Top 4 # Xem Nhiều Nhất Các Bài Thơ Uống Rượu Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ Hay: Uống Rượu Với Chồng

Quanh năm khó nhọc bộn bề

Tên thật tác giả là Nguyễn Thanh Huyền, tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà nội, hiện đang giảng dạy tại trường THPT Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương.

Đọc bài thơ, hẳn là giới mày râu phải ngạc nhiên, bởi từ cổ chí kim, hiếm có người đàn bà ngồi buồn rủ chồng uống rượu. Nhân vật trung tâm của bài thơ hiển nhiên là người vợ, anh chồng chỉ đóng vai trò thứ yếu, xuất hiện như một cái cớ, thông qua hình tượng chén rượu để người vợ bộc lộ tâm trạng. Ngay từ những câu đầu tiên, người đọc đã thoáng nhận ra, có một cái gì đó bất ổn, mất cân bằng, bị dồn nén quá lâu, luôn có nhu cầu giải phóng. Đây là tâm trạng dằn vặt, u uất của cặp vợ chồng gặp rủi ro sau những tháng năm dài bươn chải kiếm sống. Có điều họ là những người đủ bản lĩnh, hiểu được thế thái nhân tình, âm thầm nhìn đời mà chiêm nghiệm. Thực ra, rượu chỉ là cái cớ, người phụ nữ ấy chắc chả uống được đến nửa chén nhưng bản lĩnh thật đáo để, cương cường, quyết đoán đến mức dám thách thức cả thế gian. Cứ theo văn bản mà xét, hầu hết những câu thơ đều toát lên nỗi ngậm ngùi, ẩn chứa những giọt nước mắt, lúc thì lẳng lặng”nuốt vào lòng” mặc cho dòng đời đưa đẩy, lúc thì như muốn vỡ òa, hiển hiện thành lời cay đắng thậm chí chao chát. Cách vận dụng lớp từ láy, từ ghép ở đây đạt đến hiệu quả bất ngờ làm người đọc không khỏi sửng sốt trước khả năng diễn đạt ý tưởng bằng ngôn ngữ dân gian thông qua những cấu trúc gần với thành ngữ của tác giả: ” Oái oăm là cái sự đời”, ” Ừ thì đắng nuốt vào lòng”, “Này là bể khổ nguồn đau / Này là đò chật sông sâu chập chờn”… Đến đây thì chẳng ai còn nghi ngờ tính chất tượng trưng của rượu. Rượu chỉ là một cách nói còn nỗi cay đắng, nghèo hèn mới là có thật.

Tâm trạng người vợ lần lượt được biểu hiện qua những dòng thơ hình dung cuộc nhân sinh đầy bất trắc. Họ phải chống chọi với đủ thứ nguy nan hữu hình và vô hình, không chỉ của Trời, Đất mà mà của cả đồng loại trong cuộc canh tranh khốc liệt. Đó là “bể khổ”, “nguồn đau”, “đò chật”, “sông sâu”, “gió ào ạt”, “mây lờn vờn”… Những lớp từ ấy giàu biểu cảm, đa nghĩa, đa thanh, đọc nghe như xoáy vào lòng tạo thành nỗi ám ảnh sợ hãi như một thứ định mệnh truyền kiếp. Trong trạng thái “chung chiêng”, nghĩa là nửa tỉnh nửa say, người phụ nữ nhìn thế gian bằng con mắt có chút hơi men nên cảm thấy thứ gì cũng chao đảo, bồng bềnh nhưng cũng là lúc người ta dễ nói thật lòng mình nhất. Tư thế của cặp vợ chồng này là an nhiên tự tại, phong cách thật ngạo nghễ, nhìn thiên hạ nhốn nháo trong guồng quay tạo hóa bằng tâm trạng của một người thua thiệt nhưng có vẻ như không mấy bi quan: “Mặc cho thiên hạ rập rình / Ta ngồi đây rót cho mình, cho nhau”. Rót cái gì? Rót rượu hay rót những nổi chìm của kiếp người? Đến đây ta dễ liên tưởng đến một câu Kiều : “Nỗi lòng nghĩ đến sau này mà kinh” khi mà trước mắt bày ra toàn những “bể khổ”, “nguồn đau”, “đò chật”, “sông sâu” nghe thấp thoáng đâu đây nỗi “đoạn trường” của một nàng Kiều hiện đại.

Về bố cục, bài thơ được chia là hai phần nhưng có sự gián cách. Phần một gồm bốn câu đầu và bốn câu cuối, phần còn lại là mười hai câu giữa, từ “Oái oăm là cái sự đời” đến “Gió ào ạt gió, mây lờn vờn mây”. Phần thứ nhất, bao hàm cả bốn câu cuối như một vĩ thanh, là lục bát hiện đại phát triển từ ca dao, tục ngữ, được hoàn thiện với khả năng phu diễn khá chính xác hoàn cảnh bế tắc gần như không lối thoát của cặp vợ chồng nghèo trên cái nền không gian buồn tẻ, tù túng. Thế nhưng bốn câu cuối lại mở ra cả một chân trời mới đầy chất lãng mạn, bay bổng, hình thành một cảm quan có biên độ giãn nở rộng, không bó chặt như nỗi đoạn trường của nàng Kiều mà ý tứ phóng túng, ngôn ngữ khoáng đạt. Cuộc song ẩm giờ đây đã biến nỗi đau khổ thành vấn đề triết lý nhân sinh. Bằng sự thăng hoa trong tâm tưởng, họ đem số phận, tư cách và cả tình yêu của mình đánh đổi lấy “cả mấy mươi phần thế gian”. Chén rượu tình ở đây hẳn là cay đắng nhưng là “chén đồng” có sức mạnh làm nghiêng vũ trụ. Hơi ấm ở đây chính là nội lực tình yêu, tình nghĩa vợ chồng. Trong men say lãng đãng, mọi thứ dường như đều “chung chiêng”. Chồng say, vợ say, tâm hồn chống chếnh, họ như bay lên tầng trời hạnh phúc. Đó là thứ thiên đường”cả mấy mươi phần thế gian” ở ngay trong cõi nhân gian.

Mười hai câu giữa khác hẳn về mặt thi pháp. Đây là đoạn lục bát mang phong cách tập Kiều mà hồn cốt của nó không gì khác hơn là “nỗi đoạn trường”. Ở đây ta bắt gặp đủ kiểu lập ý, lập tứ, cấu trúc câu, trong đó có cả những câu đanh quánh, riết róng hoặc thâm trầm nghiệt ngã. Một dàn những tổ hợp từ biến hóa như có phép màu rút ra từ thi pháp Truyện Kiều tạo thành các cặp tiểu đối, so sánh, tỷ dụ đẩy cảnh nghèo đến mức lý tưởng làm người đọc sững sờ trước tài “phù phép” của tác giả. Những câu : “Chén này nhắm với nỗi này phải không?”, hoặc : “Này là bể khổ nguồn đau / Này là đò chật sông sâu chập chờn / Nhấp môi chạm phải cơn nguồn / Gió ào ạt gió, mây lờn vờn mây” là sự đóng góp rất đáng kể trong hành trình lục bát. Sự sắc sảo của Nguyễn Lam Điền còn ở chỗ, chị dùng thể loại lục bát tryền thống để tập Kiều mà không bị sa vào thứ văn vần dung tục.

Có thể nói, Uống rượu với chồng là một thành công bất ngờ. Nó tạo được sự hấp dẫn đặc biệt bởi trong đó hàm chứa một triết lý nhân sinh, một quan niệm sống, một thái độ ứng xử bằng những lớp từ giàu sắc thái với nội hàm phong phú. Cặp vợ chồng uống rượu trên một cái nền “chung chiêng”, từ điểm xuất phát ấy, cái tôi nghệ sỹ bình thản hòa vào kiếp người bằng nguồn cảm hứng tình yêu, dù nhìn thiên hạ bằng con mắt la đà của chén rượu đắng nhưng tâm thức họ lại rất tỉnh. Cũng bởi trạng thái tỉnh trong lúc say ấy mới có được những hình ảnh “đoạn trường thơ” như “sấp ngửa”, “đăm chiêu”, “thiên hạ rập rình”, “đò chật sông sâu”, “đất xa trời tạt xuống gần / Chung chiêng cả mấy mươi phần thế gian”. Đó là những câu chữ có sức nặng được đặt vào đúng ngữ cảnh, thoát khỏi những ràng buộc về cú pháp tạo nên sự đồng điệu tâm hồn.

Dịch Thơ Cao Bá Quát. Uống Rượu Tiêu Sầu

UỐNG RƯỢU TIÊU SẦU ( 2 )

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn

Yên ba thâm xứ hữu ngư châu

Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu

Đem mộng sự đọ với chân nhân thì cũng hệt

Duy giang thượng chi thanh phong

Dữ sơn gian chi minh nguyệt

Kho Trời chung mà vô tận của mình riêng

Cuộc vuông tròn phó mặc khuông thiêng

Ai thành thị , ai vui miền lâm tẩu

Gõ nhịp lấy đọc câu ” Trương tiến tửu “

” Hoàng hà chi thuỷ thiên thượng lai “

” Bôn lưu đáo hải bất phục hồi “

Làm chi cho mệt một đời !

NGUYỄN THỊ VINH. DỊCH. UỐNG RƯỢU TIÊU SẦU

Hỏi làm chi thế sự mất hay còn

Chỉ biết sông sâu có người câu cá

Tay trên trán ngẫm chuyện đời đâu tá

Đem mộng so mình giống hệt như nhau

Giòng sông kia gió lồng lộng trên cao

Trong rừng sâu trăng dát vàng thung lũng

Của Trời Đất nghiễm nhiên là vô tận

Mặc cao xanh định đoạt cuộc vuông tròn

Ai lục lâm , ai gác tía lầu son

Xin Lý Bạch một câu ” Trương tiến tửu ”

Chẳng biết Hoàng Hà từ Trời cao chẩy lại

Đổ biển Đông rồi không thấy quay về

Nghĩ làm chi cho mệt một đời . Hề !

Ta Hẹn Em Uống Rượu Ngắm Trăng

Tôi luôn cảm thấy mình còn mắc nợ một bài viết về thơ Lâm Cúc. Không phải nợ Lâm Cúc mà nợ chính mình.Tôi bắt đầu đọc Lâm Cúc từ bên BlogViet. Khi cả làng di cư sang vnweblogs năm 2007, tôi tiếp tục đọc nàng. Rồi tôi vượt mấy ngàn cây số, lên tận Đức Linh – Bình Thuận tìm gặp nhà thơ, ăn bữa cơm canh cá với Lâm Cúc và vài người bạn, xin được một cuốn Đãi Trăng kèm theo lời thì thầm của tác giả: “Em chỉ còn có một cuốn này thôi…”Bên cạnh Phạm Dạ Thủy nữ tính theo kiểu truyền thống, Võ Kim Ngân đằm thắm thiết tha, Vũ Thanh Hoa bùng nổ đam mê, Huỳnh Thuý Kiều mới lạ đâm chồi, Tóc Nguyệt đa mang suy tưởng, Hoàng Thanh Trang đột phá tìm tòi, Mắt nâu chân dài thổn thức yêu đương, Đặng Mỹ Duyên tơ vò đắm đuối…cùng nhiều cây viết nữ bloggers khác, Lâm Cúc là một hiện tượng khác biệt.

Lâm Cúc làm thơ như người đàn bà sinh nở. Đớn đau quằn quại. Chính vì thế mà thơ nàng không nhiều, cho đến nay mới xuất bản vỏn vẹn có mỗi một tập Đãi trăng không dày dặn. Một người bạn yêu thơ Lâm Cúc nói rằng thơ in ra hình như nhiều chỗ bị sửa, không hay bằng nguyên bản.

Lâm Cúc không cãi. Nàng không thuộc thơ mình. Việc thuộc thơ Lâm Cúc là dành cho người khác.

Các nhà thơ nữ thường viết thơ yêu. Yêu và được yêu. Hết yêu hoặc hết được yêu. Nồng nàn thắm thiết vụng dại đắm đuối si mê… Có thể có đau nhưng là cái đau của tình yêu nam nữ. Nhưng chưa ai viết thơ đau như Lâm Cúc.

Trong bài “Lòng ta”, Lâm Cúc tự bạch:

Có những lúc ta ngồi như đá núi Trầm mặc trăm năm, cô quạnh ngàn đời Lòng thương ta, lòng khe khẽ nói Ồn ào ngoài kia cũng là chốn không lời.

Ta vỗ về lòng, Đừng đau nữa lòng ơi !

Nàng thừa nhận là mình đau. Vì sau đau? Đó là vì:

Mồ côi

Vinh hạnh được là người Tôi mang nỗi nhục không thành người!

Lột bỏ mọi vỏ bọc Trầy trụa một hồn tôi!

Tôi ôm hồn ngồi khóc Chợt hiểu hồn mồ côi!

Cái đau của Lâm Cúc là cái đau khi thấy nhiều người không muốn hoặc muốn mà không được sống làm người với đầy đủ ý nghĩa của hai từ làm người. Nàng lấy mình ra để nói thiên hạ.

Thậm chí trước cảnh một đôi nam nữ hẹn hò, họ đang ngập tràn hạnh phúc mà Lâm Cúc vẫn sợ một nỗi đau sẽ đến với họ:

Người ta hẹn hò, mà lòng tôi cứ rưng rưng Mà đứng ngồi cứ vô hồi xao xuyến Liệu người ta có buồn lúc đưa tiễn? Liệu người ta có đau lắm! Liệu người ta…

(Vô cớ)

Lâm Cúc ít khi viết dài. Nhiều bài thơ ngắn hoặc rất ngắn.

Nó ngắn như một cái dằm, cứ cắm vào da thịt người đọc, làm người ta cứ đau hoài, day dứt.

Xuân Diệu, Xuân Quỳnh và rất nhiều nhà thơ khác viết về biển. Họ ví đôi tình nhân như bờ với biển, như thuyền với biển. Biển hùng vĩ và bao la luôn là đề tài bất tận của các thi nhân. Lâm Cúc cũng viết về biển, nhưng rất ngắn và không giống ai:

Kìa biển Bao la Xanh thẳm Rạt rào

Sẽ ra sao Một mai anh khát Biển dường kia Không uống được giọt nào?

Một logic bất ngờ. Một cách thể hiện tình yêu rất lạ. Yêu anh và lo cho anh một ngày nào đó sẽ khao khát vô vọng. Tứ thơ rất đàn bà và rất Lâm Cúc.

Lâm Cúc có bài thơ “Để khoe cho hết”

Khi yêu thương bỏ ta đi Nhân gian hóa thạch những gì đang hương

Đóng đinh lên vách linh hồn Treo trong thân xác nỗi buồn váng rêu

Đục lòng cho rỗng để kêu Bùm, beng chiêng trống. Người theo chân người

Nhe răng ra đếm nụ cười Để khoe cho hết, một đời rỗng không.

Câu thơ “Đục lòng cho rỗng để kêu” là một câu thơ đau tuyệt vời!

Còn:

Nhe răng ra đếm nụ cười

Thì quả là đỉnh điểm của chua chát?

Nghệ thuật thơ Lâm Cúc là nghệ thuật hình ảnh của ngôn  từ. Ngôn từ đậm đặc. Hình ảnh dữ dội.

Tối rất thích bài “Tháng ba”:

Tháng ba Núi vã mồ hôi Hổn hà hổn hển Cõng trời oằn lưng

Gió chướng như bầy ngựa rừng Rùng rùng tung vó, hú lưng chừng đèo.

Nắng quạt lửa dọc đường chiều Nướng cong cả giấc mơ nghèo, dòng sông.

Mỗi câu là một hình ảnh. Ngoài sự dữ dội, nó còn rất khoáng đạt. Thật bất ngờ khi gặp sự khoáng đạt nơi một nhà thơ nữ.

Đau cho mình, đau cho đời, Lâm Cúc thể hiện nỗi đau đó trong thơ. Nhưng ở ngoài đời sống thực, nàng cô đơn. Nàng phải tìm đến trăng để giải bày tâm sự:

Đãi Trăng

Hôm nay nhàn, ta mở tiệc mời Trăng Để thỏa thích bưng dòng sông ra uống!

Rót lặng thinh vào vô biên độ lượng Đêm giang tay trên thập tự mênh mông.

Này Trăng Ta cũng có một tấm lòng… Để tha thứ và để đau nông nổi Trăng có gì riêng mà trầm tư chẳng nói? Cứ xa xăm, cứ lẳng lặng bên trời.

Sông có vơi cũng mặc Say thì say, nhưng đừng khóc Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười.

Bứt ra khỏi hiện thực, nhà thơ vẫy vùng trong mơ. Nàng cho phép mình đại ngôn, mang cả dòng sông ra để uống. Nhưng vẫn thấy đêm chỉ là một cái thập tự mênh mông!

Tưởng là đãi trăng, nào ngờ nàng thổn thức:

Ta cũng có một tấm lòng… Để tha thứ và để đau nông nổi

Khi phải thốt lên “Ta cũng có một tấm lòng”, thi sỹ khóc nhiều hơn là cười?

Nhưng vẫn cười:

Say thì say, nhưng đừng khóc Dẫu thế nao vẫn cứ ngả nghiêng cười

Ta gặp lại ở Lâm Cúc bóng dáng những nhà thơ – nhà nho bất đắc chí, khóc với đời, khóc cho đời và cất lên tiếng cười ngạo mạn. Đời này có mấy ai biết khóc như ta?

Ai quen Lâm Cúc hẳn đều luôn được nghe tiếng cười “ha ha” của nàng qua điện thoại. Nghe tiếng cười đó, không ai nghĩ Lâm Cúc là một nhà thơ đau.

Thơ Lâm Cúc không rơi vào cái tầm thường nhi nữ, không sụt sùi nhớ nhớ thương thương, không oán giận hờn ghen vun vặt.

Nàng lặng lẽ “đảo chính” trong thơ. Thơ nàng muốn vuơn đến những giá trị mới, phủ định những cái sáo mòn cũ kỹ, vô vị.

Nhưng không phải lúc nào Lâm Cúc cũng đau. Có những lúc nàng thanh thoát, tự nhiên, nhẹ nhàng như chính bản chất con người nàng, như chính cái điều mà nàng khao khát:

Chiều quá buồn

Chút nữa e là mưa

Cây nhớ người

Cành lá rũ ngẩn ngơ

Dáng ai giờ

Bụi sương giăng mờ che

Áo thu

Trời

khoác cả sang hè.

(Cây nhớ người)

Bài thơ giàu nhạc điệu. Hồn thi sĩ trải rộng, hòa quyện với thiên nhiên mùa thu.

Tôi yêu quý nhiều nhà thơ nữ mà tôi quen biết. Lâm Cúc, người đang sống và làm việc ở một huyện miền núi xa lắc của Bình Thuận, có một vị trí rất đặc biệt trong số họ.

Lâm Cúc viết không nhiều. Nhưng bài thơ nào của nàng cũng thuộc loại “chết người”!

Ngày đầu năm 2011, tôi loay hoay viết bài này. Viết xong vẫn không biết mình đã trả được món nợ mấy năm rồi hay chưa?

Nguồn: Phan Chí Thắng viết về Nguyễn Lâm Cúc

Video yêu thích:

Relaxation: Waterfalls Rainforest – Endless Emotion – The Most Popular Relaxation http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  Kim on Twitter

Nguyệt Hạ Độc Chước (Dưới Trăng Uống Rượu Một Mình)

Lý-Bạch “Dưới Trăng Uống Rượu Một Mình”

                                                                                              

Thi-Tiên Lý-Bạch (李白) là Nhà Thơ nổi-tiếng ở Trung-Hoa, thời thịnh Đường (Lý-Long-Cơ 618-907).

I. Vài Hàng Tiểu-Sử:

Lý-Bạch sinh năm 701, tự Thái-Bạch, hiệu Thanh-Liên cư-sĩ, sinh tại Lũng-Tây, huyện Thiên-Thủy. Ông nổi-tiếng uống rượu, làm thơ và yêu trăng. Ông mất năm 762.

Lý-Bạch đã sáng-tác hơn 20.000 bài thơ, nhưng ông không giữ bài nào. Thơ của ông được biết tới là nhờ dân-gian truyền-tụng. Đến khi ông mất (762), người ta mới gom-góp lại được 1.800 bài, nhưng đến nay chỉ còn khoảng một ngàn bài.

Lý-Bạch sáng-tác về mọi đề-tài. Thơ của ông nhẹ-nhàng, phóng-khoáng, tự-nhiên, không bàn đến thế-sự, lại lãng-mạn và ít dùng điển-tích như các nhà thơ Trung-Hoa khác.

II. Bài Thơ “Nguyệt Hạ Độc Chước”:

 1. Hán:

月下 獨 酌

花間一壺酒 獨酌無相親 舉杯邀明月 對影成三人 月既不解飲  影徒隨我身 暫伴月將影  行樂須及春 我歌月徘徊 我舞影零亂 醒時同交歡  醉後各分散永結無情遊  相期邈雲漢

       2. Hán-Việt:

Nguyệt Hạ Độc Chước

Hoa gian nhất hồ tửu,Độc chước vô tương thân.Cử bôi yêu minh nguyệt,Đối ảnh thành tam nhân.Nguyệt ký bất giải ẩm,Ảnh đồ tùy ngã thân.Tạm bạn nguyệt tương ảnh,Hành lạc tu cập xuân.Ngã ca nguyệt bồi hồi;Ngã vũ ảnh linh loạn.Tỉnh thì đồng giao hoan,Túy hậu các phân tán.Vĩnh kết vô tình du,Tương kỳ diểu Vân Hán.

3. Bản-dịch:

Dưới Trăng Uống Rượu Một Mình

Rượu ngon ta uống một mìnhBên hoa, trăng sáng lung-linh ánh vàngTrăng ơi, trăng uống đi trăngVới ta, trăng, bóng là thành bộ baTrăng không biết uống trăng-tàSao bóng luẩn-quẩn bên ta thế nàyTrăng theo bóng ngả về đâyChơi xuân cho kịp những ngày có xuânTa ca, trăng cũng tần-ngầnTa múa, bóng cũng thêm phần lung-linhKhi tỉnh, cùng thắm-thiết tìnhKhi say, phân-tán muôn hình muôn nơiBiết nhau trên đoạn đường đờiGặp nhau Vân-Hán cho vơi nỗi-buồn.

Hà Việt Hùng

Rượu, trăng và thơ là những người bạn tri-kỷ thân-thiết nhất của Lý-Bạch. Có một đêm Lý-Bạch say rượu ở sông Thái-Trạch, huyện Đang-Đồ, ông chèo thuyền ra giữa sông. Ông nhìn thấy trăng ở dưới đáy sông, nhẩy xuống với ý-định vớt trăng lên, nhưng bị chết đuối. Từ nơi đó, người ta xây một cái đài để tưởng-niệm ông, gọi là Tróc Nguyệt Đài, có nghĩa là đài bắt trăng. Chuyện ông chết đuối có phần tưởng-tượng thêm, nhưng điều đó càng làm thơ ông hay hơn.

III. Tham-Khảo:

– Các websites liên-quan.– Wikipedia.

Hà-Việt-HùngViết xong 12/2013