Top 5 # Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu Là Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Chungemlachiensi.com

Bài Thơ Vội Vàng (Xuân Diệu)

Bài thơ Vội vàng Xuân Diệu là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ của ông khi viết về mùa xuân, tuổi trẻ. Đó là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình và trân quý những phút giây mình được sống. Và bài thơ này cũng chính là tiếng nói trong con tim cảu một người đang say mê trong tình yêu.

Bài thơ Vội vàng được in trong tập Thơ Thơ (1933 – 1938) và được xuất bản năm 1938. Đây là một trong những sáng tác lấy cảm hứng từ một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt. Và chất chứa đằng sau những vần thơ này là quan niệm về nhân sinh sâu sắc. Qa thơ ông ta có thể cảm nhận sâu sắc một sức sống mới, đầy mạnh mẽ như mùa xuân của tuổi trẻ.

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại. Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt… Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm, Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

Cảm nhận sức sống mới thông qua bài thơ Vội vàng

Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu chuyển tải tới người đọc một nguồn cảm hứng mạnh mẽ về một sức sống căng tràn. Và nó được thể hiện thông qua các đoạn thơ:

Đoạn 1: 13 câu thơ đầu bộc lộ tình yêu tha thiết

Đoạn 2: Tiếp đến câu 29 thể hiện sự nuối tiếc về kiếp người

Đoạn 3: Cảm xúc vội vàng để tận hưởng.

Phần 1: Cảm nhận tình yêu tha thiết

Xuân Diệu là một nhà thơ yêu cái đẹp đến mãnh liệt và cũng chính là tình yêu. Tuy nhiên tình yêu không phải bao giờ cũng là màu hồng và trong đó cũng sẽ chứa đựng những cảm xúc thiêng liêng , sự chênh vênh hụt hẫng. Nên có thể nói tình yêu không thể tồn tại vĩnh hằng được.

Với Vội vàng ta có thể cảm nhận được một thiên đường trên mặt đất. Đó là những hình ảnh được thể hiện vô cùng lãng mạn và độc đáo. Ở đây tác giả đã sử dụng những động từ mạnh như “tắt nắng”, “buộc gió” để thể hiện điều này. Tuy nhiên làm sao con người ta có thể cưỡng cầu được những quy luật của thiên nhiên. Nhưng chính cái phi lý ấy đã tạo nên một sức mạnh ấn tượng của bài thơ.

Chính tình yêu luôn tràn ngập trong cảm xúc của nhà thơ nên ông cảm nhận nơi mình đang sống như là một thiên đường. Đó là một bức tranh về mùa xuân tràn ngập ánh sáng mới mẻ và tinh khôi. Đó cũng chính là mùa của cỏ cây đâm chồi nảy lộc. Là mùa của sự sinh sôi và nảy nở. Với việc lặp lại điệp từ này đã giúp ta phần nào cảm nhận được điều đó. Đó cũng chính là nét đẹp trong thơ ông.

Là một nhà thơ nên ông rất nhạy cảm trước những sự dịch chuyển của thời gian. Đó chính là xuân sẽ qua. Nếu thơ ca cũ cho rằng xuân sẽ tuần hoàn thì với Xuân Diệu xuân sẽ mất đi. Bởi sự tuần hoàn chỉ là mùa xuân của thời gian của đất trời chứ tuổi trẻ, con người, thì sẽ vĩnh viễn qua đi.

“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Cũng chính vì điều này mà nó thôi thúc một cuộc sống mãnh liệt hơn, hãy sống làm sao cho có nghĩa nhất và làm sao để tích cực nhất. Bởi sống hết mình từng giây từng phút để cống hiến để yêu sẽ là một trong những điều hạnh phúc nhất của đời người.

Chính mạch cảm xúc này mà nhà thơ đã bắt đầu xưng “tôi”. Đó chính là sự gấp gáp và cuống quýt, vồ vập trong tình yêu. Và Xuân Diệu muốn ôm lấy những nét đẹp của cuộc sống: đó là sự sống, là mây đưa gió lượn…. Tuy nhiên thật khó để giữ được mọi thứ thật trọn vẹn. Và trái tim của ông như muốn rộng ra nhiều hơn để chứa được vũ trụ này.

“Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”

Soạn Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Đề bài: Soạn Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Bài làm

Câu 1.

Bài thơ Vội vàng có thể chia thành 3 đoạn như sau:

Đoạn 1: 13 câu đầu. Tình yêu cuộc sống nồng nàn tha thiết của tác giả. Và cảnh vật tràn trề sức sống của thiên nhiên.

Đoạn 2: Câu tiếp theo đến “Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”. Nhà thơ tiếc nuối và băn khoăn trước những sự hữu hạn của đời người, của tự nhiên.

Đoạn 3: Phần còn lại. Xuân Diệu vội vàng tận hưởng cuộc sống.

Câu 2.

Xuân Diệu cảm nhận về thời gian thông qua hình ảnh của mùa xuân:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”.

Xuân Diệu đã cảm nhận về thời gian một cách đầy triết lý nhưng rất thực tế. Vì xuân đến xuân đi là quy luật tự nhiên của đất trời, điều này ai cũng biết. Thời gian cứ thế trôi, hết xuân này đến xuân khác. Mùa xuân ở đây còn là hình ảnh ẩn dụ cho tuổi trẻ khi Xuân Diệu nói ” Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.

Sự qua đi nhanh chóng của thời gian khiến nhà thơ vội vàng, cuống quýt. Ông có tâm trạng như vậy vì ông rất yêu cuộc sống, rất yêu thiên nhiên, muốn tận hưởng hết tất cả những hương vị của cuộc sống. Nhưng ông lại thấy bất lực trước sự qua đi nhanh chóng của thời gian: “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn”. Xuân Diệu không thể làm gì được để ngăn thời gian lại, chỉ có cách là tận dụng mọi thời gian để sống, để tận hưởng.

Câu 3.

Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận qua tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối và vội vàng trong nhịp thơ cuống quýt:

” Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi sớm mai thần vui hằng gõ cửa

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

Xuân Diệu đã dùng điệp từ “này đây” để liệt kê lần lượt những hương vị của cuộc sống. Ông day dứt, băn khoăn, ông vội vàng muốn tận hưởng hết tất cả những gì có trong tự nhiên, trong cuộc sống. Nhưng tận hưởng một cách tinh khiết chứ không phải mù quáng.

Mỗi một chi tiết, một hình ảnh lại được Xuân Diệu gắn với một đặc điểm giống như con người làm cho thiên nhiên càng thêm sinh động và gần gũi.

Những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc thực ra không có gì cao sang hay khác thường cả, thực chất chỉ là những cảm nhận từ những điều giản dị nhất, đơn giản nhất trong cuộc sống. Nhưng chính những điều đơn giản ấy mọi người vẫn thường không để ý đến. Với Xuân Diệu, hạnh phúc thật đơn giản như ngắm một cánh bướm chao lượn, thả hồn mình trong gió mây…

Xuân Diệu còn tưởng như tuổi trẻ là một con người cụ thể để ông “no nê thanh sắc của thời tươi” rồi “cắn vào ngươi”.

Sự cảm nhận và diễn tả của Xuân Diệu thật đặc biệt, thật độc đáo chưa từng thấy trong thơ văn Việt Nam.

Câu 4.

Nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu trong đoạn thơ cuối của bài thơ:

Hình ảnh rất giản dị nhưng được so sánh, ẩn dụ độc đáo và tinh tế đến táo bạo với những ước muốn có phần ngông cuồng của tác giả:

Muốn riết mây đưa vào gió lượn,

Muốn say cánh bướm với tình yêu

Muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Chếnh choáng mùi thơm, đã đầy ánh sáng

No nê thanh sắc của thời tươi

Muốn cắn vào xuân hồng

Về ngôn từ, Xuân Diệu dùng một loạt những động từ mạnh, trong đó chủ là hành động chính là ông.

Nhịp thơ vội vàng, gấp gáp.

Tất cả những điều trên thể hiện một tình yêu cuồng nhiệt của tác giả vào cuộc sống, vào tuổi trẻ. Đồng thời cũng là sự tiếc nuối, day dứt khi không thể khống chế được thời gian và tuổi xuân.

Theo em, hình ảnh mới mẻ nhất, độc đáo nhất mà nhà thơ sáng tạo là: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi. Đây là một hình ảnh rất mới lạ, rất táo bạo. Xuân Diệu dùng từ “cắn” như một cách tận hưởng cuống quýt, vội vàng đúng như cái tiêu đề ông đã đặt.

Tìm Hiểu Bài Thơ “Vội Vàng” Của Xuân Diệu

2. Khái quát về bài thơ:

“Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng, in trong tập “Thơ thơ” (năm 1938), là bản tuyên ngôn về lẽ sống vội vàng của nhà thơ. Bài thơ gồm bốn đoạn thơ, có thể chia làm hai phần. Phần một gồm ba đoạn thơ đầu, là niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí giải vì sao phải sống vội vàng; phần hai là đoạn thơ cuối, nêu cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”.

3. Nội dung, nghệ thuật bài thơ:

a. Phần đầu: Niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian và nêu những lí giải vì sao phải sống vội vàng.

Khổ thơ ngũ ngôn đầu bài thơ: thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ – ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên:

“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”

Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió” là những ước muốn kì lạ, chỉ có ở Xuân Diệu. Bởi thi sĩ sợ “màu nhạt mất”, “hương bay đi” – sợ rằng hương sắc, vẻ đẹp của trần gian sẽ phai nhạt mất. Ông muốn níu giữ tất cả hương sắc, vẻ đẹp của trần gian. Nhưng làm sao cưỡng được quy luật, làm sao con người tắt được nắng và buộc được gió, đó thật sự là một ước muốn không thể. Cái ước muốn lạ lùng, kì dị ấy đã hé mở một tình yêu vô bờ với trần gian thắm đượm hương sắc này.

Khổ thơ thứ hai: Phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường ngay trên mặt đất với bao nguồn hạnh phúc kì thú:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành thơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.

Bảy câu thơ đầu khổ thơ là cảnh sắc trần gian:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”

Bằng những điệp từ “này đây”; nhịp thơ dồn dập, sôi nổi, trần gian hiện ra với đầy đủ vẻ đẹp, sắc hương của nó. “Này đây” là “tuần tháng mật” của ong bướm, là thời gian chúng hút nhụy hoa để lấy mật, thời gian chúng vui sống mãnh liệt nhất. “Này đây” là “hoa” của đồng nội “xanh rì”. Đó là hoa cỏ tươi thắm giữa một cánh đồng xanh mơn mởn, tràn đầy sức sống. “Này đây” nữa là “lá” của một “cành tơ” căng tràn nhựa sống, phơ phất trong gió xuân. Còn những đôi chim “yến anh” đang say đắm trong “khúc tình si”. “Và này đây” nữa là “ánh sáng chớp hàng mi”. Một liên tưởng độc đáo: ánh sáng trần gian tựa như hàng mi của một cô gái đẹp, mỗi khi cô gái chớp mắt thì cả trần gian như si mê. Còn nữa, mỗi sáng sớm, thần Vui lại gõ cửa trần gian, mang đến niềm vui cho nhân loại. Bởi vì thế mà “tháng giêng” “ngon” như “cặp môi gần”. Tháng giêng mơn mởn non tơ, tháng giêng quyến rũ như một người tình rạo rực. Trần gian hiện lên trong cảm nhận của nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” là như thế: tươi đẹp, mơn mởn sức sống, chan chứa niềm vui, niềm hạnh phúc, ngập tràn tình yêu. Trần gian này chính là một thiên đường thực thụ, không phải tìm đâu xa. Trần gian này lúc nào cũng tươi xanh mơn mởn như đang giữa mùa xuân. Thi sĩ như ngất ngây, say đắm trong hương sắc của nó.

Trần gian là một thiên đường, vì thế mà Xuân Diệu tuyên bố:

“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.

Tôi không “sung sướng” sao được khi được sống giữa một thiên đường như thế? Nhưng cũng vì thế mà tôi phải “vội vàng một nửa”. Không vội vàng thì sợ không kịp mất. Tôi “không chờ” cho đến “nắng hạ” mới tiếc nhớ “mùa xuân”, tôi sẽ không để cho tuổi xuân qua đi rồi mới tiếc nhớ thời tươi đẹp ấy. Tôi phải sống ngay từ bây giờ, ngay khi đang còn trẻ, còn đầy sức xuân, khi tâm hồn còn ngập tràn tình yêu. Lời tuyên bố này thể hiện một quan niệm mới: trong thế giới này, đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu.

Khổ thơ thứ ba: Trần gian tươi đẹp là thế, tại sao lại phải “vội vàng”? Khổ thơ thứ ba lí giải cho sự “vội vàng” ấy:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già; Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất. Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ! Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời; Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt… Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ? Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…”

Ba câu đầu là quan niệm về sự trôi chảy của thời gian, sự phôi pha của kiếp người:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già; Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”

Từ “xuân” trong ba câu thơ trên có thể được hiểu là mùa xuân, cũng có thể là “tuổi xuân”, tuổi trẻ của con người. Những cụm từ “đương tới” – “đương qua”, “còn non” – “sẽ già” diễn tả sự trôi chảy của thời gian. Nếu như con người thời trung đại thấy thời gian tuần hoàn với chu kì bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; hết một vòng, thời gian lại quay về điểm xuất phát ban đầu; thì Xuân Diệu đem đến một quan niệm mới mẻ: thời gian tuyến tính. Thời gian là một dòng chảy vô thủy vô chung, mỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn. Và cuộc đời tôi cũng sẽ chẳng còn gì nếu tuổi xuân qua mất.

Bởi thế, mà có chút trách móc, tiếc nuối trong bốn câu tiếp:

“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !”

“Lòng tôi rộng” lắm, với tôi, tuổi trẻ dài bao nhiêu cũng chưa đủ. Nhưng “lượng trời”, tạo hóa lại cứ “chật”, cứ “keo kiệt” với con người: “không cho dài thời trẻ của nhân gian”. Tuổi trẻ ngắn ngủi quá, mong manh hữu hạn quá. Hai câu trên thoáng chút trách móc. Hai câu dưới nồng nhiệt phủ định quan niệm thời gian tuần hoàn của người xưa, bộc lộ niềm tiếc nuối: đời người không có hai lần tuổi trẻ thì làm gì có chuyện thời gian tuần hoàn ! Tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất của đời người lại ngắn ngủi quá !

Niềm tiếc nuối ấy thể hiện rõ hơn trong hai câu tiếp:

“Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;”

Vũ trụ, đất trời cứ trường tồn mà lại “chẳng còn tôi mãi”, thế nên tôi “bâng khuâng”, ngậm ngùi “tiếc” cả đất trời.

Thời gian cứ thế trôi đi không thể trở lại, kiếp người lại ngắn ngủi, hữu hạn, tất cả rồi sẽ phải phai tàn theo thời gian:

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt… Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?”

“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi” là một cảm nhận mới lạ, độc đáo. “Tháng năm”, thời gian được cảm nhận bằng “mùi”, “vị chia phôi”. Thi sĩ thấy hiển hiện mỗi khoảnh khắc của thời gian đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ. Chính thời gian cũng đang chia tay với tất cả, mỗi phút giây của nó qua đi là đang mất đi vĩnh viễn. Cho nên, thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông, một lời than triền miên, bất tận: “than thầm tiễn biệt”. Thời gian trôi qua mau chóng, tất cả rồi sẽ phai tàn, héo úa theo nó. “Con gió xinh” tưởng không bao giờ mất, thế mà cũng phải “bay đi”; tiếng chim hót “reo thi” tưởng không bao giờ ngừng nghỉ, thế mà cũng phải “đứt”. Tất cả, tất cả đều phôi pha, phai tàn trước dòng chảy nghiệt ngã của thời gian. Thế nên, câu thơ cuối khổ thơ vang lên đầy nuối tiếc: “Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…”. Chẳng thể nào kịp nữa nếu không nhanh lên, gấp lên, không “vội vàng” lên. Đến đây, nhà thơ đã hoàn thành xong lời lí giải vì sao phải sống “vội vàng” : cuộc sống trần gian đẹp như một thiên đường; trong khi đó, thời gian một đi không trở lại, và đời người – đặc biệt là tuổi trẻ của con người – lại quá ư ngắn ngủi, hữu hạn, nên chỉ còn một cách là phải sống vội. Đây là quan niệm nhân sinh mới mẻ của một tâm hồn luôn khát khao giao cảm với đời.

b. Phần hai: cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng”. Khổ thơ cuối: Nhà thơ nêu cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng” “Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm. Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn. Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều, Và non nước, và cây, và cỏ rạng. Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi. Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.”

Mở đầu đoạn thơ là lời giục giã :

“Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm.”

Nhà thơ giục giã mọi người mà cũng là giục giã chính mình: hãy mau lên, gấp lên để tận hưởng cuộc sống. “Mau đi thôi!” là câu cảm thán thể hiện sự khẩn trương, hối hả. “Mùa chưa ngả chiều hôm” là cách nói hình ảnh chỉ con người khi đang còn trẻ, chỉ trần gian khi đang ở độ xuân, chưa phai tàn hết hương sắc. Nhà thơ giục giã hãy nhanh lên, gấp lên khi đang còn trẻ, đang còn tràn trề nhựa sống, đừng hoài phí giây phút nào nữa. Giục giã đã trở thành môtip quen thuộc trong thơ Xuân Diệu:

“Nhanh lên chứ, vội vàng lên với chứ!

Em, em ơi, tình non sắp già rồi.”

(“Giục giã”)

“Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai,

Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.”

Lời giục giã khẩn trương, gấp gáp này đã hé mở lòng yêu đời, ham sống đến tha thiết, rạo rực của một con người luôn sợ thời gian.

Sáu câu thơ tiếp theo bộc lộ những hành động sống vội vàng:

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn, Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều, Và non nước, và cây, và cỏ rạng.”

Xuân Diệu muốn “ôm, riết, say, thâu” tất cả sự sống, tất cả trần gian vào mình. Thi sĩ như căng hết cảm giác, xúc giác để sống mãnh liệt, sống hết mình, sống nồng nàn, say mê. Ông phải hành động thật mạnh mẽ, thật mãnh liệt để cảm nhận hết vẻ tươi xinh mơn mởn của đất trời, thu nhận hết hương sắc của trần gian. “Ta muốn ôm” là một câu thơ đặc biệt: chỉ có ba tiếng, lại được đặt ngay giữa dòng thơ, gợi cho người đọc hình dung ra một con người ham hố đang đứng giữa đất trời, dang rộng vòng tay, mở rộng tâm hồn để đón nhận hết tất cả sự sống, tất cả đất trời vào lòng mình. Câu thơ có cấu tạo đặc biệt này đã thể hiện rõ lòng yêu đời cuồng nhiệt, đắm say của Trảo Nha.

Hệ thống động từ “ôm, riết, say, thâu” chỉ những hành động sống vội vàng, mãnh liệt có mức độ tăng tiến đã diễn tả đầy đủ quan niệm “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”. Qủa thực, đó là lòng yêu đời đến cuồng nhiệt của thi nhân.

Thêm nữa, nhà thơ miêu tả trần gian bằng những hình ảnh “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, “mây đưa”, “gió lượn”, “cánh bướm – tình yêu”, “non nước”, “cây”, cỏ rạng”. Trần gian ấy thật tươi đẹp, tràn đầy sức sống, rạo rực tình yêu. Cách miêu tả trần gian ấy cũng bộc lộ lòng yêu đời đến đắm say, rạo rực của Xuân Diệu.

Đặc biệt, câu thơ “và non nước, và cây, và cỏ rạng” là một câu thơ độc đáo cho thấy Xuân Diệu xứng đáng với mệnh danh “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới”. Câu thơ lặp lại ba lần từ “và” (nếu như trong văn học trung đại sẽ là một câu thơ dở) là dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Ông muốn thể hiện một “cái tôi” ham hố, tham lam muốn vơ hết, thu hết, ôm hết tất cả trần gian, đất trời. Tóm lại, những hành động sống vội vàng, mạnh mẽ muốn “ôm, riết, thâu” cả trần gian, Trảo Nha khẳng định, với ông “vội vàng” là sống hết mình, cống hiến hết mình, là “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”.

Với Xuân Diệu, sống là hành động thật mãnh liệt, hết mình để có thể :

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi. – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Với ông, sống là phải cảm nhận, hưởng thụ hết “mùi thơm”, “ánh sáng”, “thanh sắc của thời tươi”, nghĩa là phải hưởng thụ hết vẻ đẹp, hương sắc của trần gian, phải sống sao cho “thời tươi” của đời người thật ý nghĩa, thật đẹp để sau này không hối tiếc. Các tính từ “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” có mức độ tăng tiến khiến chúng ta hình dung Xuân Diệu như một con ong lảo đảo vui sướng sau khi hút mật ngọt từ nhụy hoa. Ông muốn sống thật hăng say, sống thật mãnh liệt, lúc nào cũng căng tràn nhiệt huyết, để “thời tươi” – tuổi trẻ – được đẹp đẽ nhất, được “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” với niềm vui sướng từ mật ngọt hương đời.

Ông còn hình dung tuổi xuân của đời người như một cô gái đẹp và gọi tên nó một cách tha thiết “hỡi xuân hồng”. Cách hình dung cuộc sống như thế cùng với hành động thật vồ vập “cắn” đã thể hiện sự quý trọng thời trẻ của đời người, đồng thời bộc lộ rõ lòng yêu cuộc đời đắm say như yêu người yêu của mình.

Tóm lại, với những câu thơ độc đáo, những từ ngữ và nhịp điệu dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt, nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” đã nêu ra cách “thực hành” lẽ sống “vội vàng” của mình: Vội vàng là chạy đua với thời gian, là quý trọng từng giây phút của tuổi trẻ, đừng để hoài phí giây phút nào; vội vàng là sống mạnh mẽ, đủ đầy với từng phút giây của sự sống, “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”.

4. Nghệ thuật cả bài:

Bài thơ có sự kết hợp hài giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí. Mạch cảm xúc thể hiện ở lòng yêu đời đắm say, tha thiết, rạo rực của nhà thơ; mạch luận lí là lời lí giải về lẽ sống vội vàng. Mạch cảm xúc làm cho lí lẽ không trở nên khô khan, triết học, còn mạch luận lí làm cho mạch thơ được tự nhiên, nhuần nhị. Cùng với cách nhìn, cách cảm mới, những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ và cách sử dụng ngôn từ, nhịp điệu sôi nổi dồn dập, hối hả, cuồng nhiệt, nhà thơ đã trình bày một quan niệm nhân sinh mới mẻ mà vẫn dạt dào cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết.

5. Ý nghĩa văn bản:

Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu – nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời.

Bình Giảng Bài Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu

Bình giảng bài thơ vội vàng

Đề b ài: “… Tôi để lòng tôi trong những câu tiếng, tôi đã gửi nhịp máu trong nhịp thơ, đã gói ghém âm điệu của mình trong ít nhiều âm điệu.” Qua bài thơ Vội Vàng anh/chị hãy làm sáng tỏ quan niệm trên của nhà thơ Xuân Diệu. Đây là một đề bài hay, có tính bao quát toàn bài thơ mọi người chú ý nha vì qua bài làm này bạn có thể làm được rất nhiều đề bài khác.

XEM THÊM: Vội vàng (phần 1): Sơ đồ tư duy chi tiết

Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới. Thật vậy, thơ Xuân Diệu là sự giải phóng thật sự của cái “tôi” cá nhân luôn khao khát, đắm đuối cuộc sống, tuổi trẻ, tình yêu. Vì vậy, Hoài Thanh đã nhận xét: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu. Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, tạo ra một cảm giác mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ. Có lẽ, Xuân Diệu là người đã tạo ra sự đổi mới đó một cách mạnh mẽ và thể hiện nó như một tuyên ngôn nghệ thuật trong các tác phẩm của mình: “Tôi để lòng tôi trong những câu tiếng, tôi đã gửi nhịp máu trong nhịp thơ, đã gói ghém hơi thở của tôi trong ít nhiều âm điệu. Và bài thơ “Vội vàng chính là điển hình cho phong cách nghệ thuật ấy”.

1. Tác giả, tác phẩm

Xuân Diệu(1916-1985) tên khai sinh Ngô Xuân Diệu, bút danh Trảo Nha, quê cha ở Hà Tỉnh, quê mẹ ở Bình Định, lớn lên ở Quy Nhơn. Sau khi học xong tú tài, Xuân Diệu làm viên chức ở Mĩ Thọ sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn là 1 thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Ông sớm tham gia Cách mạng và hoạt động văn hóa nghệ thuật rất sôi nổi trở thành gương mặt tiêu biểu cho phong trào thơ mới.

Trước Cách mạng, thơ Xuân Diệ u thể hiện một tâm hồn khát khao giao cảm với đời tuy nhiên cũng nói lên nhiều chán nản hoài nghi, nhân vật trữ tình hiện diện trong thơ hết sức cô đơn. Sau Cách mạng, thơ ông chan chứa niềm tin yêu về cuộc sống về đất nước, không còn chán nản hoài nghi mà nỗ lực hoà cái riêng vào cái chung của dân tộc, vào cuộc sống xây dựng xã hội mới Vì thế Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại là “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới” với các tập thơ tiêu biểu là “Thơ thơ, Gửi hương cho gió, Riêng chung…. Với hồn thơ nhạy cảm với thời gian, là nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu”Xuân Diệu” còn được mệnh danh là “Ông hoàng của thơ tình

1.2. Tác Phẩm

Bài thơ in trong tập Thơ thơ – tác phẩm thi ca đầu tay của ” Xuân Diệu“. Khi đó nhà thi sĩ ấy là một chàng trai hiền hậu và say mê, tóc như mây vương trên đài trán ngây thơ, mắt như bao luyến mọi người và miệng cười mở rộng như một tấm lòng sẵn lòng ân ái. Chàng đi trên đường thơ, hái tặng những bông hoa gặp dưới bước chân, những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của lòng chàng. Thơ thơ là cụm đầu mùa chàng tặng cho nhân gian. Và từ đây chúng ta đã có Xuân Diệu

2. Giải thích

Câu nói Văn học không chỉ là tấm gương phản chiếu cuộc sống mà còn là sản phẩm tâm hồn của người nghệ sĩ. Mỗi tác phẩm là đứa con tinh thần mà người nghệ sĩ sáng tạo và sinh ra, gửi gắm những tâm tình, nỗi lòng của chính mình với cuộc đời, với con người. Văn chương là nơi để người ta có thể thoát khỏi trần thế, phiêu du với cõi tiên, để phá vỡ những quy tắc tự nhiên vốn có.

Và thơ Xuân Diệu là một điển hình như thế. Ông gửi vào những vần thơ trong veo nỗi lòng và tình yêu hay oán trách. Sau tất cả vẫn là một tâm hồn chân thực và khát khao được sống, được cống hiến. “Tôi để lòng tôi trong những câu, những tiếng…

– với Xuân Diệu – một hồn thơ tha thiết giao cảm với cuộc đời, thơ trở thành phương tiện để giãi bày, bộc lộ những cảm xúc chân thật nhất. Không chỉ có thế tôi đã ghi nhịp máu trong nhịp thơ, đã gói ghém hơi thở của “Tôi trong ít nhiều âm điệu, Xuân Diệu quan niệm nhà thơ cần in dấu ấn riêng của mình trong giọng điệu ngôn từ, thế giới hình ảnh thơ,… Và Vội vàng là một bài thơ như thế – nơi mà ông Hoàng thơ tình được trải lòng cùng với trời đất, được khát khao cống hiến và hưởng thụ, nơi mà một tài năng trở thành bất diệt…

3.1: Vội vàng thể hiện tiếng lòng thiết tha của Xuân Diệu

Mở đầu cho bản tình ca về cuộc sống là niềm khao khát giao cảm với đời, ước muốn níu giữ thời gian để vĩnh cửu hóa vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi Bằng những câu thơ ngụ ngôn, thị sĩ đã bày tỏ những ước muốn kì lạ: tắt nắng, buộc gió để giữ lại màu sắc hương vị của cuộc đời. Đó là ao ước được can dự vào quy luật của tạo hóa thật táo bạo và khác thường.

Khát vọng ấy không phải được bắt đầu từ sự nông nổi ngông cuồng của tuổi trẻ mà cháy lên từ một tâm hồn thi sĩ lãng mạn đa cảm và thiết tha yêu đời muốn được giữ mãi bên mình vẻ đẹp thanh tân của cuộc đời này, chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hóa vẻ đẹp của cuộc đời. Cũng là một nhà thơ mới,cũng là lứa tuổi của Xuân Diệu nhưng Chế Lan Viên lại viết những câu thơ buồn bã ai đâu trở lại mùa thu trước nhặt lấy cho tôi những lá vàng với của hoa tươi, muôn cánh rã về đây đem chắn nẻo xuân sang Chính vì lẽ đó ta tới thấy càng trân trọng yêu mến biết bao nhiêu tâm hồn nồng nàn, tha thiết của Xuân Diệu với Cuộc đời.

Bốn câu thơ năm chữ mở đầu bài thơ tự do và cách ngắt nhịp vội vã dứt khoát những điệp ngữ tôi muốn, cho kết hợp với điệp cấu trúc ngữ pháp đã tô đậm thức độ mãnh liệt nồng nàn của ước vọng trong tâm hồn thi sĩ. Trong Xuân Diệu, đó còn là một giao cảm đặc biệt với thiên nhiên của cuộc sống nơi trần thế.

Nhà thơ cảm nhận cuộc đời như một khu vườn mùa xuân căng đầy nhựa sống: của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì. Này đây lá của cành tơ phơ phất của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa,Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

Với thi sĩ, một năm chỉ có hai mùa xuân và thu: Xuân với thu là hai bình minh trong một năm, sự thay đổi hệ trọng nhất của tâm hồn. Và bởi vậy thu cũng là một mùa xuân (Trường Ca) Mùa xuân mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa của gắn bó sinh sôi hạnh phúc. Và khu vườn xuân trong bài thơ cũng “Vội vàng” dâng sắc, tỏa hương, trao mật ngọt.

Ong bướm rộn ràng bởi những đóa hoa xuân khoe sắc thắm nổi bật giữa đồng nội xanh rì. Cành tơ phơ phất vươn dáng nõn nà trong bức tranh xuân. Ánh nắng bình minh bừng hé đầy ngạc nhiên vì thế giới xung quanh mình. Yến anh hội hè rộn rã. Tháng giêng mơn mởn da thịt xuân hồng. Một bức tranh đầy ánh sáng mới mẻ, tinh khôi, đầy âm thanh tình tứ, rộn rã, đầy màu sắc, hương thơm và vị ngọt men say tình ái, đầy niềm vui đón chờ mỗi ban mai.

Và nhựa sống như dâng lên trong lòng tạo vật. Tất cả đều được bày sẵn, gọi mời như một bữa tiệc trần gian. Những điệp ngữ “này đây” kết hợp với những hình ảnh liệt kê mở ra trước mắt người đọc cả 1 thế giới tràn đầy xuân sắc góp phần diễn tả một điệu tâm hồn say mê hồi hả của thi sĩ có cảm giác nhà thơ mới lạc bước xuống thiên đường trần thế cho nên đi từ hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Vườn xuân cũng là vườn yêu, vườn tình vườn hạnh phúc.

Thiên nhiên tạo vật đầu có đôi có cặp say sưa rộn ràng và mê mải trao sắc gửi hương trong mùa tình ái dường như xui khiến lòng người rạo rực đắm say, sung sướng ngất ngây tận hưởng. Thì nhân hóa tình nhân. Nhà thơ thiết tha gắn bó với cuộc đời, mong được: sống toàn tim, toàn ý, toàn hồn Sống toàn thân và thức nhọn mọi giác quan

Để cảm nhận hết, tận hưởng tất cả mọi vẻ đẹp của cuộc sống. Chính cái nhìn trẻ cặp mắt “Xanh non” và “Biếc rờn” luôn lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp đã tạo nên vẻ đẹp riêng trong bức tranh của người thi sĩ . Tuần tháng mật trở thành mùa bướm ong dập dìu. Cành xuân đã hóa thành cành cành tơ đầy nhựa sống.

Tiếng chim say sưa của chim yến chim oanh quấn quýt bên nhau tạo nên bản nhạc mùa xuân say đắm khôn cùng. Và bình minh xuân diễm lệ mang gương mặt của người con gái kiều diễm với rèm mi làm bằng ánh sáng. Tháng giêng – một khái niệm vốn vô hình được thi sĩ “So sánh ngon như một cặp môi gân”.

Tháng giêng mơn mởn cành tơ, môi gần gợi cảm, yêu kiều, vừa gợi cảm xúc trần thế đắm say nồng nàn của con người, vừa ấp trong tấm lòng rộng mở “sẵn lòng ân ái với cuộc đời” của tình nhân-thi sĩ. Cái nhìn trẻ ấy đã trẻ hóa thế giới già nua , làm cho nó mới mẻ đầy bất ngờ ngạc nhiên như lần đầu tiên được khám phá bởi đôi mắt chập chững sáng trong nơi tâm hồn con trẻ. Những điệp ngữ “này đây” kết hợp với hình ảnh liệt kê như mở ra trước mắt người đọc một thiên đường nơi trần thế. Một thế giới đầy điều mới lạ, tươi trẻ và muôn sắc hồng.

Đứng trước thiên nhiên vô tận, Xuân Diệu còn ý thức được sự hữu hạn của cá nhân, dự cảm lo âu về thời gian và sự ngắn ngủi của tuổi trẻ. Đó cũng là cách để nhà thơ bộc lộ lòng yêu đời, yêu sống thiết tha. Trong quan niệm của người xưa, thời gian là tuần hoàn, xuân đi rồi lại đến.

Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn tĩnh tại lấy vũ trụ làm thước đo của thời gian. Từ quan niệm ấy người xưa có một lối sống an nhiên thuận theo lẽ tự nhiên và nhận thức rằng cái chết chưa hẳn đã là hư vô: Xuân qua, trăm hoa rụng Xuân tới trăm hoa tươi Trước mắt việc đi mãi Trên đầu già đến rồi Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai Xuân diệu lại có ý thức khác về thời gian:xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già Với thi sĩ, thời gian của cuộc đời vẫn trôi chảy không ngừng, từng phút giây đi qua sẽ chẳng bao giờ lấy lại được .

Câu thơ trên mới đọc qua tưởng như là vô lí nhưng lại được viết nên từ những lí lẽ mang tính triết học và tâm hồn nhạy cảm của Xuân Diệu. Quan niệm đó của nhà thơ xuất phát từ cái nhìn nhìn biện chứng về vũ trụ và cuộc đời, nỗi niềm khắc khoải thời gian vẫn thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Tuy nhiên thực tế vẫn thực tế: Hoa nở để mà tàn Trăng tròn để mà khuyết, Bèo hợp để chia tan Người gần để ly biệt

Vũ trụ vẫn chuyển động như vốn dĩ, thời gian vẫn trôi, cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn. Với sự thức tỉnh ý thức cá nhân sâu sắc, nhà thơ cảm nhận hơn ai hết một sự thật đáng buồn “Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại cho dù mùa xuân của đất trời vẫn cứ tuần hoàn, ngày hôm nay đã khác hôm qua, huống chi năm này với năm khác, nàng xuân thì trường sinh còn tuổi trẻ mỗi người đều có giới hạn. Nhà thơ đã lấy mùa xuân, tuổi trẻ làm thước đo cho cuộc đời mỗi con người.

Tuổi trẻ là khoảng thời gian quý giá nhất nhưng cũng vô cùng ngắn ngủi. Cuộc đời con người và tuổi xuân được đặt trong mối quan hệ với không gian, thời gian mênh mông vĩnh hằng:”Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất” cho nên lại càng ngắn ngủi, hữu hạn biết bao nhiêu.

Khát khao của người nghệ sĩ càng vô cùng lớn lao thì giới hạn của kiếp người càng trở nên ngắn ngủi, chật chội. Đến đây cái vui rạo rực của phần trên dường như đã tan biến, nhường chỗ cho một nỗi u buồn, một nỗi niềm nuối tiếc khôn nguôi đối với cuộc sống tươi đẹp trên thế gian này: Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Tác giả đã tạo ra giọng tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình. Nhà thơ như đang đối thoại với ai đó đang yên tâm với quỹ thời gian bốn mùa tuần tự trôi qua không mất đi đâu. Nhà thơ đã dựng lên mối tương quan đối lập giữa các hình ảnh “Non”, “Già” “Tới” “Qua “Còn chẳng còn, vẫn tuần hoàn chẳng hai lần thắm lại đã tô đậm bi kịch của kiếp người mang tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn không bao giờ sống trọn vẹn được phần khát khao của chính mình.

Thi sĩ thấy thời gian như ngọn gió bay nhanh, lướt qua tất cả. Lúc tạo vật ở độ căng mọng nhất cũng là khi đối diện với sự ám ảnh tàn phai hủy diệt của ngọn gió thời gian. Tất cả đều bất ngờ, hụt hẫng, tiếc nuối, thảng thốt. Thời gian có mùi, có vị chia phôi. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một chia lìa một mất mát. Bao nhiêu sự vật trên thế giới này. Mỗi khoảnh khắc trôi qua đang từ giã bản thân mình. Cho nên cả trời đất, núi sông dâng lên một âm thanh duy nhất: âm thanh của sự chia li. Vạn vật thở than ngậm ngùi đưa tiễn phần đời của chính nó.

Những phần đời như thế ra đi không thể nào cưỡng nổi tạo thành dòng chảy không ngừng phôi pha, mất mát, chia lìa. Sự thức dậy sâu xa về giá trị sống có thể đã đưa đến một cảm nhận đầy ám ảnh về thời gian trong lòng tạo vật như thế ở nhà thơ Xuân Diệu

Chính vì sự nghiệt ngã của thời gian nên Xuân Diệu mới hối hả, cuống quýt, giục giã sống nhanh, sống gấp. Làm gì trước thời gian vội vã đuổi mau? Thi sĩ đã từng trả lời câu hỏi đó bằng nhiều cách. Xuân Diệu từng ao ước có cặp hài vạn dặm để “Đi mau trốn nét, trốn màu” nhưng đó chỉ là ước mơ cổ tích.

Trong Vội vàng thi sĩ đã phát hiện ra cách chiến thắng thời gian bằng cường độ sống, khát vọng sống, tận hiến và tận hưởng cuộc sống bằng tất cả các giác quan, sống mãnh liệt như ngọn lửa thổi bùng. Vì thế nhà thơ giục giã phải sống nhanh sống gấp để cho kịp với thời gian. Đời người ngắn ngủi, tuổi xuân có hạn và thời gian trôi đi vĩnh viễn không trở lại “Giục giã” chúng ta phải “Nhanh lên”, vội vàng lên để tận hưởng bữa tiệc của trần gian khi mà “Mùa chưa ngả chiều hôm”, khi mà xuân đang non, xuân chưa già: Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm

– Ta cũng bắt gặp một lời giục giã như thế trong một bài thơ khác: Mau lên chứ, vội vàng lên với chứEm, em ơi, tình non sắp già rồi

Với Xuân Diệu, vội vàng là phải sống bằng tất cả cường độ mãnh liệt, sống hết mình để tận hưởng cuộc sống, cuồng nhiệt đến mức muốn “ôm … riết…say…thâu…cắn” để tận hưởng cuộc sống này một cách trọn vẹn và hạnh phúc nhất. 3.2 Vội vàng mang dấu ấn riêng của một hồn thơ, một phong cách nghệ thuật Đó là một cái “tôi” tràn đầy cảm xúc, sôi nổi, mạnh mẽ, đắm say đến cuồng si. Một cái tôi. khẳng định trước đất trời, trước cuộc đời…Xuân Diệu có những ước muốn táo bạo mà chưa ai dám nghĩ tới. Thi sĩ bày tỏ ước muốn kì lạ tắt nắng, buộc gió để giữ lại màu sắc hương vị của cuộc đời.

Đó là ao ước được can dự vào quy luật của tạo hóa. Thật táo bạo, khác thường! Và rồi để khép lại bài thơ là một khát khao cháy bỏng, cuồng nhiệt hơn bất cứ ai hết: Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn….-Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào người Khát vọng tận hưởng cuộc sống: Ở trên, tác giả xưng tôi để đối thoại bộc bạch giãi bày với đồng loại với cuộc đời, ở dưới lại xưng ta để đối diện với sự sống trên trần gian, đối tượng cần tận hưởng.

Có nhà thơ đã nói thơ chỉ tràn ra khi cuộc sống trong tim đã ứ đầy, vì thế nhà thì đã tuyên bố: “Ta muốn ôm” Câu thơ như thắt ngang giữa bài làm ta liên tưởng đến vòng tay đang ôm bó, níu giữ, quấn quýt “Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, non tơ của nhà thơ, “Mơn mởn” là từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi cảm giác sự vật, cây cối đang độ non mướt, tươi tốt đầy sức sống: Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn làm dây da quấn quýt cả vườn xuân Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất(Thanh niên)Lần theo bước chân vội vàng quấn quýt với sự sống của thi nhân ta bước chân vào một thế giới đầy những hình ảnh sinh động:Ta muốn riết mây đưa và gió lượn…. cắn vào người Một đoạn thơ ngắn mà có tới bốn từ “ta muốn” được lặp đi lặp lại như nhịp điệu hối hả như nhịp thở gấp gáp của thi nhân. Nó đã nói lên được ham muốn thèm khát đến hăm hở, cuồng nhiệt của nhà thơ.Cho chuếnh choáng mùi thơm….Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Mới đọc qua tưởng như là một câu văn xuôi tầng thường, nhưng thật ra lại rất thơ, không chỉ đã diễn tả được ý thơ ấy (thoả thuế, sung mãn) mà còn gợi cho ta ý nghĩa: thế giới này vừa hiện ra như một người tình hồng hào sức xuân mà thi nhân đắm say, vừa được bày ra như một bữa tiệc lớn với những thực đơn đây của

ngon vật lạ và thi nhân chính là thực khách đang trong trạng thái khát thèm đến cháy bỏng. Dưới ngòi bút của Xuân Diệu và trong ánh mắt”Xanh non, biếc rờn” của thi sĩ, mùa xuân hiện lên rõ rệt và có hình có dáng, có hồn có sắc. Mùa xuân như môi, như má của một người thiếu nữ tràn trề nhựa sống và đẹp xinh, trinh nguyên đang rạo rực yêu đương ngọt thơm trong vườn.

Đứng trước cái hấp dẫn của mùa Xuân, cuộc sống thật không thể nén nổi lòng yêu đã đi đến một cử chỉ cũng thật đáng yêu. “Ta muốn cắn vào người”. Mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn, đắm say, ham sống của một “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Mới từ điệu tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ đến cách đặt câu, dùng từ. Ngay cả liên từ và được dùng có vẻ thừa thãi nhưng cũng đã thể hiện được cái tôi của Xuân Diệu.

Nghĩa là làm nổi rõ được cái cảm xúc tham lam, ham hố đang trào lên mãnh liệt trong trái tim yêu đời của Xuân Diệu. Xuân Diệu – đó còn là một cảm quan nghệ thuật mới mẻ, độc đáo. Thí sĩ cảm nhận thiên nhiên bằng cái nhìn”Xanh non biếc rờn”, bằng “lăng kính tình yêu làm chuẩn mực để miêu tả thiên nhiên, sự sống. Nhà thơ đã vẽ ra một bức tranh về cuộc đời trong đó lấy vẻ đẹp con người làm chuẩn mực để nói lên vẻ đẹp của thiên nhiên, sắc xuân của trần thế.

Trong bức tranh ấy ta bắt gặp chim yến chim oanh, bắt gặp ong, bướm và thấy cả những ánh sáng chớp hàng mi, những ánh sáng ngập tràn trong tâm hồn của kẻ tình si. Những hình ảnh thân thuộc nhưng đã được khoác lên một tấm áo mới. Xuân Diệu đã thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo của “Ông Hoàng thơ tình” thông qua giọng điệu, ngôn ngữ, sáng tạo hình ảnh thơ, thủ pháp nghệ thuật… làm nên diện mạo của “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, Giọng điệu vội vàng lúc ngọt ngào, sâu lắng, lúc tha thiết, rạo rực, lúc lại bâng khuâng, xao xuyến để rồi cuối cùng là những giục giã, hối bố, vội vàng, cuống quýt.

Nhà thơ đã đưa người đọc đi trọn vẹn mọi cung bậc cảm xúc để hòa mình vào không gian riêng của thi sĩ, của thời đại, để cùng đắm say với tình yêu, với cuộc sống. Xuân Diệu sử dụng một hệ thống ngôn ngữ độc đáo, mang đậm phong cách của” nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

Những tính từ mạnh được sử dụng một cách hiệu quả, thú vị “Chếnh choáng, đã đầy, no nê” để nhấn mạnh vào sắc thái hưởng thụ thỏa thuê của nhân vật trữ tình. Tất cả cộng hưởng với nhau tạo nên một một làn sóng ngôn từ và cảm xúc càng lúc càng mãnh liệt dâng lên đến cao trào. Lời thơ tuôn đi hối hả như một bản hành khúc của lòng ham sống, với Xuân Diệu cuộc đời nơi trần thế là thiên đường tuyệt diệu nhất.

XEM THÊM: Phân tích tác phẩm “Chí Phèo ” bằng sơ đồ tư duy

Ý kiến của Xuân Diệu thật sâu sắc khi đề cập đến vấn đề cốt lõi của thơ – điều cần thiết để thơ đi vào lòng độc giả và vượt qua được quy luật trước thời gian. Vội vàng như một thứ tự bạch, tự họa của Xuân Diệu. Qua tâm hồn đa cảm của thi nhân, bức tranh thiên nhiên và cuộc sống thật tuyệt vời, thật đáng yêu và đáng sống. Tất cả được thể hiện bằng tài năng và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ tài hoa. Đó là minh chứng hùng hồn cho quan niệm về sáng tạo thi ca ở một nhà thơ lớn.

2 Nghệ thuật

Vội vàng có nét độc đáo trong cấu tứ. Bài thơ Có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố trữ tình và chính luận, vừa bộc lộ những rung động mãnh liệt vừa lí giải về lẽ sống vội vàng, cuống quýt mà Xuân Diệu muốn gửi đến độc giả. Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thời trung đại

Và đặc biệt cái mới trong thơ phương Tây, Xuân Diệu Có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ, cách diễn đạt mới, hình ảnh mới. Chính điều đó đã làm nên tên tuổi của “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”.

Đến với bài thơ “Vội vàng ” của Xuân Diệu, mỗi người như được tiếp thêm một nguồn sống dồi dào, mãnh liệt, biết sống thế nào để cuộc đời ngắn ngủi của mỗi con người trên thế gian này không trôi đi một cách vô nghĩa.”Vội vàng” cũng là nơi cái tôi độc đáo, sáng tạo của thi sĩ được thể hiện rõ nét nhất và tiếng lòng của Xuân Diệu được cất lên không trực tiếp nhưng để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc

XEM THÊM: “Chí Phèo “(Phần 2): Phân tích bi kịch cự tuyệt làm người của “Chí Phèo” trong truyện ngắn cùng tên