu sang mà lãng quên vô tình với trăng? Trăng vẫn đi qua ngõ. Vậy mà tôi như không thây, vô tình,bạc beo, dửng dung như người khách lạ qua đường. Đêm nay thình lình điện tắt, nổi bật trong không gian bao la kiêu hãnh chỉ có mình trăng. Trăng vẫn nhẫn nại tỏa sang cho bầu trời, mặt đất, nhân gian, không giận hờn, trách móc.

Đêm nay, dối diện với trăng trong tình huống bất ngờ, trăng đã gợi cho tối biết bao kỉ niệm ấu thơ với đồng, với sông, với bể, hòa nhập gắn bó với thiên nhiên. Trăng gợi cho tôi nhơ về tuổi thơ, nơi chôn rau cắt rốn của mình, yêu trăng yêu cả chú Cuội, chịHằng; về một thời chiến tranh ác liệt ở rừng ở rú được nhân dân che chở, yêu thương. Ngày ấy không có điện, trăng là bạn cố tri thường cùng tôi đàm tâm độc thoại, là bạn chiến đấu “Đầu sung trăng treo” là gương mặt mỹ nữ gợi bao khát khao yêu thương, gợi bao cánh thơ bay bổng tâm hồn,…Ngày ấy, duy nhất- trần trụi chỉ sống với trăng. Tình yêu thiên nhiên hồn nhiên như cỏ cây hoa lá không hề vụ lợi, ngỡ chẳng bao giờ tôi quên đồng, sông,bể, nhất là trăng. Ấy thế mà, khi cuộc sống đủ đầy, lòng tôi cũng đổi thay…vô tình nhìn trăng như người dưng qua ngõ.

Đêm nay đối diện với trăng, trăng vẫn tròn vành vạnh như đồng, như song, như bể, như rừng thủy chung, nghĩa tình, bất biến. Lòng tôi rưng rưng, hổ thẹn. Giá như trăng cứ lên tiếng trách cứ, mắng mỏ tôi: kẻ vô tâm, vô tình, vô ơn bạc nghĩa,.. cho tôi thấy nhẹ lòng. Nhưng trăng cứ tròn vành vạnh- nhìn lại như chất chứ một tấm lòng. Tấm lòng vị tha, độ lượng “kể chi người vô tình”. Chính lòng vị tha của trăng đã khiến tôi giật mình, trăn trở, suy ngẫm về quá khứ. Những năm tháng gian lao, trăng và nhân dân thật bình dị, dịu hiền biết bao nhiêu! Kể cả những người đã khuất đã kề vai sát cánh, gắn bó với nhau, cùng nhua đánh đuổi giặc thù, đem lại cuộc sống an bình hôm nay, sao tôi nỡ vô tình?

Cảm ơn trăng đã nhắc nhở tôi đại lí “Uống nước nhớ nguồn”, ” Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm”. Nếu không biết trân trọng quá khứ, gìn giữ và biết ơn, người ta rất dễ biến chất thành kẻ vô tình, vô tâm, vong ơn bội nghĩa.

-dehoctot.edu.vn-

Giáo Án Bài Thơ Em Yêu Nhà Em / 2023

Hoạt động 1: Ổn định, gây hứng thú

– Hát và vận động theo bài hát ” Nhà của tôi”

+ Các con vừa hát bài gì ?

+ Cho trẻ kể về ngôi nhà của mình đang sống?

+ Vì sao khi đi xa mình luôn nhớ về gia đình của mình?

+ Cũng xuất phát từ tình cảm đó Cô Đoàn Thị Lam Luyến cũng đã cho ra đời một bài thơ rất hay. Bài thơ như một lời tâm sự của một em bé khi kể về ngôi nhà của mình, em rất tự hào và yêu mến ngôi nhà của mình và điều đó thể hiện rất rõ trong bài thơ ” Em yêu nhà em” mà cô Hoa sẽ giới thiệu cho các con hôm nay đấy.

– Lần 1 : Cô đọc kết hợp cử chỉ điệu bộ.

+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì?

Do ai sáng tác?

– Lần 2 : Cô đọc diễn cảm kết hợp cho trẻ xem trên màn hình.

Hoạt động 3: Trích dẫn đàm thoại, giải thích từ khó.

* Cô trích:” Chẳng đâu bằng chính nhà em

Có đàn chim sẻ bên thềm líu lo

Có nàng gà mái hoa mơ

Cục ta, cục tác khi vừa đẻ xong”

– Trong khổ thơ này em bé đã kể vể ngô nhà của mình như thế nào?

+ Có những con vật gì trong nhà của bé?

+ Các con đã nghe tiếng gà kêu khi vừa đẻ xong chưa?

( Cho cả lớp đồng thanh làm tiếng gà kêu ” Cục ta, cục tác”).

*Cô trích: ” Có bà chuối mật lưng ong

Có ông ngô bắp râu hồng như tơ

Có ao muống với cá cờ

Em là chị Tấm đợi chờ bống lên”.

– Vừa rồi em bé còn cho các con biết có những cảnh vật nào trong nhà của mình?

+ Hình ảnh ” Bà chuối, ông ngô bắp, râu hồng” Các con tưởng tượng ra điều gì?

+ Tại sao ở đoạn thơ này em bé lại tưởng tượng mình là cô Tấm.

* Cô trích: ” Có đầm ngào ngạt hoa sen

Ếch con học nhạc, dế mèn ngâm thơ”

– Các con hiểu ” ngào ngạt” có nghĩa là thế nào?

( Hương thơm tỏa ra rất nhiều)

– Bây giờ các con thử nhắm mắt lại xem và tưởng tượng mình đang đứng trước một đầm sen ngào ngạt hương thơm các con sẽ cảm thấy như thế nào?

– Với quang cảnh thật là thích đó thì bạn ếch và bạn dế mèn đang làm gì?

* Cô đọc 2 câu cuối

“Dù đi xa thật là xa

Chẳng đâu vui được như nhà của em”

– Các con thấy tình cảm của em bé như thế nào đối với ngôi nhà của mình?

* Giáo dục: Tự hào, yêu mến, bảo vệ ngôi nhà của mình.

Hoạt động 4: Dạy trẻ đọc thơ

– Cô đọc lại bài thơ cho trẻ nghe một lần.

– Cô đọc từng câu, trẻ đọc theo cô

– Dạy trẻ đọc diễn cảm bài thơ

– Cho trẻ đọc 3-4 lần

– Tổ chức cho trẻ thi đua

+Thi đua giữa 3 tổ

+Thi đua giữa các nhóm

+Cá nhân trẻ đọc

– Cô quan sát trẻ đọc thơ và chú ý sửa cho trẻ đọc diễn cảm

– Cho cả lớp đọc lại kết hợp minh họa.

Hoạt động 5: Trò chơi ” Giải mã ô số”

– Cách chơi: Trên màn hình xuất hiện nhiều ô số, tương ứng với một ô số là một hình ảnh có trong bài thơ. Lật được hình ảnh nào thì bạn phải đọc được câu thơ có hình ảnh đó.

– Luật chơi: Mỗi bạn chỉ được lật một ô số. Trả lời đúng được nhận phần quà của cô.

– Cho trẻ chơi 1 – 2 lần

* Kết thúc

– Cho trẻ đọc lại bài thơ ” Em yêu nhà em” Kết thúc hoạt động.

-Trẻ hát và vận động.

-Nhà của tôi

-Trẻ kể

– Có ba mẹ, người thân, là nơi thân thuộc của bé.

– Trẻ lắng nghe

-Trẻ lắng nghe

– ” Em yêu nhà em”

-ST: Đoàn Thị Lam Luyến.

-Trẻ xem màn hình và lắng nghe cô đọc thơ.

-Trẻ lắng nghe

-Chim sẻ, gà mái.

– Vui, chào đón bình minh.

Trẻ làm theo cô

-Trẻ lắng nghe

-Bà chuối mật, ông ngô bắp, ao muống, cá cờ,..

– Như bà tiên, ông bụt,..

– Em rất thích yêu quý cô tấm, thích cô tấm,..

-Trẻ trả lời theo sự hiểu biết.

-Trẻ nhắm mắt và tưởng tượng.

-Bạn ếch học nhạc, bạn dế mèn ngâm thơ.

-Trẻ lắng nghe

– Yêu mến, và tự hào về ngôi nhà của mình.

-Trẻ lắng nghe

-Trẻ lắng nghe

-Trẻ đọc theo cô

-Tổ, nhóm, cá nhân đọc

-Trẻ đọc kết hợp minh họa

-Trẻ lắng nghe cô phổ biến cách cho và luật chơi

-Trẻ chơi

– Trẻ đọc thơ và đi ra sân uống nước

Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Của Phạm Tiến Duật / 2023

Trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, hình tượng người lính đi vào cuộc chiến đấu đã có bước phát triển vượt bậc về đời sống cơ sở vật chất và tinh thần so với đời sống của người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ gặp muôn vàn những khó khăn khác nhau: bom giặc đã hủy diệt sự sống, phá hủy những chiếc xe – phương tiện vận tải của họ, biến những chiếc xe trở nên kì dị: không kính, không đèn, thùng xe xướt xát. Song bất chất hiểm nguy, xe và người vẫn ung dung, hiên ngang ngày đêm lao ra chiến trường đánh Mĩ. Ở họ luôn phơi phới một tinh thần lạc quan cách mạng, trẻ trung, yêu đời, dũng cảm, kiên định rất phù hợp với chất lính lái xe Trường Sơn.

Câu 1. Hãy giới thiệu những nét chính về tác giả Phạm Tiến Duật và Bài thơ tiểu đội xe không kính.

– Tác giả: Phạm Tiến Duật (1941 – 2007), quê Thanh Ba – Phú Thọ. Sau khi tốt nghiệp khao Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1964). Phạm Tiến Duật gia nhập vào quân đội là phóng viên mặt trận, hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước.

Thơ Phạm Tiến Duật tập trung vào đề tài hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.

– Tác phẩm chính: Vầng trăng – quầng lửa (thơ, 1970), Thơ một chặng đường (1971), Ở hai đầu núi (1981), Vầng trăng và những quầng lửa (1983), Nhóm lửa (1996),…

– Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ về tiểu đội xe không kính viết năm 1969, thuộc chùm thơ được tặng giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 – 1970, được in trong tập thơ Vầng trăng – quầng lửa. Bài thơ khắc họa nét độc đáo hình tượng những chiếc xe không kính và hìn tượng người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì chống Mĩ; hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, yêu đời, chiến đấu giải phóng miền Nam ruột thịt.

Câu 2. Nhan đề Bài thơ về tiểu đội xe không kính gợi cho em suy nghĩ gì?

Nhan đề bài thơ gây ấn tượng độc đáo và gợi suy ngẫm cho người đọc:

– Nhan đề mang đề tài của bài thơ: Tiểu đội xe không kính. Tiểu đội là đơn vị cơ sở nhỏ nhất trpng biên chế của quân đội ta. Tiểu đội xe có ý nghĩa trong lịch sử chiến tranh chống Mĩ từ năm 1965 – 1968, đội hình xe chủ yếu là tiểu đội do tình hình đường xá, cầu cống, hệ thống pháo cao xạ bảo vệ… chưa cho phép chạy xe với đội hình đông hơn. Sau này, chiến dịch phát triển, từ tiểu đội lên đại đội, tiểu đoàn, sư đoàn xe với hàng trăm chiếc, nên tiểu đội xe không kính trong bài thơ mang ý nghĩa khốc liệt của chiến tranh. Một cái tên trần trụi, không mĩ miều, hàm súc như bao nhan đề bài thơ khác, đối lập với quan niệm cái đẹp văn chương thuần túy. Cái đẹp với Phạm Tiến Duật là từ trong những diễn biến sôi động của cuộc sống mà ùa vào thơ.

– Tác giả thêm vào hai chữ bài thơ, là muốn thể hiện quan niệm thơ nói, thơ kể nhưng vẫn rất thơ. Chất thơ vút lên từ hiện thực, từ tâm hồn hào hoa lãng mạn, lạc quan yêu đời của người lính – tuổi trẻ Việt Nam giữa khói bom lửa đạn với đầy niềm tự hào, chiến đấu và chiến thắng.

Ngay từ nhan đề bài thơ, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh độc đáo: những chiếc xe vận tải không kính vẫn ngày đêm băng ra chiến trường. Những chiếc xe thực đến trần trụi cứ hổng hông hốc như hai hốc mắt con quái vật trông ngộ nghĩnh và lạ lẫm. Bản thân những chiếc xe đã hiện diện nét ngang tàng, dũng mãnh, bất cần trước bom rơi đạn lạc, trước thừoi tiết khắc nghiệt ngày đêm vẫn lao ra trận tuyến. Như một phát hiện thú vị, nhà thơ đã khai thác cái chất liệu hết sức thô phác, đời thường đến bất thường ấy vào thơ:

Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.

Những chiếc xe sinh ra vốn rất đầy đủ, hoàn hảo nhưng do tính chất khốc liệt của chiến tranh bom giật bom rung đã phá hủy, làm cho những chiếc xe bị biến dạng không còn nguyên vẹn nữa:

Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước.

Một loạt các điệp ngữ không có đã phủ định một hiện thực vô cùng khó khăn, nguy hiểm của người chiến sĩ lái xe, khi điều khiển một phương tiện nặng nề với tốc độ cao trên tuyến đường dốc đèo hiểm trở, bom rơi đạn lạc hàng ngày mà phương tiện lại không đảm bảo an toàn. Những thứ vô cùng quan trọng như kính bảo hiểm, đèn chiếu sáng, mui xe bảo vệ… thì đều không có. Đó là điều bất bình thường nhưng với chiến tranh thì lại là điều bình thường, nên nó vẫn hoạt động như những chiếc xe hoàn hảo, vẫn băng băng ra phía trước vì nhiệm vụ trọng đại của đất nước. Cái bất thường đã trở thành cái phi thường một biểu tượng độc đáo của thơ chống Mĩ, vừa nói lên cái ác liệt, dữ dội của chiến tranh, vừa thể hiện được phẩm chất anh hùng, vĩ đại của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Hình tượng được đẩy lên mức cao hơn góp phần khắc họa chân dung, tư thế một dân tộc anh hùng.

Câu 4. Vẻ đẹp hình tượng người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ trong Bài thơ tiểu đội xe không kính.

– Vẻ đẹp hình tượng người lính lái xe Trường Sơn gắn liền với hình tượng những chiếc xe vận tải độc đáo. Những chiếc xe thực chất chỉ là vật vô tri vô giác nếu không có sự tác động của con người. Chính con người đã truyền cho nó một hồn sống khiến nó trở nên sinh động, hấp dẫn. Người lính lái xe trẻ trung, năng động, dũng cảm, lạc quan yêu đời đã truyền qua chiếc vô lăng khí thế hiên ngang, bất khuất, tính ngang tàng, dũng mãnh, quả cảm bất chấp mọi gian nguy, thiếu thốn để người và xe hoàn thành nhiệm vụ.

– Ấn tượng đầu tiên với người đọc là tư thế hiên ngang, tự tin, tự hào và đầy chất lãng mạn cuat người lính lái xe:

Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhì trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái.

Hàng loạt các điệp từ nhìn thấy diễn tả cảm giác cụ thể khi ngồi trên xe không còn kính chắn gió chẳng khác nào người chiến sĩ lái xe phải tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài. Nhưng tư thế rất ung dung nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng, nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim, mặc cho mọi thứ có thể va đập, quăng quật vào buồng lái gây nguy hiểm như gió, mưa, bụi, lá cây, cánh chim,… tất cả đều được bình thường hóa và được cảm nhận bằng một tâm hồn trẻ trung, lãng mạn: thấy như cả đất trời, con đường, gió và ánh sao, cánh chim đột ngột như sa như ùa vào buồng lái. Nếu không phải là những chàng trai luôn lạc quan, yêu đời, coi thường hiểm nguy thì sao có được cái chất lãng mạn để biến cái hiện thực đầy khó khăn, gian khổ thành cái thi vị hóa đẹp đến như thế!

– Vẻ đẹp tinh thần của người lính lái xe Trường Sơn càng được bộc lộ qua điều kiện thiếu thốn, khó khăn, gian khổ, hiểm nguy trên tuyến đường vận tải của họ:

Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.

Những câu thơ giản dị như lời nói hàng ngày của người lính: ” Không có kính, ừ thì có bụi… Chưa cần sửa, phì phèo châm điếu thuốc… Không có kính, ừ thì ướt áo… Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa/ Mưa ngừng gió lùa mau khô thôi “, điệp khúc ấy tạo nên giọng điệu ngang tàng, bất chấp. Bụi phun tóc trắng, mặt lấm, mưa xối ướt áo như ngoài trời, kệ! Bình thản, chưa cần rửa, chưa cần thay, phì phèo châm điếu thuốc, gặp nhau nhìn mặt lấmha ha, tiếp tục lái… Sự bình thản của người lính lái xe đạt tới mức vô tư, phớt tỉnh, khó khăn ấy chẳng là gì so với những làn mưa bom bão đạn mà họ đã vượt qua. Hình ảnh người lính vừa mang nét đẹp giản dị, phong trần, vừa có nét kiêu hùng, lãng mạn.

– Niềm vui gia đình của người lính chính là tình đồng đội, xung quanh họ đều là những con người lạc quan, yêu đời gắn bó:

Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên những tiểu đội xe không kính, đã gắn bó những con người có tinh thần sắt lửa lại với nhau như anh em, bè bạn cùng chung nhiệm vụ. Những cái bắt tay qua cửa kính vỡ rồi thật hồn nhiênvui tươi như một sự hưởng thụ tự nhiên, không cần phải nhiêu khê mở của, cứ việc thò tay qua ô cửa bắt tay chào nhau trong tiếng cười ha ha rồi lại hối hả ra mặt trận. Chính nhà thơ cũng rất khoái khi viết câu: ” Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi“, ” không phải mở cửa mà có thể thò tay thì sướng quá ” thể hiện nét hồn nhiên, tinh nghịch, phớt đời của người lính.

Niềm vui bè bạn như niềm vui gia đình, cái định nghĩa về gia đình của người lính – thi sĩ cũng rất lính, tếu táo mà tình cảm chân tình, sâu sắc: ” Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy “. Họ gắn bó với nhau trong chiến đấu, trong đời thường, trong bữa ăn giấc ngủ tạm bợ vội vã trên đường, để rồi lại đi, lại đi trời xanh thêm. Câu thơ diễn tả cái điệp khúc lên đường của đoàn xe, phơi phới niềm tin lạc quan, yêu đời của lính trẻ Trường Sơn.

– Điều làm nên sức mạnh để người lính vượt qua khó khăn gian khổ chính là tình yêu đất nước, là lòng nhiệt tình cách mạng của tuổi trẻ, quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Kết thúc bài thơ, vẫn giọng thơ nói mộc mạc như văn xuôi, vậy mà nhạc điệu, hình ảnh, ngôn ngữ rất đẹp, rất thơ. Cảm hứng và suy tưởng vừa thực vừa bay bổng đề hoàn thiện vẻ đẹp chân dung người lính lái xe Trường Sơn những năm đánh Mĩ. Bốn dòng thơ dựng lại hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ, thú vị giữa người và xe; giữa vật chất và tình thần; giữa cái không và có… làm nổi bật cái gia góc, khốc liệt của cuộc chiến và chất anh hùng, bất khuất, đẹp đẽ của con người. Điệp ngữ ” không có” nhấn lại ba lần như nhân lên ba lần thử thách; ngôn ngữ trong hai dòng thơ được ngắt làm bốn nhịp như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu. Nhưng hai câu sau, âm điệu lại nhẹ nhàng, phóng khoáng bởi hình hài những chiếc xe có thể bị bom giặc làm cho biến dạng, nhưng với xe còn cỗ máy thì còn chạy, với con người còn trái tim thì còn tình yêu Tổ quốc. Trái tim tuổi trẻ giàu nhiệt huyết, giàu tình yêu thương và lòng căm thù giặc sẽ bất chấp tất để chiến đấu và chiến thắng. Tác giả đã nói về tác phẩm của mình: ” Thực ra, tôic hỉ lấy cái ô tô làm cớ. Con người cũng như cái xe ấy, có thiếu mọi thứ […] nhưng cái không thể thiếu được là trái tim anh chiến sĩ lái xe dũng cảm. Bài thơ được tôi chăm sóc khá kĩ lưỡng về chũ nghĩa. Nhưng với tôi, cái mà tôi ưng ý chưa phải là chữ nghĩa mà là cái khoảng vang của tâm hồn, của thanh khí toàn bài phủ lên tác phẩm “.

Đúng vậy! Cái âm vang tâm hồn, cái thanh khí của toàn bài thơ mà tác giả muốn nói đến đó là những giá trị hiện thực lớn lao, vừa mang tính chiến đấu nóng bỏng, tính thời sự tức thời, vừa mang tầm vóc lịch sử. Đôi khi bài thơ vượt qua khỏi phạm trù cái đẹp văn chương thuần túy để nói tiếng nói của cuộc sống thực hào hùng. Đó là tiếng nói chân thành, độc đáo của con người trong cuộc. Nó như một tuyên ngôn về lẽ sống của thế hệ trẻ Việt Nam anh hùng thời đánh Mĩ: khó khăn, gian khổ, hi sinh nhưng bất khuất, kiên cường, kiêu hùng và lãng mạn.

– Khai thác chất liệu hiện thực của đời sống chiến tranh: những chiếc xe không kính và phẩm chất cao đẹp của người lính lái xe Trường Sơn.

– Giọng điệu ngang tàng pha chất tinh nghịch, hóm hỉnh, phù hợp với đối tượng (lính lái xe) qua các dạng câu: giải thích, tự sự, câu ngắn, dài đa dạng, gần với lời nói bình thường nhưng rất giàu nhạc điệu, hình ảnh và cảm xúc.

– Ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, ngồn ngộn chất đời sống chiến trường khiến lời thơ giàu chất văn xuôi nhưng thú vị.

– Chất thơ toát lên từ hình tượng độc đáo – những chiếc xe trần trụi và tâm hồn trẻ trung, năng động, lãng mạn, yêu đời của người lính lái xe.

Câu 6. Cảm nghĩ của em về hình tượng người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ qua hai bài thơ Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật).

Đây là bài tập khó, HS cần nắm chắc hai tác phẩm và có cái nhìn tổng quát về hai cuộc kháng chiến qua thơ ca để có những nhận xét, đánh giá chính xác, thấy được những nét chung và riêng ở người lính qua hai thời kì kháng chiến. Gợi ý:

Mở bài. Dẫn dắt và giới thiệu đối tượng nghị luận:

– Văn học 1945 – 1975 tập trung viết về ba đối tượng chính: công, nông, binh. Vì vậy, đề tài viết về người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ là đề tài thu hút nhiều bút lực. Bởi đó là những con người anh hùng sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

– Biết bao nhà thơ đã viết về họ, trong đó có nhà thơ Chính Hữu với tác phẩm: Đồng Chí, Phạm Tiến Duật với Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Đây là những thi phẩm xuất sắc viết về người lính trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Thân bài. Cần đạt được các ý chính sau:

* Nét chung của người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ qua hai bài thơ Đồng chí và Bài thơ tiểu đội xe không kính, đó là lòng yêu nước, dũng cảm, kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn để chiến đấu, chiến thắng; sống lạc quan, yêu đời, đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội, đồng cam cộng khổ, sẻ chia buồn vui trong đời sống chiến đấu.

* Nét riêng

– Tuy nhiên, mỗi bài thơ hình tượng người lính lại được khai thác ở những nét riêng:

+ Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, hình tượng người lính xuất thân từ nông dân. Những con người nghèo khổ từ những vùng quê nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá, đầu trần, chân đất bước vào đời lính. Cuộc sống kháng chiến đầy khó khăn gian khổ: đói rét, bệnh tật, đầu không mũ, chân không giày, áo vá, quần rách, đứng chờ giặc trong rừng hoang sương muối… nhưng tinh thần vẫn kiên định, vượt qua mọi khó khăn để chiến đấu và chiến thắng bởi có tình đồng chí đồng đội ” Thương nhau tay nắm lấy bàn tay “. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp nhất là những năm đầu kháng chiến, cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ nên đời sống vật chất, tinh thần của người lính cũng quy định bản chất anh bộ đội cụ Hồ: hiền lành, chất phác, giản dị, chân thật, dũng cảm, kiên cường, luôn mang trong trái tim mình tình yêu đất nước và tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

+ Trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, hình tượng người lính đi vào cuộc chiến đấu đã có bước phát triển vượt bậc về đời sống cơ sở vật chất và tinh thần so với đời sống của người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nếu ở bài thơ Đồng chí nói về người lính bộ binh ở Điện Biên Phủ thì Bài thơ về tiểu đội xe không kính lại nói về người lính thuộc binh chủng lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời đánh Mĩ. Họ không còn áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày, nhưng họ lại gặp những khó khăn khác: bom giặc đã hủy diệt sự sống, phá hủy những chiếc xe – phương tiện vận tải của họ, biến những chiếc xe trở nên kì dị: không kính, không đèn, thùng xe xướt xát. song bất chất hiểm nguy, xe và người vẫn ung dung, hiên ngang ngày đêm lao ra chiến trường đánh Mĩ. Ở họ luôn phơi phới một tinh thần lạc quan cách mạng, trẻ trung, yêu đời, dũng cảm, kiên định rất phù hợp với chất lính lái xe Trường Sơn. Thế hệ của họ ” Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai“, ” Đi chiến trường như chyả hội mùa xuân“, ” Mưa bom bão đạn lòng thanh thản “. Họ rất tự hào là thế hệ trẻ Việt Nam trong thời điểm lịch sử quyết liệt nhất, đối mặt với kẻ thù mạnh nhất thế giới, vũ khí tối tân nhất thế giới, khẳng định chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên cường, bất khuất của một dân tộc anh hùng.

Kết bài. Nâng cao, mở rộng vấn đề

Đã đi qua hơn nửa thế kỉ, nhưng những bài thơ viết về đề tài chiến tranh – người lính vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm hồn người Việt Nam về hình tượng người lính bất tử. Hình tượng ấy ở cuộc chiến tranh nào cũng đều bi tráng, hào hùng lãng mạn. Vẻ đẹp ấy không chỉ có riêng trong Đồng chí của Chính Hữu, ở người lính lái xe của Phạm Tiến Duật, mà còn là tinh thần, vẻ đẹp chung của hình tượng người lính trong suốt hai cuộc trường chinh vệ quốc vĩ đại của dân tộc.

-dehoctot.edu.vn-