Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Tây Tiến Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

Soạn Văn Bài 28: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp

Hướng Dẫn Đọc Thêm Văn Bản: Bài Thơ Số 28 (Ta

Cảm Nhận Về Bài Thơ Số 28 Của Ta

Soạn Bài Lớp 11: Bài Thơ Số 28

Soạn Bài Bài Thơ Số 28 Của Tago

Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

1. Biện pháp tu từ so sánh

Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

Cấu trúc A là B:

Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

Ví dụ 1:

“Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

Ví dụ 3:

“Ngó lên nuộc lạt mái nhà

Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

“Người là cha, là bác, là anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

2. Biện pháp tu từ nhân hóa

Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..

Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

Ví dụ:

” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

“Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

“Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

Ví dụ:

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

Ví dụ:

” Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

” Về thăm nhà Bác làng sen

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

“Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

Ví dụ:

“Vì lợi ích mười năm trồng cây

Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

” Về thăm nhà Bác làng sen

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

” Không thầy đó mày làm nên”

Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

Ví dụ:

“Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

” Người cha mái tóc bạc

Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

Vì dụ:

” Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

” Cát lại vàng giòn

Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

“Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

4. Biện pháp tu từ hoán dụ

Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

“Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

“Vì sao trái đất nặng ân tình,

Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

” Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

” Sen tàn, cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

” Áo nâu cùng với áo xanh

Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

” Một cây làm chẳng nên non

3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

” Ngày Huế đổ máu

Chú Hà Nội về

Tình cờ chú cháu

Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

” Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

“Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

“Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

“… Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

“Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

8. Biện pháp tu từ chơi chữ

Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

” Bà già đi chợ cầu Đông

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

Thầy bói xem quẻ nói rằng,

Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

” Không răng đi nữa cũng không răng,

Chỉ có thua người một miếng ăn.

Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

“Em đây là gái năm con,

Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

9. Biện pháp tu từ liệt kê

Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi, em đã sống!

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

Chiến sĩ anh hùng

Đầu nung lửa sắt

Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

Máu trộn bùn non

Gan không núng

Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

10. Biện pháp tu từ tương phản

Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

Ra thế, to gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2022

Bình Giảng Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu

Soạn Bài Thơ Số 28 Siêu Ngắn

Giáo Án Ngữ Văn 11 Cb Tiết 95: Đọc Văn Bài Thơ Tình Số 28

Phân Tích Bài Thơ Số 28 Của Ta

Phân Tích Bài Thơ Số 28 Trích Trong Tập Người Làm Vườn Của Ta

Soạn Văn Bài 28: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp

Hướng Dẫn Đọc Thêm Văn Bản: Bài Thơ Số 28 (Ta

Cảm Nhận Về Bài Thơ Số 28 Của Ta

Soạn Bài Lớp 11: Bài Thơ Số 28

Soạn Bài Bài Thơ Số 28 Của Tago

Một Số Bài Cảm Thụ Văn Học Tham Khảo Lớp 3

Việc sử dụng biện pháp tu từ trong xác lập văn bản có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mang lại hiệu quả nghệ thuật cao. Bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ thực hành vận dụng những biện pháp tu từ trong việc xây dựng văn bản.

I. PHÉP LẶP CÚ PHÁP

Câu 1. Đọc đoạn văn a và đoạn thơ b trong SGK xác định những câu nào có phép lặp cú pháp? Kết cấu cú pháp nào được lặp lại? Tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) như thế nào?

a. những câu lặp cú pháp trong đoạn a là: câu 1-3, 4-5

– cấu trúc được lặp lại là:

+ Sự thật là…. CN + Vn + BT1 + chứ không phảo + BT2

+ Dân ta (đã/lại) đánh đổ + BT1 + đề + BT2

– Hiệu quả nghệ thuật: nhấn mạnh, tô đậm tính khẳng định; giúp cho lời văn hài hoà, nhịp nhàng, bổ sung cho nhau.

b. Những câu lặp cú pháp trong đoạn thơ b là:

– Câu 1 và 2: CN – đây – là của chúng ta

– Câu 3, 4, 5: Những – DT – Định tố Tác dụng: nhấn mạnh và khẳng định.

c. Trong đoạn thơ c, cấu trúc câu được lặp lại là: Nhớ sao – BT

Tác dụng: nhấn mạnh nỗi nhớ và kỉ niệm.

Câu 2. So sánh bài tập 1 và bài tập 2 để chỉ ra điểm giống và khác nhau về hiện tượng lặp cú pháp.

– Giống nhau: lặp lại cấu trúc một câu, một vế, tạo sự đăng đối, nhịp nhàng, cân xứng.

– Khác nhau: các ví trụ trong BT1 lặp cú pháp trong các câu (hoặc các dòng thơ) khác nhau: Trong BT2 lặp cú pháp ngay trong một câu, tạo sự đối lập, cân xứng giữa các vế trong câu.

Câu 3. Tìm ba câu văn hoặc thơ có dùng phép lặp cú pháp trong SGK Ngữ văn lớp 12. Phân tích tác dụng của phép lặp đó.

Ví dụ:

a. Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng

Con cởi áo liệm thân cho bố.

(Dọn về làng, Nông Quốc Chân)

Phép lặp cú pháp kết hợp với phép liệt kê góp phần thể hiện sâu sắc nỗi đau, nỗi bất hạnh của gia đình dưới sự xâm lặng, giày xéo của thực dân Pháp.

b. Con nhớ anh con, người anh du kích…

Con nhớ em con, thằng em liên lạc

(Chế Lan Viên)

Phép lặp cú pháp góp phần thể hiện nỗi nhớ da diết, tràn ra như bất tận của chủ thể trữ tình khi nhớ về Tây Bắc.

(Tương tự hai ví dụ trên, HS từ tìm thêm và phân tích),

II. PHÉP LIỆT KÊ

Phân tích hiệu quả của phép lặp cú pháp phối hợp với phép liệt kê trong 2 đoạn văn a và b (SGK).

– Điểm chung: Phép lặp cú pháp phối hợp với phép liệt kê trong hai đoạn văn tạo ra hiệu quả:

+ Lời văn nhịp nhàng, cân xứng.

+ Nêu được những biểu hiện cụ thể, sự nối tiếp liên tục tạo sức lôi cuốn, hấp dẫn.

– Điểm riêng:

a. Đoạn văn trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn: kết hợp phép lặp với phép liệt kê để bày tỏ nỗi lòng của mình nhằm động viên khích lệ tướng sĩ dốc lòng học tập binh thư, đoàn kết một lòng đánh giặc, bảo vệ đất nước. Tác giả đã liệt kê nhiều sự việc: cho áo, cho cơm, thăng chức, cấp bổng, cho thuyền, cho ngựa, cùng nhau sống chết, cùng nhau vui cười khiến cho giọng văn nhiệt tình, truyền cảm, có tác dụng thuyết phục người nghe.

b. Đoạn văn trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh: lên án và tố cá tội ác về chính trị của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Lời lẽ hù biện, giọng văn đanh thép chính là nhờ người viết đã sử dụng thành cô phép lặp cú pháp kết hợp phép liệt kê. Những tội ác của thực dân Pháp được kể ra dồn dập, liên tiếp, từ luật pháp dã man đến việc lập nhà nhiều hơn trường học, việc thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta, việc tắm của các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu, việc thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm nòi giống ta suy nhược… Tất cả không chỉ tố cáo, vạch mặt kẻ thù một cách rõ ràng, đanh thép mà còn truyền tới người đọc (người nghe lòng căm thù cao độ và sâu sắc. Có thể thấy sự kết hợp giữa phép lặp pháp và phép liệt kê qua mô hình sau:

Chúng – tội ác

III. PHÉP CHÊM XEN

Câu 1. Phân tích các bộ phận in đậm trong ba ngữ liệu SGK, và nhận xét về:

– Vị trí và vai trò ngữ pháp trong câu

– Dấu câu tách biệt bộ phận đó

– Tác dụng đối với việc bổ sung thông tin, tình cảm

HS phân tích cụ thể từng đoạn văn để thấy điểm riêng của từng văn bản, chú ý trên cơ sở những điểm chung sau:

– Vị trí nằm giữa hoặc cuối câu.

– Vai trò ngữ pháp: chú giải (phụ chú)

– Đặt trong dấu ngoặc đơn hoặc ngoặc kép nếu lấy dữ liệu trong văn bản

nào đó.

– Nói thêm việc bổ sung thông tin, bộc lộ một thái độ, cảm xúc.

Câu 2. Viết đoạn văn từ 3 – 5 câu theo yêu cầu như trong SGK.

Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

Bình Giảng Khi Con Tu Hú Của Tố Hữu

Soạn Bài Thơ Số 28 Siêu Ngắn

Giáo Án Ngữ Văn 11 Cb Tiết 95: Đọc Văn Bài Thơ Tình Số 28

Phân Tích Bài Thơ Số 28 Của Ta

Bút Pháp Của Quang Dũng Trong Bài Thơ “tây Tiến” Là Bút Pháp Hiện Thực Hay Lãng Mạn? Phân Tích, So Sánh Với Bài Thơ “đồng Chí” Của Chính Hữu Để Làm Sáng Rõ Biện Pháp Đó

Chân Dung Người Lính Trong “tây Tiến” Của Quang Dũng Và “đồng Chí” Của Chính Hữu

Phân Tích Khổ 4 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Phân Tích Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Phân Tích Khổ Thơ Sau Trong Bài “tây Tiến” Của Quang Dũng:

Phân Tích Dòng Chảy Cảm Xúc Trong Bài Thơ Tây Tiến

Có thể khắng định rằng những thi phẩm viết về người lính trong kháng chiến thường để lại ấn tựợng rất sâu sắc trong lòng người đọc. Cùng viết về đề tài người lính như “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Đồng chí” của Chính Hữu nhưng “Tây tiến” của Quang Dũng vẫn mang một gương mặt riêng thật khó quên, mang đậm hào khí lãng mạn của một thời gắn bó với một giai đoạn lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Nơi ấy, cuồn cuộn dòng chảy của lạnh lùng và đa tình, hiện thực và lãng mạn, bi và tráng.

Như đã nói, bài “Tây tiến” được viết theo bút pháp lãng mạn cho nên khi đọc bài thơ “Tây tiến”, người đọc như lạc vào chốn Tây Bắc hiểm trở và hùng tráng được dàn trải trong không gian nhớ mênh mang: “Tây Tiến ơi!”, “nhớ chơi vơi”, Và người lính “Tây tiến” xuất hiện trên một bối cảnh hoang vu và hiểm trở, dữ dội khác thường:

“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lèn cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Những câu thơ mới đọc lên đã thấy sự gập ghềnh, hiểm trở. Hàng loạt thanh trắc “dốc”, “khúc khuỷu”, “dốc thăm thẳm”, như vẽ ra hình ảnh cheo leo, gập ghềnh của dốc núi. Tiếp đó là những chữ đùng rất bạo, nhất là ba chữ “súng ngửi trời”, hai câu sau có sự phối thanh tuyệt vời. Câu trên cũng đầy thanh trắc và dòng thơ như bẻ đôi để vẽ ra hai dóc núi vút lên và đố’ xuống gần như thẳng đứng “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” và câu thơ sau thì toàn thanh bằng “nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, một dòng thơ như bỗng bay ngang lưng trời. Ta tưởng tượng người lính tạm dừng chân nơi một sườn núi nào đó rồi phóng tầm mắt ra xa, thấy nhà ai đó thấp thoáng, ẩn hiện qua một không gian mịt mù sương rừng, mưa núi… Và trên cái nề hiểm trở, hùng vĩ đó, người lính Tây tiến xuất hiện cũng thật oai phong và dữ dội khác thường:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”

Trong thực tế, người lính Tây Tiến, do sinh hoạt gian khổ’, thiếu thốn và bệnh sốt rét rừng hành hạ, da dẻ xanh xao, đầu trụi cả tóc. Nhưng ngòi bút lãng mạn của nhà thơ đà biến những người lính Tây tiến thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng.

Thơ ca lãng mạn quan niệm đã là người anh hùng ra nơi chiến địa thì phải như Kinh Kha đi sang đất Tần “một đi không về”. Hình tượng người lính Tây Tiến dường như cũng phảng phất bóng dáng của người anh hùng ấy:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh”

Người lính Tây tiến sinh hoạt và chiến đấu trong một hoàn cành vô cùng thiếu thốn cực khổ, các chiến sĩ chết vì sốt rét nhiều hơn vì chết trận, lúc chôn cất có khi đến manh chiếu che thân cũng chẳng có. Nhưng dù thế, hình tượng người chiến sĩ trong thơ vẫn phải đẹp, phải sang, phải hào hùng:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Nói đến bi mà không lụy, vẫn đẹp và hào hùng, bài thơ có một màu sắc bi tráng, độc đáo. Nhưng sự chuyển mạch cảm xúc của Quang Dũng rất tự nhiên. Đến khổ thơ sau đây, trạng thái cảm xúc lại chuyển sang một gam khác:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Binh đoặn Tây tiến chủ yếu là những chàng trai Hà thành trẻ trung, hào hoa, thanh lịch cho nên những tâm hồn ấy rất dễ bị cuốn hút bởi cái tình tứ của cảnh, của người đặc biệt là cái đẹp có màu sắc xứ lạ phương xa. Trước những tiếng reo hò đầy vui sướng của các vũ nữ dân tộc Lào, tâm hồn nhạy cảm của các chiến sĩ Tây tiên còn phát hiện ra:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có thấy dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Phải là những tâm hồn tài hoa và mơ mộng mới cảm thấy được những vẻ đẹp vô cùng giản dị ấy.

“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Như vậy, cuốn theo hồn thơ Quang Dũng, Tây tiến đối với người đọc đã không chỉ còn là sự lưu giữ những sự kiện, những địa danh có thể chìm vào quên lãng. Tây Tiến còn là minh chứng cho một quá khứ hào hùng, một hồn thơ bi tráng và lãng mạn.

Đối lập với bài thơ “Tây tiến”, sự thăng hoa của một tâm hồn lãng mạn, bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu lại được viết theo một bút pháp khác hẳn, đó là bút pháp hiện thực.

Người lính xuất hiện trong bài thơ này không trên một bốì cảnh khác thường mà trong cái môi trường quen thuộc, bình dị thường thấy ở các làng quê còn đói nghèo xơ xác:

“Quê hương anh nước mặn dồng chua

Làng anh nghèo đất cày lên sỏi đá”

Làng quê nào mà chẳng có giếng nước gốc đa, nơi người dân quê thường gặp gỡ hàng ngày, cho nên:

“Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Tác giả không hề có ý che giấu, trái lại còn nhấn mạnh đến cái vẻ nghèo đói, lam lũ của họ:

“Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá

Chân không giày”

Vẻ đẹp của họ là ở tình đồng chí, tình đồng đội gắn bó với tình giai cấp giữa những người nông dân mặc áo lính. Họ gần gũi nhau vì cùng ra đi từ những làng quế nghèo, trong kỉ niệm của họ cũng cảnh đồng ruộng, cũng túp lều tranh “gió lung lay”, cũng giếng nước gốc đa bình dị ấy và trở thành người lính. Họ lại gặp nhau trong hoàn cảnh thiếu thôn lam lũ của đời lính cũng chẳng khác hoàn cảnh người dân cày bao nhiêu. Cái gần gũi, cái giống nhau, cái thống nhất được nhấn mạnh hơn là cái đặc biệt, cái phi thường. Và sự thông nhất cao hơn cả là tình đồng chí. Đấy là một tình cảm lớn khiến họ vốn xa lạ và cũng chẳng hẹn quen nhau bỗng trở thành thân thiết, thậm chí thành đôi “tri kỉ”. Đó là một sức mạnh tinh thần to lớn khiến họ có thể rời bỏ ruộng nương, gia đình, coi thường mọi gian khổ, hi sinh. Chỉ cần “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” là đã cồ đủ hơi ấm để. chống chọi với những cơn “sốt run người”, những ngày “buốt giá”, những đêm sương muối giữa rừng. Họ thật sự là những anh hùng nông dân, anh hùng áo vải.

Nhìn chung, những thi phẩm viết về người lính nhiều vô cùng nhưng tất cả những thi phẩm ấy đều quy tụ lại những vẻ đẹp của hình tượng chiến sĩ. Tuy đứng ở hai thái cực đôi lập nhau: bài thơ Tây tiến được viết theo bút pháp lãng mạn, bài thơ Đồng chí viết theo bút pháp hiện thực nhưng những con người anh hùng, dũng cảm ấy luôn sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Đó là những tượng đài bất tử về người lính.

Hướng Dẫn Giải Câu Hỏi Đọc Hiểu Về Bài Tây Tiến

Các Dạng Đề Đọc Hiểu Với Bài Thơ Tây Tiến

Phân Tích Hình Tượng Người Lính Trong Bài Thơ “tây Tiến” Của Quang Dũng

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Quang Dũng

Phát Biểu Cảm Nhận Của Bản Thân Về Bài Thơ Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng

Nghệ Thuật Tổ Chức Chất Liệu Ngôn Từ Trong Bài Thơ Tây Tiến

Phân Tích Cảm Hứng Lãng Mạn Và Âm Hưởng Bi Tráng Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Phân Tích Cảm Hứng Lãng Mạn Và Âm Hưởng Bi Tráng Trong Bài Tây Tiến Quang Dũng

Sự Hài Hòa Giữa Chất Nhạc Và Chất Họa Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Kiến Thức Trọng Tâm Bài Thơ Tây Tiến

Bình Luận Về Chất Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Nghị luận bàn về nghệ thuật tổ chức chất liệu ngôn từ trong bài thơ Tây Tiến để thấy được cả bài thơ hiện ra như một sự hoà điệu đẹp đẽ

Bài văn nghị luận độc đáo bàn về nghệ thuật tổ chức chất liệu ngôn từ trong bài thơ tây tiến

Tây Tiến (1948) quả là nét son đẹp nhất trong đời thơ Quang Dũng. Cả bài thơ hiện ra như một sự hoà điệu đẹp đẽ giữa thơ – nhạc – hoạ. Về phương diện nghệ thuật, Tây Tiến còn thể hiện một trình độ tổ chức chất liệu ngôn từ xuất sắc với một cấu trúc thơ có thể nói đã đạt tới mức tối ưu. Nó thể hiện một cách đầy đủ các sắc độ chơi vơi trong nỗi nhớ của nhà thơ về một thời kì lịch sử hào hùng và lãng mạn. Sự độc đáo ấy của các lớp sóng ngôn từ chủ yếu được thể hiện qua cách sử dụng các từ địa danh một cách hợp lí.

Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, trải dài từ Mai Châu, Châu Mộc – Hoà Bình, qua Lào rồi vòng về miền tây Thanh Hoá. Đó là một vùng đất hoang vu đầy bí mật. Quang Dũng không trao cho nỗi nhớ của mình những địa chỉ “vu vơ”, ông điểm danh từng tên cụ thể: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… và sự có mặt của các địa danh này lập tức gợi ra ý niệm về sự xa ngái và hoang sơ. Trong trí nhớ người đọc, những cái tên kia thuộc một “típ” lạ, nó khác xa với những tên đất, tên làng vốn quen thuộc trong ca dao người Việt, nó cũng khác xa với kiểu “thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” trong thơ Nguyễn Bính. Chính điều này đã trở thành một tác nhân kích thích trí tưởng tượng của người đọc, đẩy người đọc đứng trước sự tò mò khó cưỡng về những bí mật “đường rừng”.

Cả Tây Tiến là một nỗi nhớ khôn nguôi của, một vùng đất một thời trận mạc. Vậy nên, khi nhắc đến các địa danh này, ta nhận thấy những kí ức của quá khứ hiện về thật tươi nguyên, nó chen lấn thực tại, tạo nên độ nhoè giữa hai không gian: không gian hiện tại và không gian hồi tưởng. Bởi thế, dù lạ lẫm, qua hồn thơ và nỗi nhớ Quang Dũng, các địa danh ấy xâm chiếm cõi nhớ người đọc, giúp họ yên tâm cùng Quang Dũng “trôi” về một vùng đất đẹp đẽ, dữ dội và mộng mơ, đằm thắm.

Có một địa danh đi suốt bài thơ này, tạo nên “sợi nhớ sợi thương” trong nỗi nhớ nhà thơ là hình ảnh sông Mã. Đó là một dòng sông có thật, nhưng cũng là một sinh thể có hồn vía, có xúc cảm, nỗi niềm. Chính sông Mã đã thay lời Tổ quốc, thay lời nhân dân cất lên tiếng hát trầm hùng tiễn biệt những đứa con của quê hương đi vào cõi bất tử. Vượt qua tư cách là những tên đất tên làng như một khái niệm có tính địa lí, các địa danh trong Tây Tiến ngấm sâu nỗi nhớ của nhà thơ, và chính điều đó đã “làm đất lạ hoá quê hương”.

Riêng địa danh Mường Hịch trong câu thơ “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” được dùng rất giỏi, chữ “Hịch” thanh trắc gắn với chữ “cọp” cũng thanh trắc làm cho người đọc liên tưởng đến những bước chân của chúa sơn lâm đang rình rập, đe doạ con người. Rõ ràng, Quang Dũng không sử dụng từ địa danh một cách tuỳ hứng mà ông biết chọn lựa và biết “điều phối” để tạo sức ám ảnh cho thơ. Đây cũng là một tài nghệ tạo lực hút của nhà thơ khi nhìn về độc giả. Nội lực các câu thơ của Quang Dũng chủ yếu dồn vào các động từ gây cảm giác mạnh.

Trong bức tranh tả núi, tả dốc, Quang Dũng có một kiểu đo độ cao độc đáo: “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Có thể thay chữ “ngửi” bằng chữ “chạm” được, nếu nói về độ cao thuần tuý. Nhưng chữ “chạm” dễ làm cho ý thơ yếu đi, chữ “ngửi” mới là yếu tố làm cho câu thơ sinh động hẳn lên. Với động từ này, chí ít, người đọc có thể cảm nhận được ba lớp ý: Thứ nhất, đó là một độ cao chóng mặt (trước là mây, sau là trời). Thứ hai, “ngửi” nói về sự tinh nghịch, một cách nói rất lính (mà Quang Dũng cũng từng là lính đấy thôi). Như vậy, cái độ cao kia có thể làm ai sợ hãi chứ lính Tây Tiến thì không. Vả lại, “ngửi” đã biến cây súng thành người. Biện pháp nhân hoá này nhấn mạnh một thực tế, những chàng trai Hà Nội vừa hào hoa thanh lịch vừa không kém phần dầu dãi, phong trần. Thứ hai, cả câu thơ cho thấy “chí ta cao hơn đèo”. Không một độ cao nào, không một khó khăn gian khổ nào có thể cản nổi bước chân những anh hùng vệ quốc.

Trong chiến tranh, hi sinh, tổn thất là điều không thể tránh. Nhưng “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” lại là một cách nói lạ. Chữ “gục” trong câu thơ này vừa có tính tạo hình vừa có tính biểu cảm cao. Một mặt, “gục” giúp Quang Dũng tránh được việc dùng các từ chết, hi sinh…, mặt khác, nó vẫn giữ được cái thực tế nghiệt ngã và trần trụi của cuộc chiến. Câu thơ vì thế, không rơi vào bi lụy, hình ảnh thơ không bị thô. Đặc biệt, việc kết hợp “gục” với “bỏ quên đời” đã làm nảy lộ một cái nhìn: với người lính Tây Tiến, cái chết trở nên “không đáng kể”, nó chỉ là một chuyện “nhỏ” mà thôi. Cái nhìn ấy chỉ có thể có được ở những chàng trai ngang tàng, dám xả thân vì nghĩa lớn.

Tây Tiến là bài thơ dày đặc những câu thơ tài hoa, nhưng có thể nói “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là câu thơ tiêu biểu nhất cho thi hứng toàn bài. Chữ “gầm” được dùng rất đắc địa. Nó là âm vang của sông núi, là điệu kèn vĩnh quyết, là khúc hát bi tráng… Vũ Quần Phương đã nhận xét khá tinh rằng: “Nội lực câu thơ đó không nằm ở bản thân nó mà rơi xuống từ câu trên: “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Vì cảnh bi hùng như vậy, sông Mã mới gầm lên và chỉ gầm lên đơn độc: “khúc độc hành”. Cái tiếng vang rung chuyển và ngự trị cả một vùng thiên nhiên trời đất sinh ra từ những mất mát câm lặng của con người”. Bài thơ mang phẩm chất anh hùng ngay trong nỗi buồn. Sự có mặt của các từ Hán Việt cùng góp phần tạo nên thành công của thi phẩm.

Từ Hán Việt với đặc điểm chính là “nhòe về nghĩa, vang về ngữ âm, hạn chế về hoạt động” (Nguyễn Phan Cảnh) trước hết có ý nghĩa tạo ra màu sắc trang trọng, cổ kính cho thơ. Không phải ngẫu nhiên mà đoạn thơ thứ ba của Tây Tiến lại xuất hiện các từ Hán Việt nhiều như vậy: đoàn binh, biên cương, viễn xứ, độc hành… Ta biết rằng, trong những năm tháng cam go này, người lính Tây Tiến chết vì ốm, đói, bệnh tật nhiều hơn là chết vì đánh trận. Nếu sử dụng các từ thuần Việt để dựng lại cảnh tượng này, e mạch thơ lập tức sẽ rơi vào bi thương. Chính các từ Hán Việt đã làm cho cái màu sắc ảm đạm kia bị đẩy lùi. Quang Dũng không dùng “đoàn quân” mà ông dùng đoàn binh vì đoàn binh gợi lên khí thế “xung trận” sẵn sàng chiến đấu. Đặc biệt, Quang Dũng có ý thức gợi không khí để nhấn mạnh gam màu hùng tráng. Chi tiết “áo bào” là một chi tiết có khả năng làm đẹp, làm sang để át đi một thực tế khắc nghiệt: những người lính khi hi sinh, manh chiếu che thân cũng chẳng có. Nó bắc một chiếc cầu liên tưởng giúp người đọc nhớ về một thời xưa, các anh hùng trượng phu thà chết nơi sa trường da ngựa bọc thây, thà “một đi không về” coi cái chết nhẹ tựa lông hồng… Nương vào các hình ảnh có tính “siêu mẫu” này chân dung đoàn binh Tây Tiến hiện lên thật lẫm liệt oai hùng.

Thêm nữa, sự có mặt của hệ thống từ thuần Việt: không mọc tóc, xanh, trừng, về đất, gầm… là những từ đậm chất lính, bình dị, đã góp phần “tiếp sức” cho sự có mặt của hệ thống từ Hán – Việt, tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc sắc, lấy cái bình dị để làm nổi bật cái cao cả, lấy cái bình thường để diễn tả cái anh hùng. Trên nền của cái bi, cái tráng vẫn xuất hiện như là yếu tố chủ đạo, tạo ra một sắc màu bi tráng độc đáo và ấn tượng. Chất keo kết dính các thành tố đã nói ở trên chính là cường độ và trường hợp của một nỗi nhớ chơi vơi.

Như ta biết, thoạt đầu thi phẩm có tên là Nhớ Tây Tiến. Sau đó, Quang Dũng đã bỏ từ nhớ. Điều này hoàn toàn hợp lí bởi lẽ toàn bộ bài thơ là một nỗi nhớ tràn đầy, tha thiết. Các sắc độ của nỗi nhớ được thể hiện hết sức tài hoa. Mở đầu bài thơ đã là một tiếng gọi, nỗi nhớ ùa về da diết và khắc khoải. Thán từ “ôi” trong câu thơ “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói” cũng góp phần tạo hiệu suất biểu cảm cho ý thơ. Có khi nỗi nhớ lại hiện lên qua các kỉ niệm đẹp như những nét vẽ thuỷ mặc:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ…

“Chiều sương” cũng chính là nền cảnh. Những câu thơ bảng lảng khói sương hoài niệm. Nhưng đó là những kỉ niệm như được dấy lên từ tiềm thức, vì thế, nó đọng lại rất sâu trong tâm tư người đọc.

Gắn với cảm hứng chủ đạo là cách thức tổ chức giọng điệu tài hoa. Âm chủ của Tây Tiến là giọng điệu bi tráng. Nhưng vấn đề là ở chỗ, Quang Dũng đã tạo ra nhiều sắc thái giọng điệu khác nhau để làm nổi bật giọng điệu chủ đạo. Cách tạo không khí cũng hết sức đặc sắc. Khi thì người đọc cảm thấy căng thẳng bởi dốc cao, vực thẳm, khi lại nhẹ nhõm bởi vẻ trữ tình của cảnh với những câu thơ toàn thanh bằng, khi vui tươi với những đêm hội, khi lại bước vào một không khí cổ kính trang nghiêm… Chính cách thức tạo dựng không khí của nhà thơ đã giúp cho mạch thơ trở nên biến hóa, cảm xúc như những đợt sóng dõi theo bước chân những người lính ra đi với linh thần “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cuối cùng, việc sử dụng cảm hứng và bút pháp lãng mạn để tái hiện chân dung những chàng trai kiêu dũng, hào hoa đã đem đến vẻ đẹp của thi phẩm.

Bút pháp lãng mạn thường hướng về những tương quan đối lập, từ đó tô đậm thêm vẻ đẹp phi thường, cao cả của đối tượng. Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì Quang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn. Cảm hứng lãng mạn đã đem đến men say cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng. Quang Dũng đã thể hiện một cách chân thực sự nồng nàn của cảm hứng nhưng không quên đi cái khắc nghiệt của hiện thực chiến tranh, Bởi thế, người lính trong câu thơ ông nào có “yêng hùng”, có “mộng rớt”, “buồn rớt” gì đâu. Thậm chí, nếu thiếu đi cái chất lãng mạn, Tây Tiến cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó.

Chúc các em thi tốt^^

Phân Tích Bài Thơ Tây Tiến Để Chứng Minh Cảm Hứng Lãng Mạn Và Tinh Thần Bi Tráng Là Đặc Điểm Nổi Bật

Phân Tích Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Văn Học Việt Nam Từ Năm 1945 Đến Năm 1975

Phân Tích Bức Tranh Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng

Phân Tích Hình Tượng Thiên Nhiên Trong Bài Thơ Tây Tiến

Phân Tích Hình Ảnh Người Lính Tây Tiến Trong Bài “tây Tiến” Của Quang Dũng

🌟 Home
🌟 Top