Top 7 # Xem Nhiều Nhất Hàm Ý Trong Bài Thơ Nói Với Con Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Nói Với Con

Share

Facebook

Twitter

LinkedIn

Pinterest

Ý nghĩa nhan đề bài thơ Nói với con

Bài làm

Nếu ai yêu thơ của Y Phương thì hẳn sẽ không thể nào không biết đến bài thơ “Nói với con” của ông. Bài thơ với những vần thơ chan chứa tình cảm, nhẹ nhàng và từ ái của chính người cha với đứa con của mình như rót vào lòng người đọc những cảm xúc khác nhau. Nhan đề của bài thơ chỉ có 3 từ đơn giản ấy nhưng lại chứa đựng ý nghĩa, bức thông điệp vô cùng sâu sắc, đáng suy ngẫm của tác giả gửi đến người đọc. “Nói với con”, nhan đề không khỏi khiến ta tưởng tượng ra hình ảnh người cha đang nhìn đứa con của mình với ánh mắt đong đầy yêu thương, thật ôn nhu và dịu dàng nói với nó những điều về cuộc sống. Lời thơ như tâm tình, như lời dạy bảo tận tình đi sâu vào tâm khảm bạn đọc, cùng nhan đề bài thơ, ta chợt hiểu ra rằng Y Phương đã gửi vào trong đó lời nhắn nhủ, hi vọng thế hệ sau (người con) có thể tiếp tục tiếp nối, phát huy và giữ vững truyền thống tốt đẹp của tổ tiên mình, của quê hương, đất nước. Không chỉ vậy, còn cần phải biết rõ cội nguồn của mình, từ đó sống sao cho xứng đáng, cho phù hợp, tốt đẹp. Nhan đề bài thơ đã khái quát được ý nghĩa của toàn bài thơ, mạch cảm xúc của bài, dòng chảy cảm xúc và ý nghĩ đi từ những gì nhỏ bé đời thường nhất – đi từ gia đình – rồi mới đến những gì lớn lao, to lớn – quê hương, đất nước. Ấy cũng chính là lẽ sống mà chúng ta cần phải ghi nhớ và thực hiện trong cuộc đời này.

Dàn Ý Cảm Nhận Vẻ Đẹp Người Đồng Mình Trong Bài Thơ Nói Với Con

Dàn ý Cảm nhận vẻ đẹp người đồng mình trong bài thơ Nói với con được HSG sưu tầm và đăng tải. Đây là tài liệu hay giúp các bạn học sinh phân bổ thời gian làm bài phân tích vẻ đẹp của người đồng mình trong bài thơ Nói với con. Mời các bạn cùng tham khảo

Dàn ý mẫu

Giới thiệu tác phẩm và hình tượng cần phân tích:

– Bài thơ được sáng tác vào năm 1980, mang nhiều giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc.

– “Người đồng mình”: là hình tượng cho con người miền núi nói riêng và con người Việt Nam nói chung; qua lời tâm sự dặn dò với đứa con, tác giả đã ca ngợi nhiều đức tính tốt đẹp của dân tộc.

a, Giới thiệu về Người đồng mình qua sự tài hoa, yêu lao động:

– Cách nói Người đồng mình: cách nói của người dân tộc chỉ người dân quê hương mình, đất nước mình.

– Đầu tiên, nói về đức tính chăm chỉ lao động, yêu đời: “Đan lờ cài nan hoa/ Vách nhà ken câu hát”.

+ Những động từ thể hiện sự khéo léo: đan, cài, ken

+ Thành quả lao động mang màu sắc tươi sáng, vui vẻ: hoa, câu hát.

⇒ Câu thơ vang lên tự hào, yêu thương: “yêu lắm, con ơi!”; khẳng định giá trị của lao động, chỉ có lao động mới làm nên cuộc sống.

b, Những phẩm chất đáng quý của Người đồng mình:

– Con người mạnh mẽ, giàu ý chí:

+ “Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn”: lối tư duy độc đáo lấy cái hữu hình để đo cái vô hình, cho thấy càng gặp khó khăn, thử thách thì ý chí con người càng mạnh mẽ, vươn lên.

– Con người yêu quê hương, không chê nghèo hèn, không quản khó khăn:

+ Ví cuộc sống nghèo đói, khó khăn như đá “gập ghềnh”, thung “khó khăn”

+ Lặp từ “không chê”: cho thấy sự gắn bó, thủy chung và ý chí vượt quá khó khăn

+ So sánh người đồng mình “Sống như sông như suối”: khẳng định sức sống mãnh liệt của con người.

+ Sử dụng thành ngữ “lên thác xuống ghềnh” đối với câu khẳng định “không lo cực nhọc”: nhấn mạnh phẩm chất không ngại vượt khó của con người.

– Sức mạnh to lớn trong tinh thần:

+ Là con người thì ai cũng “thô sơ da thịt” nhưng lại chẳng ai “nhỏ bé”: ý chí lớn hơn thể chất.

+ Nhờ sức mạnh tinh thần, người Việt Nam tự tay xây dựng đất nước, vượt qua tất cả khó khăn trong hàng ngàn năm

+ Con người dựng nên quê hương, làm nên phong tục và cùng gìn giữ phong tục ấy không bị mai một.

c, Lời dặn dò đứa con phải nối tiếp những phẩm chất tốt đẹp, những truyền thống của dân tộc:

– Nhắc lại một lần nữa: “tuy thô sơ da thịt” nhưng không bao giờ được nhỏ bé, ý khẳng định dân tộc Việt Nam luôn kiên cường sống ngẩng cao đầu, đương đầu với khó khăn chứ không sống thấp hèn, luồn cúi.

– Khẳng định vẻ đẹp của con người miền núi nói riêng và dân tộc nói chung

– Nghệ thuật: sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh đặc sắc, mang đậm đặc trưng dân tộc miền núi phía Bắc, tạo sự khác biệt cho bài thơ.

Phân Tích Tình Cảm Cha Con Trong Bài Thơ “Nói Với Con” Của Y Phương

I. Mở bài:

Tình cảm gia đình, tình yêu đối với quê hương xứ sở là những tình cảm nguyên sơ nhưng cũng thiêng liêng nhất của con người Việt Nam. Lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ sau nối tiếp xứng đáng truyền thống của tổ tiên, dân tộc, quê hương là sự thể hiện cụ thể của tình cảm cao đẹp đó. Nhiều nhà thơ đã giãi bày những sắc thái tình cảm ấy lên trang giấy. Chúng ta bắt gặp trong bài thơ “nói với con” của tác giả Y Phương một cách diễn đạt mộc mạc, chân chất của người miền núi những lời tâm tình thiết tha, những lời dặn dò ân cần, chia sẻ  của người cha đối với con lòng tự hào về con người và quê hương yêu dấu của mình.

II. Thân bài:

Luận điểm 1:  Mở đầu bài thơ, bằng những lời tâm tình với con, Y Phương đã gợi về cội nguồn sinh dưỡng của  mỗi con người.

Mở đầu bài thơ, bằng những lời tâm tình với con, Y Phương đã gợi về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người.

Cội nguồn của hạnh phúc con người chính là gia đình và  quê hương – cái nôi êm để từ đó con lớn lên, trưởng thành với những nét đẹp trong tình cảm, tâm  hồn.Phải chăng đó là điều đầu tiên người cha muốn nói với đứa con của mình.

Ngay từ bốn câu thơ đầu tiên người cha đã gợi ra một hình ảnh đầm ấm của gia đình qua cách nói thật lạ:

Chân phải/ bước tới cha

Chân trái/ bước tới mẹ

Một bước / chạm tiếng nói

Hai bước / tới tiếng cười.

Nhịp thơ 2/ 3, cấu trúc đối xứng, nhiều từ được láy lại, tạo ra một âm điệu tươi vui, quấn quýt: chân phải – chân trái , rồi một bước – hai bước, rồi lại “tiếng nói – tiếng cười”….  Ta rất dễ hình dung một hình ảnh cụ thể thường gặp trong đời sống: đứa con đang tập đi, cha mẹ vây quanh mừng vui, hân hoan theo mỗi bước chân con. Từng bước đi, từng tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ chăm chút, nâng niu, đón nhận. Cả ngôi nhà như rung lên trong “tiếng nói, tiếng cười” củ cha, của mẹ. Tuy nhiên, đằng sau lời nói cụ thể đó, tác giả muốn khái quát một điều lớn hơn: con sinh ra trong hạnh phúc (cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới. Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời) và lớn lên bằng tình yêu thương, trong sự nâng đón, vỗ về, mong chờ của cha mẹ.  Những hình ảnh ấm êm với cha và mẹ, những âm thanh sống động, vui tươi với tiếng nói tiếng cười là những biểu hiện của  một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt, hạnh phúc tràn đầy. Hình ảnh ấm lòng này muôn thuở vẫn là khát vọng hạnh phúc của con người. Đó sẽ là hành trang quý báu đối với cuộc đời, tâm hồn con.

– Bên cạnh tình cảm gia đình thắm thiết, hạnh phúc, quê hương thơ mộng nghĩa tình và cuộc sống lao động trên quê hương cũng giúp con trưởng thành, giúp tâm hồn con được bồi đắp thêm lên.

+ Ở khổ thơ tiếp theo này, tác giả đã sử dụng những cách nói, những hình ảnh của người miền núi – nơi sinh dưỡng của chính mình – để nói những điều chân thực về quê hương rừng núi:

“Người đồng mình yêu lắm con ơi!

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát.”

+ Y Phương có cách gọi rất độc đáo về những con người quê hương: “người đồng mình”, một cách gọi rất gần gũi và thân thương. Cách gọi ấy gắn liền với lời đối thoại tha thiết “con ơi”.

+ Người cha đã có cách lí giải rất cụ thể của người dân tộc khiến người con có thể hiểu được: Người đồng mình đáng yêu như thế nào. Họ sống rất đẹp.  Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của “người đồng mình” – người bản mình- người buôn làng mình được gợi lên qua các hình ảnh đẹp, đậm sắc màu dân tộc.  Họ làm một cách nghệ thuật từ cá dụng cụ lao động để bắt cá thường ngày : “đan lờ cài nan hoa”. Trong căn nhà của họ, lúc nào cũng vang lên  tiếng hát: “vách nhà ken câu hát”. Những động từ “đan, ken, cài” rất gợi cảm bên cạnh giúp cho người đọc hình dung  được những công việc cụ thể của con người trên quê hương còn gợi ra tính chất gắn bó, hoà quyện, quấn quýt của con người và của quê hương, xứ sở.

+ Cuộc sống lao động ấy, sinh hoạt gia đình đầy niềm vui ấy được đặt trong cả một quê hương giàu đẹp, nghĩa tình. Quê hương của “người đồng mình” với hình ảnh rừng, một hình ảnh gắn liền với cảnh quan miền núi:

“Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng”.

Nếu như hình dung về một vùng núi cụ thể, chắc hẳn mỗi người có thể gắn nó với những hình ảnh khác cách nói của Y Phương: là thác lũ, là bạt ngàn cây hay rộn rã tiếng chim thú hoặc cả những âm thanh “gió gào ngàn, giọng nguồn thét núi”, những bí mật của rừng thiêng….. Nhưng Y Phương chỉ chọn một hình ảnh thôi, hình ảnh “hoa” để nói về cảnh quan của rừng. Nhưng hình ảnh ấy có sức gợi rấ lớn, gợi về những gì đẹp đẽ và tinh tuý nhất. Hoa trong “Nói với con” có thể là hoa thực – như một đặc điểm của rừng – và khi đặt trong mạch của bài thơ, hình ảnh này là một tín hiệu thẩm mĩ  góp phần diễn đạt điều tác giả đang muốn khái quát: chính những gì đẹp đẽ của quê hương đã hun đúc nên tâm hồn cao đẹp của con người ở đó.  Quê hương còn hiện diện trong những gì gần gũi, thân thương với con. Đó cũng chính là một  nguồn mạch yêu thương vẫn tha thiết chảy trong tâm hồn mỗi người, bởi “con đường cho những tấm lòng”.  Điệp từ “cho” mang nặng nghĩa tình. Thiên nhiên đã che chở, nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn cũng như lối sống của con người.

2. Luận điểm 2:  Lòng tự hào về vẻ đẹp của “người đồng mình”  và mong ước của người cha.

– Người đồng mình không chỉ “yêu lắm” với những hình ảnh đẹp đẽ, giản dị gợi nhắc cội nguồn sinh dưỡng tâm hồn, tình cảm, lối sống cho con người mà còn với những đức tính cao đẹp, đáng tự hào. Trong cái ngọt ngào kỉ niệm gia đình và quê hương, người cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất cao đẹp của con người quê hương.

+ Tổ hợp từ “người đồng mình” được lặp lại ba lần đã gây ấn tượng không phai mờ về con người quê hương. Lời gọi con thật tha thiết, lời nhắn nhủ thật chân thành: “Người đồng mình thương lắm con ơi!”

Đoạn thơ bắt đầu bằng cảm xúc “thương lắm con ơi”, đó là tình cảm yêu thương, yêu thương một cách xót xa. Người cha đã lần lượt ngợi ca những phẩm chất dễ thương của “người đồng mình”với cách nói vừa rất cụ thể của người dân miền núi: “Cao đo nỗi buồn. Xa nuôi chí lớn” vừa mang sức khái quát. Lấy sự từng trả (buồn) để đo chiều cao, lấy chí lớn để đánh giá độ xa.

+ Những hình ảnh cụ thể của thiên nhiên như : “sông, suối, thác, ghềnh” đã được người cha dùng với tính chất biểu trưng cho khó khăn, gian khổ vá sức mạnh vượt khó khăn gian khổ của những con người của quê hương.

+ Người đồng mình không sợ gian khổ, nghèo đói. Sự chấp nhận gian khổ ấy thể hiện trong điệp ngữ “không chê”, “không lo” và cách nói tha thiết: “vẫn muốn”. Và ông đã tự ví “người đồng mình”mạnh mẽ, hồn nhiên như sông như suối qua các hình ảnh cụ thể  “đá, thung, những thác những ghềnh …, dù có lên thác, xuống ghềnh vẫn không nhụt chí khí. Cặp từ trái nghĩa “lên, xuống” đã làm mạnh thêm sự diễn đạt này. Dù quê hương vất vả, nhọc nhằn, dù “người đồng mình” có thể có nỗi đau buồn rất lớn nhưng những người con của quê hương không bao giờ quay lưng lại với nơi mình đã từng chôn rau, cắt rốn, cha mẹ đã từng cáy xới vun trồng. Và phải chăng chính cuộc sống nhọc nhằn đầy nỗi khổ đau ấy lại khiến cho “chí lớn” thêm lên, thêm mãnh liệt?

– Gửi trong những lời tự hào không dấu giếm đó, người cha ước mong, hy vọng người con phải tiếp nối, phát huy truyền thống để tiếp tục sống có tình có nghĩa, thuỷ chung với quê hương đồng thời muốn con biết yêu quý, tự hào với truyền thống của quê hương.

– Phẩm chất của con người quê hương  còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong nhưng rất đúng với người miền núi:

“ Người đồng mình thô sơ đa thịt.

Chẳng mấy ai nhỏ bé được đâu con”

+ Đó là những con người sống giản dị mà mạnh mẽ, hồn nhiên mà mộc mạc. Người miền núi tuy có thể mộc mạc, thô sơ da thịt, có thể không biết nói khéo, không biết nói hay…  nhung ý nghĩ của họ, phẩm chất của họ thì thật là cao đẹp. Chính cái hồn nhiên mộc mạc ấy lại chứa đựng sức sống mạnh mẽ của dân tộc ; giầu chí khí, niềm tin,  không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí và  đặc biệt là khát vọng xây dựng quê hương. Ý chí và mong ước ấy được cô đúc trong hai câu thơ vừa có hình ảnh cụ thể lại vừa hàm chứa ý nghĩa sâu sắc:

Người đồng mình  tự đục đá kê cao quê hươn

Còn quê hương thì làm phong tục.

+ Việc “ đục đá” là khó, là đòi hỏi nghị lực, nhưng người quê hương ta đã làm,vẫn làm dể làm rạng rỡ quê hương. Chính những đức tính tốt đẹp cùng với sự lao động cần cù, nhẫn nại hàng ngày đã tạo nên sức mạnh để làm nên quê hương với truyền thống với phong tục tập quán tốt đẹp. Người cha đã tâm sự với con về tất cả những gì tốt đẹp nhất của người quê hương, nơi con đang sinh sống, cái nôi đang nuôi con khôn lớn, trưởng thành.

* Nói với con là  lời thủ thỉ tâm tình  của người cha với con về quê hương, 1 quê hương nhọc nhằn vất vả đã nuôi dưỡng chí lớn cho những đứa con. Quê hương với sức sống giản dị mà mãnh liệt, hồn nhiên mà mạnh mẽ. Tất cả được thể hiện qua thể thơ tự do với những từ ngữ, hình ảnh mộc mạc, cụ thể nhưng lại có sức khái quát sâu sắc.Gửi trong những lời tự hào không dấu giếm đó, người cha ước mong, hy vọng người con phải tiếp nối, phát huy truyền thống để tiếp tục sống có tình có nghĩa, thuỷ chung với quê hương đồng thời muốn con biết yêu quý, tự hào với truyền thống của quê hương.

– Không chỉ gửi mong ước của mình đầy tự hào, kết thúc bài thơ, người cha còn bộc lộ trực tiếp niềm mong ước này trong lời thủ thỉ dặn dò con thiết tha, chân tình, trìu mến trong tiếng gọi “con ơi!” và lời nhắn nhủ “nghe con”. Song cái điều người cha nói với con thì thật là ngắn gọn, hàm súc mà sâu sắc, đồng thời lại có chút nghiêm nghị của mệnh lệnh trái tim:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con.

Câu thơ ngắn lại như khắc sâu, có câu chỉ có hai tiếng. Điều mà người cha muốn khuyên con qua cách nhắc lại một phẩm chất của người đồng mình đã nêu ở trên: nghĩa là phải sống cho cao đẹp. Trong những lời thơ cuối cùng ấy, người cha dặn dò con cần tự tin mà vững bước trên đường đời, tiếp nối những truyền thống tốt đẹp của “người đồng mình”.Con sống được như thế chính là con phát huy được truyền thống tốt đẹp của cha ông, của quê hương yêu dấu.

Kết luận:

Bài thơ “Nói với con” của Y Phương giúp chúng ta cảm nhận vẻ đẹp của một áng thơ về tình cha con cao quý, xúc động, góp thêm một tiếng nói yêu thương của cha mẹ đối với con cái cũng như những kì vọng lớn lao, mong muốn thế hệ sau sẽ kế tục, phát triển những truyền thống quý báu của quê hương. Bằng cách diễn đạt mộc mạc, thô sơ, bằng những hình ảnh cụ thể mà giàu sức khái quát bài thơ đã thể hiện một cách độc đáo mà cũng thật thấm thía về tình cảm thiết tha sâu sắc nhất của con người : tình cảm gia đình và tình yêu quê hương xứ sở. Trong lòng ta như ngân lên câu hát: “Ba sẽ là cánh chim. Cho con bay thật xa…. Ba sẽ là lá chắn. Che chở suốt đời con….”.

Cảm Nhận Ý Nghĩa Đoạn 2 Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương

Ý nghĩa đoạn 2 bài thơ “Nói với con” của Y Phương

“Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con”. 

(Nói với con – Y Phương)

Cảm nhận ý nghĩa đoạn thơ trên. Từ đó hãy liên hệ vói khổ thơ hoặc đoạn thơ khác bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương mà em biết để thấy điểm gặp gỡ giữa những tác giả khi viết về nội dung này.

Mở bài:

Y Phương quê ở Cao Bằng, người dân tộc Tày, thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. Tác phẩm được viết năm 1980, in trong tập Thơ Nam 1945, là lời tâm sự của tác giả với đứa con gái đầu lòng và với chính bản thân. Đặc biệt đoạn 2 của bài thơ: “Người đồng mình thương lắm con ơi… Nghe con” không chỉ là lời dặn dò đơn giản mà còn là tất cả tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương.

Thân bài:

Bằng những hình ảnh thơ đẹp, giản dị bằng cách nói cụ thể, độc đáo mà gần gũi của người miền núi, người cha muốn nói với con rằng:vòng tay yêu thương của cha mẹ, gia đình, nghĩa tình sâu nặng của quê hương làng bản. Đó là cái nôi đã nuôi con khôn lớn, là cội nguồn sinh dưỡng của con. Con hãy khắc ghi điều đó.

Trong cái ngọt ngào của kỉ niệm về gia đình và quê hương,người cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình.  Điệp ngữ “người đồng mình” có thể nói là điểm nhấn khá quan trọng của thi phẩm này. “Người đồng mình” là cha mẹ, là đồng bào, những người cùng quê hương, dân tộc Tày, Nùng.

Với lời nói mộc mạc, giản dị, hình ảnh cụ thể, những điệp ngữ, điệp từ, cách sử dụng cụ thể, kết họp với nhiều kiểu câu ngắn, dài khác nhau, tác giả gợi bao tình yêu thương về người đồng mình. “Người đồng mình” sống vất vả, nghèo đói, cực nhọc, lam lũ nhưng lạc quan, chân chất, yêu đời, mạnh mẽ, khoáng đạt với chí lớn, luôn yêu quý, tự hào và gắn bó với quê hương. Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước: Người cha muốn giáo dục cho con sống phải có nghĩa tình, chung thủy với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua gian nan thử thách bằng ý chí và niềm tin của mình:

“Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn”

Người đồng minh sống vất vả mà mạnh mẽ, khoáng đạt, bền bỉ, gắn bó với quê hương, thủy chung với nơi chôn nhau cắt rốn cho dù quê hương còn cực nhọc, đói nghèo. Biết lấy chiều “cao” (để) đo nỗi khoảng cách “xa” (để) “nuôi chí lớn”, không bao giờ lùi bước trước mọi thử thách, khó khăn, tâm càng sáng, chí càng cao, tầm nhìn càng xa rộng, tràn đầy niềm vui và lòng lạc quan.

Người đồng mình mộc mạc, dung dị, giàu ý chí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” – mộc mạc thô sơ trong dáng hình, cử chỉ; trong cách ăn mặc giản dị, cuộc sống thiếu thốn nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn và ý chí. Họ biết lo toan và mong ước: “Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí lớn”. Họ biết tự lực, tự cường xây dựng quê hương duy trì truyền thống với những tập quán tốt đẹp của người đồng mình. Lấy cái cao, cái xa của đất trời để làm thước đo kích cỡ của nỗi buồn và chí hướng. Những nỗi niềm và khát vọng của họ mang tầm vóc của núi cao sông dài:

“Sống trên đả không chê đả gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc”.

Người đồng mình là thế đấy. Tuy không giàu có nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, chẳng mấy ai cúi đầu khuất phục trước khó khăn, thử thách. Từ đó, người cha mong muốn con phải có nghĩa tình chung thủy với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua khó khăn, thử thách bằng ý chí, nghị lực và niềm tin của mình. Người cha muốn con hiểu và giữ được bản sắc của “người đồng mình” dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhà thơ cũng gợi ra những đức tính, phẩm chất đáng quý của “người đồng mình” như chấp nhận khó khăn, thử thách, hồn nhiên, mạnh mẽ, bền bỉ và phóng khoáng:

“Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc”.

Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sống trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.

Đoạn thơ rất dồi dào nhạc điệu, tạo nên bởi điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc câu và nhịp thơ rất linh hoạt, lúc vươn dài, khi rút ngắn, lời thơ giản dị, chắc nịch mà lay động, thấm thía, có tính truyền cảm mạnh mẽ, thái độ rất đỗi tự hào. Để nhắc nhở giáo dục con, người cha nhấn mạnh truyền thống người đồng mình:       •

“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục”.

Câu thơ có hai lớp nghĩa: nghĩa tả thực: “Đục đá kê cao là hoạt động cố thực thường thấy ở miền núi. Quê hương vốn là khái niệm trừu tượng, chỉ nơi chốn sinh thành của một người nào đó; nghĩa ẩn dụ: nói “đập đá kê cao quê hương” là muốn khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức xây dựng bảo tồn quê hương, vãn hóa, cội nguồn, góp phần tạo nên phong tục, truyền thống đẹp đẽ của quê hương.

Một loạt các hình ảnh rất quen thuộc trong cuộc sống của con người vùng cao: đá, thung, ghềnh, thác, suối, sông. Đó là không gian gần gũi của họ, đó cũng là những hình ảnh diễn tả những khó khăn chồng chất, là cái nghèo cái khó trong cuộc sống lam lũ của con người quê hương. Những câu thơ với nhiều âm tiết khép, nhiều thanh trắc, cách ngắt nhịp dài ngắn không đều nhau, làm cho giọng thơ khi vươn dài đầy gắng gỏi, khi rút ngắn một cách chắc nịch, vừa gợi lên cải nhọc nhằn gian khó của cuộc sống, lại vừa thể hiện sự cứng cỏi, vững vàng đầy mạnh mẽ của con người quê hương.

Bên cạnh những hình ảnh diễn tả sự khó khăn chồng chất, điệp từ “sống” đặt lên đầu mỗi câu thơ đã thể hiện cái tư thế kiêu hãnh hiên ngang của con người quê hương. Họ dám chấp nhận tất cả, dám đương đầu với mọi khó khăn thử thách. Họ luôn sống mạnh mẽ, cứng cỏi, khoáng đạt như sông như suối, luôn gắn bó bền bỉ, thủy chung với quê hương cho dù đó. còn là một quê hương nghèo khó, vất vả.

“Đá” xuất hiện trong thơ Y Phương như một hình tượng đầy sức ám ảnh. Gập ghềnh gian khó là đá, cứng cỏi hiên ngang cũng là đá. Câu thơ là một cách nói mang đậm dấu ấn tư duy của người vùng cao. Lời thơ gân guốc, hình ảnh thơ vừa cụ thể vừa giàu tính khái quát, làm rạng ngời lên vẻ đẹp của con người quê hương: vẻ đẹp của sự cần cù nhẫn nại, ý chí bền bỉ, nghị lực phi thường vẻ đẹp của sức manh tự cường, tinh thần tự chủ, bằng bàn tay khối óc, bằng ý chí, niềm tin và khát vọng, họ đã làm nên một quê hương với những truyền thống tốt đẹp, đáng tự hào.

Ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, cha mong con sống có tình nghĩa với quê hương, phải giữ đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của cha ông từ bao đời để lại. Hơn nữa, con phải biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình. Người cha muốn con hiểu và cảm thông với cuộc sống khó khăn của quê hương, tự hào về truyền thống quê hương, tự hào về dân tộc để vững bước trên con đường đời, để tự tin trong cuộc sống.

Hãy tự hào về quê hương, hãy sống có ý chí và khát vọng, hãy luôn ngẩng cao đầu và bước đi bằng niềm tin, nghị lực của chính mình. Đó là cách để con sống xứng đáng với quê hương, vẫn giọng thơ tha thiết nhưng có cả sự nghiêm nghị, rắn rỏi. Đó là những lời dặn dò ân càn tha thiết, nhưng cũng là một mệnh lệnh: hãy tự tin vững bước trên đường đời dài rộng bằng chí khí mạnh mẽ ‘và tâm hồn lớn lao. Hãy sống xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của quê hương.

Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ, dặn dò của người cha mong muốn con mình phải tự hào về truyền thống tốt đẹp cửa quê hương, hãy lấy những tình cảm đó làm hành trang để “lên đường”, vững bước trên đường đời:

“Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con”.

Nếu phần một của bài thơ là một khúc hát nhẹ nhàng, tươi vui với hoa ngan ngát, với những tiếng ríu rít tiếng nói cười, với bao nghĩa tình thơm thảo, thi phần hai là một bản hành khúc vừa tha thiết vừa mạnh mẽ, mang âm hưởng của thác ghềnh, sông suối, mang theo cả hơi thở, cả chí khí, niềm tin, sức mạnh của con người quê hương. Qua đó, người cha muốn trao gửi cho con niềm tin yêu, khát vọng.

Hình ảnh “thô sơ da thịt”lặp lại hai lần như muốn con khắc ghi người đồng mình tuy mộc mạc, chân chất nhưng có lẽ sống cao đẹp. Trên đường đời con phải sống cao thượng, tự trọng để xứng đáng với họ. Con “bao giờ nhỏ bé được” dù con đường phía trước còn nhiều chông gai. Con hãy tự tin bước đi, bởi sau lưng con có gia đinh, quê hương, bởi trong tim con sẵn ẩn chứa những phẩm chất quý báu của người đồng minh.

Hai tiếng “Nghe con” chứa đựng tấm lòng yêu thương, ki vọng và niềm tin sâu nặng cha đặt nơi con: mong con biết sống sao cho tốt, cho xứng đáng vói tình cảm của cha. Hai tiếng ấy khép lại bài thơ để lại một dư âm nhẹ nhàng mà âm vang xao xuyến: mong con sống có tình nghĩa, biết chấp nhận gian khó, vươn lên bằng ý chí của mình, vững vàng trên đường đời. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con chính là lòng tự hào với quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời. Nói với con mà chính là cha đã trao tặng cho con. Cha đã vun đắp cho con những tình cảm tốt đẹp, cho con một hành trang quý và đã sẵn sàng tung cánh cho con bay đi khắp mọi nơi.

Bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương không chỉ có tác phẩm Nói với con của Y Phương. Đoạn thơ “Mùa xuân người cầm súng.,. Cứ đi lên phía trước” trích trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đã thể hiện những cảm xúc đầy ấn tượng.

Đoạn thơ thể hiện sự liên tưởng của tác giả đến mùa xuân đất nước với một niềm tự hào, xúc động thiêng liêng về lịch sử bốn nghìn năm dẫu “vất vả và gian lao nhưng vẫn lấp lánh, trường tồn, bất diệt. Hình ảnh đất nước nổi bật với không khí náo nức, khẩn trương khi bước vào mùa xuân mới vừa bảo vệ vừa dựng xây Tổ quốc. Hai nhiệm vụ ấy đặt nặng lên vai của “người cầm súng” và “người ra đồng”, những người đã gieo mùa xuân, bảo vệ mùa xuân, tạo nên sức sống mùa xuân trên mọi miền đất nước.

Khát vọng cống hiến mùa xuân, tuổi trẻ cho đất nước được biểu hiện bằng thể thơ năm chữ nhẹ nhàng, tha thiết, hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát, ngôn ngữ thơ trong sáng, gợi tả, gợi cảm, phát huy triệt để giá trị các hình thức điệp và biện pháp tu từ khác như ẩn dụ, hoán dụ… Hai đoạn thơ đều bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương. Cả hai đoạn thơ đều giúp người đọc nhận thức sâu sắc hom về giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, cũng như thấm thìa hơn tình cảm của tác giả thể hiện trong bài thơ.

Kết bài:

Đoạn 2 bài thơ “Nói với con” mang giọng điệu thủ thỉ, tâm tình tha thiết, trìu mến hay có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn, dù thể hiện tình yêu thương sâu sắc của cha mẹ dành cho con cái hay những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân và khát vọng được cống hiến cho đất nước, cuộc đời; cả hai bài thơ đều đã bộc lộ được niềm tự hào về quê hương đất nước và lời nhắn gửi cũng như lòng tín mãnh liệt vào những giá trị tích cực vĩnh cửu của dân tộc. Điều đó đã khiến hai thi phẩm sau bao nhiêu năm vẫn quyến luyến được thêm nhiều tâm hồn đồng điệu vói thi nhân.