Top 5 # Xem Nhiều Nhất Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Trao Duyên Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Trao Duyên

Đề bài: Cảm nhận về đoạn thơ Trao duyên

Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ chân tình, thuần hậu để nói chuyện với Thúy Vân. Từ “cậy” được sử dụng thật đặc sắc, là “cậy” chứ không phải “nhờ”, người được “cậy” khó lòng từ chối. Thúy Kiều đã đặt hết niềm tin tưởng của mình vào Thúy Vân và Thúy Vân không thể thoái thác được và phải “chịu lời”. Kiều đã đặt Vân lên vị trí cao hơn, hạ mình xuống như để van nài, kêu xin. Không có người chị nào lại xưng hô với em mình bằng những từ ngữ tôn kính chỉ dùng với bề trên như “thưa, lạy”. Kiều muốn chuẩnbị tâm lí cho Vân để đón nhận một chuyện hệ trọng mà nàng chuẩn bị nhờ cậy em bởi nàng hiểu rằng việcmà nàng sắp nói ra đây là rất khó khăn với Vân và cũng là một việc rất tế nhị:

Từng từ được thốt ra đều được nhân vật cân nhắc kĩ càng, chọn lọc, Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ rất “đắt”. Cái hay, cái sắc của từ ngữ cũng chính là cái tinh tế trong thế giới nội tâm mà Nguyễn Du muốndiễn tả. Sự chọn lọc chính xác ấy cho ta thấy Kiều đã suy nghĩ rất nhiều, rất kĩ rồi mới quyết định trao mối nhân duyên mà nàng đã từng mong ước sẽ “đơm hoa kết trái”, mối nhân duyên mà nàng mong ước sẽđược lâu bền lại cho Thúy Vân:

“Gánh tương tư” là của chị, tình yêu sâu nặng là của chị nhưng giờ giữa đường lại “đứt gánh” còn đâu. Tơduyên là của chị, khi đến với em nó đã là “tơ từa”. Chị hiểu em tuổi còn trẻ có thể chưa biết đến tình yêu. Đáng lẽ em còn được hưởng bao mật ngọt của tình yêu nhưng xin em hãy xót người chị bạc mệnh này màđáp nghĩa cùng chàng Kim. Ôi! Lời của Kiều thật thống thiết. Cái băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên. Cái ray rứt của Kiều là ray rứt cho Thúy Vân phải “chắp mối tơ thừa” của mình. Từ “mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em, mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiêm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mìnhnơi Vân.

Từ “khi” được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh tình cảm mà Kiều dành cho Kim Trọng nào đâu phải tình cảm một sớm một chiều. Những kỉ niệm đẹp giữa nàng và Kim Trọng như sống lại trong những câu thơ “ngày hẹn ước, đêm chén thề”. Câu thơ ẩn chứa những tình cảm ngọt ngào, những niềm vui nhưng cũng nghe như tiếng nấc nghẹn của Thúy Kiều, những kỉ niệm đẹp ấy sẽ kết thúc, chỉ còn lại chuỗi ngày bi thảm tiếp sau.”Sự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai” “Sóng gió bất kì” là khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, Kiều phải bán mình chuộc cha và em. Những biến cố xảy ra liên tục, đẩy Kiều vào chỗ bế tắc, là người chị cả, Kiều phải hi sinh bản thân mình để gia đình được đoàn tụ, êm ấm, bởi lẽ: “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”.Chữ Hiếu là một phạm trù đạo đức trong đạo Nho, vì hiếu con người ta phải dẹp bỏ tình riêng, là một quan niệm đạo đức phổ biến của người xưa. Và Kiều cũng thế, nàng không bao giờ cho phép mình trở thành người con bất hiếu. Nàng đã chôn vùi tình cảm riêng tư để báo hiếu cho cha mẹ:

Khi đã quyết định bán thân chuộc cha và em, Kiều lại nhớ đến Kim Trọng, nàng tự thấy mình là người phản bội, không xứng đáng với chàng:

Ở đời, phàm, người ta thường hi sinh tất cả mọi thứ vì tình yêu. Là người ai chẳng khát khao được gắn bóvới người mình yêu. Và ở người con gái đa sầu đa cảm như Kiều thì khát vọng ấy lại càng mạnh mẽ gấp bội, vì tình yêu nàng đã từng vượt qua cả lễ giáo p hong kiến khắc khe nhất để “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Vậy mà giờ Kiều lại đành lòng vứt bỏ, thật đau đớn xiết bao! Nhưng vì:

Có lẽ chỉ có những người con gái mang trong mình trái tim bao dung như Thuý Kiều mới đủ sức mạnh để làm những việc tưởng chừng khó khăn nhất như thế! Sợ chưa thuyết phục được em, Kiều đã dùng hết lý lẽ, sự tỉnh táo nhất của lí trí để trải lòng cùng em:

Đúng vậy, Thúy Vân còn trẻ, còn nhiều thời gian vun đắp cho tình cảm riêng tư nên xin hãy nhận lời chị kết duyên cùng chàng Kim. Để thêm thuyết phục và Vân không thể chối từ, Kiều đã đem “tình máu mủ” ra để cầu xin Vân. “Máu chảy ruột mềm” còn gì thiêng liêng hơn tình chị em gắn bó, ruột thịt. Em hãy giúp chị thay “lời nước non” cùng chàng. Kiều cũng đã đặt mình vào địa vị của Vân, phải kết duyên cùng người mình không quen biết, mà còn là người yêu của chị mình, ta có thể cảm nhận ở đây Thúy Vân là người thiệt thòi nhất…Tuổi của Kiều và Vân xấp xỉ nhau “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” thế nhưng đối với Kiều giờ đây, tuổi xuân của nàng đã kết thúc. Khoảng thời gian xuân xanh đẹp đẽ giữa nàng và Kim Trọng nay chỉ còn là những kỉ niệm mà không có tương lai. “Trao duyên” cho em, nghe thật kì lạ nhưng trong hoàn cảnh của Kim,Vân, Kiều thì đây là một việc không khó hiểu trong xã hội phong kiến ngày xưa. Những dòng nước mắt không thể chảy ra nhưng cứ âm ỉ, phảng phất trong từng câu, từng chữ… Nỗi đau đớn đến xé lòng nhưng vẫn phải dằn xuống, kìm nén để nói những lời trao duyên cho em. Thât đau xót thay! Chữ* Tình đối với Kiều vô cùng quan trọng, thế nhưng nàng lại từ bỏ nó để làm tròn chữ Hiếu. Mất đi tình yêu đối với nàng là mất đi tất cả. Nói đến đây Kiều tưởng như cuộc đời mình đã kết thúc, không còn gì để luyến tiếc, níu giữ:

Bản thân phải hi sinh, Kiều không đắn đo thiệt hơn, nhưng khi nhờ cậy đến em gái thì đó là một cái ơn lớn* đối với nàng. Cho nên lời nhờ cậy của Kiều thật thiết tha, lời cảm tạ của Kiều thật sâu sắc, cảm động. Xét về ngôn từ thì lời nói của Kiều khẩn thiết mà vẫn đúng mực, kêu nài mà vẫn chí nghĩa chí tình. Nhờ cậy thì vịn đến tình máu mủ ruột thịt. Cảm tạ thì đề cao ơn nghĩa của Thúy Vân và nói đến sự bạc mệnh của mình. Kiều quả thật là người “sắc sảo mặn mà”.Kiều đã hi sinh tất cả, kể cả cuộc đời nàng đang độ xuân xanh vì gia đình. Thuý Vân dù có vô tư đến đâu cũng có thể hiểu nỗi đau và sự hi sinh quá lớn của chị nên chắc chắn rằng nàng không thể khước từ và chỉngậm ngùi đồng ý nhận duyên từ chị. Có lẽ vì thế nên ngay từ đầu chúng ta không nghe một lời đối thoại nào của Vân mà chỉ nghe những lời thuyết phục, van nài và bộc bạch nơi Kiều. Vân đã chấp thuận.Khi trao duyên cho em xong, Kiều đã nghĩ đến cái chết: “thịt nát xương mòn, ngậm cười chín suối”. Cuộcđời nàng sau khi báo đáp ơn nghĩa sinh thành thì coi như chấm dứt. bởi lẽ mất đi tình yêu là nàng đã mất tất cả, mất hi vọng, mất định hướng, linh hồn nàng như tê dại và đông cứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời đầy tăm tối ở ngày mai.Xã hội phong kiến thối nát đã chia rẽ tình yêu đôi lứa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, chà đạp lên số phận của người phụ nữ, những con người xinh đẹp, tài hoa.”Đau đớn thay phận đàn bàHỡi ôi thân ấy biết là mấy thân!”kiếp số của họ:”Trăm năm trong cõi người taChữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”Qua đoạn trích “Trao duyên”, ta nhận thấy Nguyễn Du thật sự là một bậc đại tài trong việc thấu hiểu từngkhía cạnh tinh tế nhất của tâm can con người. Chính sự thấu hiểu sâu sắc ấy cùng với nghệ thuật dùng từ điêu luyện, đã khiến tác phẩm của Nguyễn Du* tồn tại như một giá trị vĩnh cửu vượt qua tất cả thử thách khắt khe của thời gian, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng đối tượng tiếp nhận, đã khiến cho triệu vạn người phải rơi nước mắt khóc than cho số phận nàng Kiều:

Ngàn năm sau nhớ Nguyễn DuTiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”(Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu)Hay như Mộng Liên Đường cũng đã từng nhận xét: “Nguyễn Du viết Truyện Kiều như có máu rỏ lên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy”, quả thật không ngoa chút nào!Các từ khóa trọng tâm ” cần nhớ ” của bài viết trên hoặc ” cách đặt đề bài ” khác của bài viết trên.

Trình Bày Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Trao Duyên

Khi cảm nhận Trao duyên cũng như tìm hiểu về giá trị nội dung và thẩm mỹ và làm đẹp của Truyện Kiều nói chung và trích đoạn Trao duyên nói riêng, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Nguyễn Du (sinh vào năm 1765 – mất năm 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Ông quê ở TP. Hà Tĩnh nhưng thật ra đại thi hào dân tộc bản địa Nguyễn Du đã được tiếp nhận tinh hoa từ rất nhiều vùng đất: miền quê TP. Hà Tĩnh quê cha của ông vốn rất nổi tiếng là vùng đất địa linh nhân kiệt, truyền thống hát quan họ từ bao đời nay ở quê mẹ vùng Kinh Bắc đã vun vén cho ông những cảm tình da diết.

Nguyễn Du sinh ra và trưởng thành ở kinh thành Thăng Long ngàn năm văn hiến, đến sau này lấy vợ quê Tỉnh Thái Bình, ông được có dịp được tiếp xúc với truyền thống văn hóa truyền thống của một vùng đất đồng lúa mênh mông. Với mỗi vùng đất, Nguyễn Du đều phải sở hữu những ấn tượng sâu đậm và đó cũng là suối nguồn ngọt ngào về văn hóa truyền thống, thẩm mỹ và làm đẹp giúp bồi đắp và hình thành nơi ông một phong cách sáng tác độc đáo.

Những kiệt tác của ông là những sáng tác tiêu biểu ở cả mảng chữ Hán và chữ Nôm. Về chữ Hán, có những tập thơ tiêu biểu như: “Thanh Hiên tiền hậu tập”, “Nam trung tạp ngâm”, “Bắc hành tạp lục”. Còn về chữ Nôm, có thể nói về một số tác phẩm như: “Truyện Kiều”, “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Thác lời trai phường nón” … Đây đều là những tác phẩm để lại tiếng vang trong thâm tâm người đọc và với những đóng góp nổi bật cho văn học Việt Nam, Nguyễn Du xứng danh với danh xưng là một tác gia được ngưỡng vọng đến muôn đời.

“Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

Cảm nhận Trao duyên để thấy đây là đoạn trích gồm có những câu thơ từ câu 723 đến câu 756 trong kiệt tác “Truyện Kiều”. Đoạn trích có sự hiện hữu của hai nhân vật Thúy Kiều và Thúy Vân trong hoàn cảnh đặc biệt quan trọng: gia đình có biến, để việc nhà ổn thỏa Thúy Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh và bỏ lỡ cuộc tình với Kim Trọng. Trong đêm trước thời gian ngày rời xa gia đình và người thương, Thúy Kiều đã cậy nhờ em trả nghĩa cho Kim Trọng.

Cảm nhận Trao duyên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Khi cảm nhận Trao duyên, ta thấy ngay thảm kịch tình yêu dang dở cùng với những nỗi khổ đau tận cùng vì phải hi sinh chữ tình của nàng Kiều. Những tâm tư trao gửi với Thúy Vân đó chính là những nỗi niềm sâu thẳm mà nhói lòng của nàng Kiều.

Viết hai câu thơ mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã thể hiện lời mở đầu của Thủy Kiều với Thúy Vân rất đỗi tâm thành:

“Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ thời điểm gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề. Sự đâu sóng gió bất kì, Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.”

Hai từ “cậy em” của Thúy Kiều đã làm toát lên sự tin tưởng đến mức tuyệt đối của Thúy Kiều ở người em gái thân yêu. Phải chăng, hơn hết sự nhờ cậy, Kiều mong rằng Thúy Vân sẽ sở hữu thể thông cảm và sẻ chia cho tình cảnh của chị. Chưa rõ việc Thúy Kiều sắp nói ra đây là gì nhưng dường như với Kiều, đó là một việc không hề giản đơn nên trong lời mở đầu ấy chứa đựng sự dằn vặt, day dứt và mới khiến Kiều trở nên băn khoăn, ngập ngừng đến như vậy.

Câu thơ tiếp theo càng tỏ rõ tính chất nghiêm trọng của vấn đề mà Kiều sắp nói, bởi có nghiêm trọng thì Kiều mới đưa ra lời đề nghị khác thường như vậy: “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Kiều mời Vân “ngồi lên”, nàng “lạy” rồi mới thưa chuyện cùng em. Khi cảm nhận Trao duyên ta thấy, qua hành động ấy Kiều rất trông đợi sự giúp đỡ của Vân, nàng xem Vân như thể một ân nhân và mong muốn vị ân nhân ấy sẽ sở hữu thể lắng nghe và đồng cảm cùng với tâm tư, nỗi niềm mà mình sắp thổ lộ.

Những biểu hiện của Kiều trong cuộc đối thoại sắp diễn ra với Thúy Vân đã hỗ trợ cho không khí của thời khắc “trao duyên” trở nên trang trọng hơn bao giờ hết. Trước nay, Kiều và Vân là chị em rất mực gần gũi, thân thiết nhưng sự gần gũi và thân thiết ấy không có nghĩa sẽ làm cho Kiều nói ra một cách tự nhiên và suôn sẻ những gì đang trĩu nặng trong thâm tâm. Thế nên, cách dẫn dắt tinh tế và thâm thúy ấy ở Thúy Kiều đã trở thành điều khiến Vân không thể không chú ý, không để tâm đến những lời mà chị mình sắp nói ra.

Cảm nhận Trao duyên, người đọc nhận thấy khi Thúy Kiều kể lại những kí ức tươi đẹp về một tình yêu hẹn ước trăm năm của mình và Kim Trọng là những cảm xúc xót xa tiếc nuối. Một mối tình đột ngột bị dòng đời xô đẩy phân cách khiến cho nó buộc phải “giữa đường đứt gánh tương tư”. Nhắc lại chuyện ấy, Kiều không khỏi đau xót, chua chát tiếc nuối những tháng ngày được sống niềm sung sướng với tình yêu của mình.

Tình yêu ấy của nàng lại sở hữu số phận vô cùng ngắn ngủi. Chính cách sử dụng thành ngữ “giữa đường đứt gánh” và khái niệm trừu tượng chỉ tình yêu của Kiều “gánh tương tư”, tác giả đã góp phần diễn tả rõ nét nỗi đau đớn, xót xa trong thâm tâm Kiều khi phải nhìn thấy với việc thật không thể khác được: chia xa một người đã từng gắn bó khăng khít, đã từng có những lời giao ước thiêng liêng và những ân tình sâu đậm.

Lí do dẫn tới việc việc tình yêu bị chia cắt nói trên trên là bởi hoàn cảnh éo le bắt buộc Kiều phải lựa chọn: “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Khi cảm nhận Trao duyên, người đọc nhận thấy giữa chữ hiếu thiêng liêng và tình yêu sâu nặng, Kiều không thể làm khác được nên đành hi sinh tình yêu để vẹn tròn chữ hiếu. Khi nói lên điều này, có lẽ Kiều nghĩ rằng Vân sẽ hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của mình mà chấp thuận những mong muốn về sau của nàng.

Tiếp đó, Kiều đã trao kỷ vật cho em sau những lí lẽ thật thuyết phục:

“Dù em nên vợ nên chồng Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên. Mất người còn chút của tin Phím đàn với mảnh hương nguyền xa xưa Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy so tơ phím này Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị về Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân liễu bồ đền nghì trúc mai Dạ đài cách mặt khuất lời, Rưới xin giọt nước cho tất cả những người thác oan.”

Khi nói đến việc “Ngày xuân em hãy còn dài” Thúy Kiều muốn đề cập trong thời gian tháng rất dài và rộng của tuổi trẻ em có và cái “duyên” Kiều gửi gắm chắc sẽ mang đến thú vui, niềm sung sướng cho em. Thổ lộ vấn đề đó, Kiều đã và đang kịp nhìn lại phận mình và thể hiện sự tủi thân vì biết rằng tuổi xuân của tôi cũng sẽ mất đi cùng với việc chia tay tình yêu.

Sau đó, Kiều không quên nương dựa vào tình máu mủ chị em ruột thịt để mong em nhận lấy một trách nhiệm không hề thuận tiện dàng chút nào. Lí lẽ ấy thật không thuận tiện để người khác từ chối vì ai lại nỡ lắc đầu khi người nhờ đến mình lại là một người chị đã từng hết mực gắn bó và yêu thương. Kiều cũng không ngại nhắc về cái chết để mong Vân hiểu rằng, chỉ khi em gật đầu “mối tơ thừa” ngang trái, Kiều mới có thể nhẹ lòng và dù có chết cũng cảm thấy thanh thản, mãn nguyện mà “ngậm cười hoàng tuyền hãy còn thơm lây”.

Sau lúc đưa ra hàng loạt những cơ sở để sở hữu thể thuyết phục em, Kiều mới bắt đầu trao em những kỷ vật đã khắc ghi ân tình sâu đậm của nàng. Đó là bức tờ mây ghi lời thề nguyền chung thủy và chiếc vành mà Kim Trọng đã trao để mong nàng giữ lấy làm tin. Nhưng cách trao kỷ vật của Kiều cũng hết sức đặc biệt quan trọng. Kiều mong mối “duyên” tình của nàng và Kim Trọng Thúy Vân có thể thay nàng giữ lấy nhưng hãy xem “vật này” là “của chung”.

“Giờ đây trâm gãy gương tan, Kể làm thế nào xiết muôn vàn ân ái! Trăm nghìn gửi lạy tình quân, Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! Phận sao phận bạc như vôi! Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Rõ ràng, trong cách nói của Thúy Kiều đã thể hiện sự quyến luyến, quyến luyến với tình yêu thiêng liêng của mình. Cảm nhận Trao duyên người đọc cũng nhận ra rằng Thúy Kiều gật đầu chia tay người yêu nhưng nhờ em để mình cùng sở hữu những kỷ vật ấy vì nó sẽ giúp nàng hồi tưởng lại những tháng ngày niềm sung sướng êm đềm, chỉ vậy thôi là Kiều đã cảm thấy an lòng.

Không chỉ trao kỷ vật cho em, Kiều còn dặn dò em rất chu đáo:

Thế giới u tối ấy tuy có sự tương phản với cuộc sống “nên vợ nên chồng” của em nhưng Kiều cũng gật đầu đầy vương vấn. Kiều cảm nhận rõ nét số phận bi thảm của mình nên nói với Vân mà cứ như trong trạng thái của người nửa tỉnh, nửa mê, nửa đang sống, nửa như đã chết.

Cuối cùng, những tâm tư sâu kín nhất, Kiều giành riêng cho Kim Trọng:

Cảm nhận Trao duyên, ta thấy nàng Kiều ý thức rất rõ ràng về hoàn cảnh “trâm gãy gương tan” của mình, cả cái “tơ duyên ngắn ngủi” nên những vần thơ của tác giả tựa hồ như thể hiện tiếng khóc day dứt của Kiều vì “phận bạc” và số kiếp “nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tột cùng của việc đau khổ là tiếng nấc đến nghẹn lòng khi Kiều gọi tên người yêu: “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang”.

Sau nỗ lực nói cho thật rõ, thật tròn vành cái tên thân thương ấy, Kiều thú nhận rằng nàng đã khiến cho Trọng đau đớn. Thật ra lời thú nhận ấy đã và đang cho thấy ở Kiều có ý thức nhận trách nhiệm về mọi việc đã xẩy ra. Điều này càng làm nổi bật ở nàng vẻ đẹp của một người giàu đức hi sinh và sự hùng vĩ, dù hoàn cảnh xấu số nhưng vẫn luôn đau đáu, khắc khoải khôn nguôi cho tình cảnh của người khác. Những câu thơ được viết với cách ngắt nhịp 3/3 và sự ngân dài của nhịp thơ đã tạo nên âm vang của tiếng khóc dằn vặt, nức nở.

Nhìn nhận và đánh giá về nội dung thẩm mỹ và làm đẹp khi cảm nhận Trao duyên

Nhìn nhận và đánh giá một cách tổng quát khi cảm nhận Trao duyên, về nội dung, đoạn trích đã thể hiện rõ nét ở nhân vật Thúy Kiều những phẩm chất vô cùng đáng quý: hi sinh vì gia đình và chu đáo với những người thương. Sát đó, đoạn trích còn làm toát lên nỗi đau đến xé lòng của Kiều khi phải chia tay mối tình đầu của một thời thanh xuân tươi đẹp.

Để thể hiện những nội dung nói trên, đoạn trích “Trao duyên” đã sử dụng cách miêu tả tâm lí nhân vật một cách tinh tế. Cùng với đó, việc chọn lọc hình thức ngôn ngữ độc thoại nội tâm cũng giúp tác giả chuyển tải được hết những nỗi niềm của nhân vật.

Dàn ý cảm nhận Trao duyên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Để cảm nhận một cách thâm thúy và đầy đủ về giá trị nội dung và thẩm mỹ và làm đẹp của trích đoạn, người đọc cần nắm được dàn ý đầy đủ khi cảm nhận Trao duyên.

Đôi nét về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều: Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc bản địa đồng thời cũng là danh nhân văn hóa truyền thống thế giới. Tác phẩm Truyện Kiều được xem là kiệt tác của nền văn học nước nhà và được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Giới thiệu đoạn trích Trao duyên về nội dung, vị trí, ý nghĩa.

Sự thuyết phục cùng những lời nhờ cậy của Thúy Kiều với Thúy Vân.

Những kỷ niệm tình yêu cùng sóng gió cuộc đời nàng Kiều.

Thúy Kiều đã trao kỉ vật và dặn dò với Thúy Vân.

Kiều trở về thực tại đau xót khi nhớ tới chàng Kim Trọng.

Tổng kết khái quát về nội dung và thẩm mỹ và làm đẹp của đoạn trích Trao duyên.

Thể hiện suy nghĩ cùng với những cảm nhận của chính bản thân mình về trích đoạn Trao duyên.

Khi cảm nhận Trao duyên, có thể thấy đại thi hào Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý và sự vận động trong nội tâm nhân vật. Như vậy, tác giả đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn khi đi sâu vào tìm hiểu tâm lý của nàng Kiều. Chỉ với “Trao duyên”, người đọc đã thấy được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Nhưng số phận trớ trêu thay, người con gái đáng trân trọng ấy vì chữ hiếu với mẹ cha mà phải hi sinh chữ tình, hi sinh đi niềm sung sướng lứa đôi của mình…

Cảm Nhận 12 Câu Đầu Bài Trao Duyên Ngữ Văn 10

Viết bài cảm nhận 12 câu đầu bài Trao Duyên truyện Kiều nằm trong chương trình ngữ văn 10 bậc THPT. Bài viết tác giả Nguyễn Hoa biên soạn và không trùng lặp nội dung trên mạng.

Cảm nhận 12 câu đầu bài Trao Duyên

Nguyễn Du là một trong những đại thi hao xuất sắc của dân tộc. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học đồ sộ với các tác phẩm bất hủ như: Thanh Hiên Thi tập; Nam Trung Tạp Ngâm; Bắc Hành Tạp Lục; Truyện Kiều;… Trong đó Truyện Kiều được xem là tác phẩm đỉnh cao để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả. Với ngòi bút điêu luyện, xuất sắc Truyện Kiều đã tái hiện bi ai và chua xót cuộc đời người con gái trong xã hội phong kiến xưa. Một trong những đoạn trích làm nên thành công đó của Truyện Kiều đó là đoạn trích Trao Duyên với 12 câu thơ đầu thấm đẫm nước mắt nghĩa tình.

Đoạn trích trao duyên nằm trong phần hai của bộ thơ kể về chuỗi ngày biến động và lưu lạc của Thúy Kiều. Mười hai câu thơ đầu chính là mở màn cho chuỗi ngày đầy xót thương ấy, là tiếng lòng tha thiết thẳm sâu Thúy Kiều gửi cậy lại cho Thúy Vân, nhờ em viết tiếp câu chuyện tình yêu Kim Kiều.

Mở đầu bài thơ đã vẽ ra một trớ trêu nghịch cảnh đến nhói lòng:

” Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa”

Thúy Kiều là chị ấy thế nhưng lại “cậy”, lại “thưa” với Thúy Vân? Những từ ngữ mang sắc thái trang trọng thường chỉ được dùng để đối đáp với bề trên thế nhưng ở đây Thúy Kiều lại dùng để ngỏ lời với em gái của mình. Phải chăng Thúy Kiều đang mang nặng một nỗi tâm tư tình cảm khó nói, một vấn đề nghiêm trọng muốn gửi gắm cho cô em em gái thân yêu. Cặp từ hô ứng : “cậy- chịu”; “Ngồi lên- thưa” thế hiện sự lô gic đầy khéo léo trong lời tâm tình của Thúy Kiều. Trước hết Thúy Kiều bày tỏ nỗi lòng mong muốn em sẽ giúp đỡ mình rồi sau đó mới thiết tha tỏ tường. Thúy Kiều vừa như khoản thiết mong chờ vừa như ấn định sự giúp đỡ từ em, rằng chỉ em mới có thể giúp được chị, chỉ có em mới khiến chị tin tưởng giao phó truyện quan trọng này.

Và rồi Thúy Kiều đã bộc bạch cái nỗi lòng đau đáu của mình với em:

” Giữa đường đứt gánh tương tư

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

“Gánh tương tư” ám chỉ trách nhiệm tình cảm, một nghĩa vụ chăm sóc yêu thương. “đứt gánh tương tư” phải chăng là nói về chuyện tình duyên dang dơ; Thúy Kiều đang tự trách mình không làm tròn cái đạo lý nghĩa tình với người thương; đang tự dằn vặt khôn xiết cái trách nhiệm bản thân. Và rồi nàng khéo léo mượn điển tích “keo loan” để dãi bày nỗi lòng mong muốn thiết tha rằng Thúy Vân sẽ thay mình kết duyên với Kim Trọng, thay mình chăm sóc yêu thương chàng. Hai chữ “mặc em” thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối của Thúy Kiều khi đem chuyện tình kiếp cả đời giao phó lại cho em.

“G ánh tương tư” không chỉ là lời hứa xuông mà nó còn bao hàm biết bao nỗi nhọc nhằn, bao tình cảm đánh đổi. Thúy Kiều biết như thế sẽ là ép buộc em; sẽ làm khó em; biết rằng trong lòng em cũng đang dậy lên những cơn bão lòng băn khoăn, do dự nhất định. Chính vì thế Thúy Kiều đã dãi bày những lý do để thuyết phục Thúy Vân:

“Kể từ khi gặp chàng Kim , Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sòng gió bất kỳ, Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai? Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non.”

Thúy Kiều nhớ lại những ký ức của một thời lãng mạn đã qua. ” Kể từ khi” như mở ra một không gian dài rộng, mơ ước, hạnh phúc. ” Khi ngày quạt ước’; “Khi đêm chén thề” ngày và đêm; quạt ước- chén thề, không gian thời gian như dài rộng ra, con người như đang say mê mải miết với tình yêu cháy bỏng. Mặt trời mặt trăng như đã chứng kiến cho câu chuyện tình yêu Kim Kiều, cho lời thề ước trăm năm hai người. Lời ước thề như khắc sâu và không gian, vào cảnh vật và trường tồn cùng năm tháng vĩnh cửu.

Tưởng rằng chuyện tình lãng mạn đầy thi vị ấy sẽ đi tới hồi kết tươi đẹp thế nhưng có ai hay sóng gió ập đến, gia đình kiểu phải chịu oan sai, vì muốn bảo vệ cha mẹ và em trai mà Kiều đành phụ Kim Trọng. Đứng giữa cân đo giữa đạo làm con và người mình thương Kiều đành xé lòng làm trọn chữ hiếu. Nàng đã hi sinh chữ tình để làm tròn chữ Hiếu, sống tròn với trách nhiệm người chị cả gia đình.

Kiều vỗ về Thúy Vân rằng em tuổi còn trẻ, sau này sẽ có nhiều thời gian để vun vén tình cảm và dẫu rằng chị với Kim Trọng đã từng có chuyện tình đẹp nhưng lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Tấm chân tình theo thời gian sẽ chắp cánh nên một mối nhân duyên, một cuộc sống hạnh phúc cho hai người.

Kiều cũng viện đến cả tình máu mủ ruột già để cậy nhờ ân tình Thúy Vân. Bởi Kim Trọng là người mà Kiều yêu nhất, chỉ khi giao cho Thúy Vân Kiều mới cảm thấy được an ủi và yên tâm phần nào. Và Kiều mong rằng em hãy vì chị chị em em nặng nghia tình mà viết nốt lời thề non hẹn biển với chàng Kim.

Thúy Kiều như đang chắt chiu ra từng nỗi đau xót sâu thắm để dãi bày cùng Thúy Vân và mong rằng Thúy Vân hãy hiểu cho nỗi lòng này mà đồng cảm, sẻ chia.

Tấm ân tình trời bề của Thúy Vân Thúy Kiều sẽ luôn khắc tạc ghi tâm:

” Chị dù thịt nát sương mòn

Ngậm cười chín suối, hãy còn thơm lây”

Thành ngữ “thịt nát sương mòn”; “ngậm cười chín suối” khiến ta liên tưởng đến cái chết, đến sự đớn đau. Phải chăng chính Kiều đã tiên liệu trước được bão giông sắp xảy đến với cuộc đời mình mà sắp xếp ổn thỏa mọi thứ. Ân tình ngày hôm nay Thúy Vân nhận lời với chị sẽ mãi được Thúy Kiều khắc ghi. Tiếng thơ như trút hết nỗi lòng trong lòng Thúy Kiều. Đối với nàng, việc Thúy Vân thay mình nối duyên với Kim Trọng chính là niềm vui, niềm an ủi và mãn nguyện nhất đối với cuộc đời Kiều đời đời kiếp kiếp chẳng quên.

Nguyễn Du thật tài tình khi sử dụng thể thơ lục bát kết hợp với các điển tích và thành ngữ dân gia để bộc lộ tâm trạng Thúy Kiều. Một bức tranh với ngôn từ giản dị, gần gũi nhưng tạo được ấn tượng vô cùng mạnh trong lòng độc giả về hình tượng nhân vật. Phải chăng chính điều này đã làm nên sức lan tỏa và trường tồn của tác phẩm thơ Truyện Kiều.

Chỉ với 12 câu thơ Nguyễn Du như dựng lên sự éo le đầy bi ai của cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Qua đó đã lên án một xã hội thối nát, một xã hội mà sức mạnh đồng tiền đã dồn nén con người tới tận cùng nỗi đau mà chẳng thể làm sao để thoát ra, đầy tăm tối và mịt mù vô cùng.

Nghị Luận Về Tác Phẩm Trao Duyên Của Nguyễn Du

Đoạn trích Truyện Kiều này có nhan đề “Trao duyên” gồm 34 câu (từ câu 723 đến câu 756) được in trong sách giáo khoa môn Văn lớp 10. Đây là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt do có kẻ vu oan, Thúy Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót cho quan lại cứu cha và em. Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Mã Giám Sinh, Thuý Kiều nhờ cậy Thúy Vân thay mình trả nghĩa, lấy Kim Trọng.

Mở đầu đoạn thơ là 8 câu tâm sự của Thúy Kiều, về mối tình của mình với chàng Kim. Kể ra, với người xưa, một mối tình thiêng liêng như Thúy Kiều – Kim Trọng thường được giấu kín trong lòng ít khi người ta thổ lộ với người thứ ba. Vậy mà, ở đây, Thúy Kiều phải bộc lộ tất cả với Thúy Vân. Hơn thế nữa, nàng phải lạy em như lạy một ân nhân, một bậc bề trên, phải nói với em bằng những lời lẽ nhún nhường gần như van vỉ:

Cậy em, em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Không phải nhờ mà là cậy, chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin của chị. Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Cũng không phải chỉ nói mà là thưa, kèm với lạy. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự “thay bậc đổi ngôi” giữa hai chị em như thế. Nguyễn Du thật tài tình, như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì, thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu em.

Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về. Những kỉ vật thiêng liêng nàng vẫn giữ, minh chứng cho tình yêu của nàng với chàng Kim, dễ gì trong phút chốc lại phải trao sang tay người khác, cho dù người đó chính là em gái mình? Tình yêu đôi lứa vốn có chút ít ích kỉ bên trong, đó cũng là lẽ thường tình. Chiếc thoa với bức tờ mây, Phím đàn với mảnh hương nguyền… vốn là kỉ vật riêng của Thúy Kiều, kỉ vật ấy có ý nghĩa tượng trưng cho hạnh phúc của nàng. Bây giờ, những kỉ vật thiêng liêng ấy, nàng phải trao cho em, không còn là của riêng của nàng nữa mà đã trở thành của chung của cả ba người. Đau xót làm sao khi buộc phải cắt đứt tình riêng của mình ra thành của chung! Biết vậy nhưng Thúy Kiều cũng đã trao cho em với tất cả tấm lòng tin cậy của tình ruột thịt, với tất cả sự thiêng liêng của tình yêu với chàng Kim. Nàng thuyết phục em mới khéo làm sao:

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ, thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

Trên hết giữa chị với em là tình máu mủ; vì tình máu mủ ai nỡ chối nhau? Vì vậy, suốt từ đầu đến cuối đoạn thơ không hề thấy lời nói của Thúy Vân. Thúy Kiều như người đang dốc bầu tâm sự, nàng phải dốc cạn với em mới có thể thanh thản ra đi. Nàng tưởng tượng đến lúc mình đã chết, oan hồn trở về lẩn quất bên chàng Kim. Khi đó, âm dương cách biệt, chỉ có chén nước mới giải được mối oan tình. Lời tâm sự sao mà thương!

Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi thiếp dã phụ chàng từ đây!

Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao người, bao thế hệ!

Đoạn thơ, trừ những câu đầu tâm sự với Thúy Vân, trao duyên cho Thúy Vân, còn thực chất là đoạn độc thoại nội tâm của Thúy Kiều. Với nghệ thuật thể hiện tài tình, Nguyễn Du giúp người đọc nhìn thấu tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều. Càng hiểu nàng bao nhiêu, ta càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó chẳng đáng cảm phục lắm sao?