Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Về Lòng Yêu Nước Của Tố Hữu Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Phân Tích Lòng Yêu Nước Trong Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu

Bài Thơ Hay Viết Về Người Nông Dân

Bài Văn Hay Phân Tích Về Lòng Yêu Nước Của Con Người

Bài Văn Hay Nói Về Tấm Lòng Yêu Nước Của Nhà Thơ Nguyễn Trãi

Đề Kiểm Tra Cuối Tuần 2 Tiếng Việt Lớp 5

Những Bài Thơ Tình Buồn Khiến Bạn Xúc Động Rơi Nước Mắt

Phân tích lòng yêu nước trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Tố Hữu được coi là cánh chim đầu đàn của thơ ca Cách mạng, kháng chiến. Mỗi tác phẩm của ông là mỗi tấm lòng ông trải ra với cuộc đời, đất nước và dân tộc. Đặc biệt, với “Việt Bắc” ta thấy rất rõ ở đó một lòng yêu nước thiết tha và cháy bỏng.

Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc là một trong những mạch nguồn cảm hứng chảy dọc đối với văn học nghệ thuật mọi thời đại. Tình yêu nước là tình cảm đối với đất nước, qua mỗi thời kì lại được biểu hiện bằng những tình cảm khác nhau. Thuở khai thiên lập địa ban đầu, yêu nước là yêu những cánh đồng, những thắng cảnh của quê hương; đến thời phong kiến, yêu nước gắn với “trung quân ái quốc”. Yêu nước trong thời buổi tao loạn là nỗi xót thương cho “con đen dân đỏ” phải chịu kiếp lầm than dưới ách ngoại xâm, “bạo chúa”. Đến những năm đầu thế kỉ XX, nó biểu hiện qua hình ảnh con hổ trong vườn bách thú mà nhớ về rừng xanh (“Nhớ rừng” – Thế Lữ), là nỗi buồn man mác khắp vũ trụ trong các nhà thơ mới hay nỗi đau xót của các nhà hiện thực chủ nghĩa trong từng con chữ. Nhưng khi Cách mạng đến, đời sống chuyển sang một trang mới, yêu nước là niềm tự hào dân tộc: về mỗi nơi, mỗi con người, mỗi giây phút đang sống, là ý chí “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” của cả nước. Cảm hứng yêu nước giai đoạn 1945 -1975 là sự kết hợp của sử thi hào hùng và cảm hứng lãng mạn.

Tháng 7 năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp quay trở lại nước ta đã kết thúc thắng lợi. Hòa bình được lặp lại, nửa đất nước được giải phóng. Tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Lịch sử dân tộc bước sang một trang mới. Ở thời khắc này, người ta có nhu cầu nhìn lại chặng đường vừa qua, đồng thời hướng về con đường tương lai để bước tiếp. Bài thơ “Việt Bắc” ra đời để đáp ứng nhu cầu ấy của xã hội, là tiếng lòng của đồng bào mọi người. “Việt Bắc” là bản trường ca đầy ân tình – tình quê hương, tình đất nước, nghĩa tình giữa con người.

Tố Hữu là đứa con của Đất nước, của Cách mạng; mỗi vần thơ của ông đều mang giai điệu của đất nước, đều gắn với kháng chiến, cách mạng:

Lòng yêu nước với Tố Hữu, trước hết là tình yêu đối với thiên nhiên Việt Bắc – một “chiến sĩ” chiến đấu ngoan kiên:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

Giờ đây, không chỉ con người mà thiên nhiên cũng tham gia vào cuộc kháng chiến, một trong những dũng tướng, là một trong những cộng sự đắc lực cho bộ đội. Núi rừng, nếu ở những câu thơ trước là “những mây cùng mù” âm u, hoang vắng, là một trong những thử thách để con người thể hiện mình thì ở đây lại trở thành “lũy sắt dày”. Những dãy núi trùng điệp trải dài, kiên cố như một thành lũy bất khả xâm phạm che chở bộ đội, dân quân, du kích của ta, hơn nữa còn “vây quân thù”. Đó chính là một trong những yếu tố quan trong làm nên chiến thắng vang dội của quân dân Việt Nam. Dưới con mắt sử thi của Tố Hữu, núi rừng vô tri bỗng trở nên kiên trung, tình nghĩa. Những vách thành tạo dựng từ những tư thế hiên hang, kiêu hùng là điểm tựa cho chúng ta mà cũng khiến kẻ thù phải bất lực.

Thiên nhiên Việt Bắc cũng là món quà tuyệt vời mà tạo hóa, Tổ quốc ban tặng chúng ta. Bức tranh mùa đông được vẽ ra bởi hai câu thơ:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Hình ảnh: “hoa chuối, nắng ánh” tươi rói sức sống. Con người trong thơ Tố Hữu là con người trong tư thế hiên ngang, vóc tầm lớn lao của người làm chủ, làm chủ cuộc đời mình và làm chủ núi rừng. Tiếp theo, bức tranh mùa xuân được mở ra từ hai câu thơ:

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Nếu trong cổ thi, xuân là hình ảnh của mai thanh cao, đào thanh nhã thì xuân thì đến Tố Hữu đã chối bỏ những ước lệ cổ xưa ấy để trở về với những hình ảnh tươi tắn, bình dị như từ đời mà bước vào trang thơ. “Hoa mơ” – hình ảnh giản dị của núi rừng Việt Bắc đã ám ảnh, đi về trong tâm trí của Tố Hữu. Hình ảnh con người hiện lên trong công việc: “đan nón chuốt từng sợi giang”. Động tư “chuốt” gợi đến bàn tay người lao động đang nhẹ nhàng và trân trọng, tỉ mỉ và cần cù, khéo léo. Dường như bao nhiêu chờ đợi, mong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón. Đó phải chăng chính là chất thơ của con người miền núi mà sau này Y Phương tự hào gọi ba tiếng: “người đồng mình”. Rồi hè đến trong âm thanh rộn ràng của tiếng ve:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Bức tranh Việt Bắc trở nên sống động hơn bao giờ hết. Tiếng ve là hình ảnh hồn nhiên, gần gũi của núi rừng. Tác giả không dùng là “nhuộm vàng, chuyển vàng,…” mà là “đổ vàng” – cuộc chuyển màu nhất loạt, bất ngờ, mạnh mẽ. Đó mới chính là cuộc chuyển mình, là sức sống nọi sinh tràn trề của cỏ cây chỉ có trong thơ ca cách mạng. Hình ảnh con người hiện lên không phải là hai chị em họ Vương kiều diễm, không phải người con gái cá tính trong thơ Hồ Xuân Hương, … – gắn với những ước lệ tượng trưng mà là “em” gắn liền với cuộc sống lao động, trong cái đẹp bình dị của cuộc sống. “Em gái” – tiếng gọi nghe thật thân thương, gần gũi.Thu sang:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Luồng sáng của trăng nơi thượng ngàn “rọi hòa bình” – ánh sáng của tự do, của hòa bình rọi sáng niềm vui lên khắp núi rừng, bản làng Việt Bắc. Đại từ phiếm chỉ “ai” – đại từ phiếm chỉ thể hiện tiếng lòng bâng khuâng. Đó là hình ảnh người trên “đèo cao nắng ánh”? Là cô em gái “hái măng một mình”? Hay là sự phân thân, hóa thân của chủ thể trữ tình mượn thơ mà thể hiện tiếng lòng thủy chung với nhân dân, với kháng chiến, cách mạng.

Thiên nhiên trong thơ Tố Hữu thật đẹp, nhưng là vẻ đẹp của thời đại mới, vẻ đẹp của con người mới, của sức sống mới.

Tiếp theo, một điều có thể dễ nhìn thấy, đó là tình yêu nước trong thơ Tố Hữu mang tính giai cấp rõ rệt. Trong quan niệm của nhà thơ cách mạng ấy, “dân là dân nước, nước là nước dân”. Đất nước vĩ đại luôn gắn với những người dân bình dị mà anh hùng. Vì thế, yêu nước cũng chính là yêu nhân dân. Ông tự hào với những vẻ đẹp ân tình, ân nghĩa của con người:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”

Ta lại bắt gặp lối đối đáp “mình- ta” quen thuộc trong những câu hát giao duyên của lứa đôi, giữa bến – thuyền, mận – đào. Điệp cấu trúc: “Mình về, mình có nhớ….” là câu hỏi hay là sự gợi nhắc đầy ý tứ, ý tình. Lối đối đáp mình – ta với âm điệu ngọt ngào, thiết tha làm cho những câu thơ bỗng trở nên mềm mại, như cũng vấn vương nỗi lưu luyến, nhớ nhung. Tình quân – dân, vấn đề chính trị khô khan, từ bao giờ lại được trữ tình hóa, trở nên da diết và nồng nàn như tình yêu đôi lứa, đó chính là nhờ ngòi bút của nhà thơ Tố Hữu. “Mười lăm năm” không chỉ là khoảng thời gian địa lí, nó kí ức, là một phần thanh xuân của biết bao con người, của cả dân tộc. Một chữ “ấy” thôi, không cụ thể nhắc đến thời gian nào nhưng lại mở ra muôn vàn ý nghĩa. Mười năm năm của thời gian: từ những ngày thành lập ở Cao Bằng, những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc đến chiến thắng vang dội của Hồng Thái, Tân Trào,… Mười năm năm ân tình, ân nghĩa của đồng đội, quân – dân của những ngày tháng “bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, “miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”. Người ở lại còn gợi nhắc về những ân tình, thủy chung – đạo lí dân tộc: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Những thành ngữ, chất liệu dân gian, qua ngòi bút tài hoa Tố Hữu, vừa mang hơi thở thời đại, vừa giữ được tính dân tộc của nó: “cây- núi”, “sông- nguồn”. Bốn dòng thơ, cho 15 năm dằng dặc, vất vả mà hào hùng. Bốn dòng thơ cho những nghĩa tình không bao giờ nói hết. Bốn dòng thơ cho những da diết, luyến lưu không lỡ rời. Bốn dòng thơ cho cả lẽ sống cần có, bây giờ và mãi về sau: ân tình, thủy chung, uống nước nhớ nguồn….

Đặc biệt tình yêu nước là niềm hạnh phúc khi được sống trong không khí hào hùng của dân tộc:

“Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như lá đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

Một đoàn quân hùng hậu, có sức mạnh vô song đnag ngày ngày tiến lên phía trước. Một loạt từ láy “rầm rập, điệp điệp, trùng trùng, thăm thẳm” làm cho giọng thơ thêm hào hùng, sức mạnh như tăng lên. Đó không phải là hình ảnh bất chợt mà là “đêm đêm”, ngày ngày. Hình ảnh “đèn pha bật sáng như ngày mai lên” hay chính là hình ảnh của dân tộc Việt Nam bước ra khỏi màn đêm mà tìm lại ánh sáng cho chính mình.

Tình yêu nước, cũng gắn với niềm tin vào con người, tương lai như thế. Để rồi vỡ òa thành niềm vui, niềm tự hào chiến thắng:

“Tin vui chiến thắng trăm miền

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Bốn câu thơ, câu nào cũng có sự xuất hiện của từ “vui”. Điệp từ “vui” được lặp lại tạo nhịp thơ nhanh, dồn dập càng làm cho niềm vui chiến thắng, sự hân hoan được nảy nở, lan tỏa từ lòng người đến người, từ câu thơ mà tràn qua tới lòng người đọc. Một loạt các địa danh từ khắp miền núi tới đồng bằng, khắp mọi nơi được nhắc tới trong thủ pháp liệt kê khiến ta có cảm giác niềm vui đã ngự trị, hạnh phúc đã đến với được tất cả mọi người, mọi nơi rồi. Từ những gian khổ, khó khăn năm nào “miếng cơm xẻ nửa, chăn sui đắp cùng” đến chiến thắng trăm miền hôm nay vẫn luôn một lòng có nhau. Đó chính là sức mạnh của những trái tim và tấm lòng người Việt. Thơ Tố Hữu là thế đó: lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc, của thời đại.

Với Tố Hữu, yêu nước chính là tình yêu thiên nhiên, là tình cảm dành cho con người và những nếp sống dân tộc, là niềm tin vào tương lai, vào cuộc sống. Từ gian khổ mà đi đến niềm vui, từ chiến đấu mới có chiến thắng hôm nay. Mạch thơ vận động từ bóng tối ra ánh sáng, từ khổ đau đến niềm vui, đến tương lai. Đây cũng là đặc điểm thơ Tố Hữu, cũng là nền thơ kháng chiến Việt Nam: luôn vận động theo cảm hứng lãng mạn: hướng tới tương lai, ánh sáng và niềm vui. Qua đó là niềm tin vào tươi lai và cũng làm tròn chức năng văn học: phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến.

Chiến tranh đã qua đi, những ranh giới lại được lập lên hoặc san bằng nhưng bài thơ của Tố Hữu vẫn còn đó. Bởi nó không chỉ phục vụ cho thời điểm đó mà còn là bài ca về lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

Nhà Thơ Tố Hữu Và Những Bài Thơ Đi Cùng Đất Nước

Phân Tích Bài Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Soạn Bài: Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta (Hồ Chí Minh)

Soạn Bài Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta

Phân Tích Tinh Thần Yêu Nước Được Thể Hiện Trong Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà

Nghị Luận Về Lòng Yêu Nước

Mấy Suy Nghĩ Về Thơ Qua Tác Phẩm ” Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình “

Phân Tích Tinh Thần Yêu Nước Được Thể Hiện Trong Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà

Soạn Bài Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta

Soạn Bài: Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta (Hồ Chí Minh)

Phân Tích Bài Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Bài làm

Đất nước ta đã trải qua bao nhiêu thăng trầm bể dâu mới có được hòa bình và nền độc lập như hôm nay. Đó là nhờ vào sự nỗ lực cống hiến cũng như tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước sâu sắc của mỗi thế hệ. Cho đến ngày nay, lòng yêu nước vẫn luôn là thứ tình cảm thiêng liêng cần được trân trọng và phát triển hơn nữa.

Lòng yêu nước là tình yêu đối với quê hương, đất nước; nỗ lực cố gắng không ngừng để dựng xây và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn. Lòng yêu nước là tình cảm cao cả, thiêng liêng của mỗi người dành cho quê hương đất nước. Đó là yêu sông, yêu núi, yêu làng, yêu xóm, yêu người dân sống trên mảnh đất hình chữ S. Tình cảm ấy đơn giản, gần gũi và nằm ngay trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của mỗi người.

Lòng yêu nước lúc đó chính là cố gắng không ngừng nghỉ, cố gắng ngày và đêm để giữ lấy độc lập của đất nước. Quân thù hung ác nhưng ý chí chiến đấu của nhân dân càng phải quyết tâm. Tình yêu nước nồng nàn và tha thiết đó là vũ khí để chiến thắng kẻ thù.

Trong thời bình, lòng yêu nước thể hiện ở việc chung ta xây dựng xã hội chủ nghĩa, mang lại cuộc sống no đủ cho nhân dân và sự vững bền cho đất nước.

Tình yêu mà chúng ta dành cho làng quên yên bình, cho những dòng sông đổ nặng phù sa, cho bãi mía nương dâu. Nhà văn Ê ren bua từng nói “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu quê hương tạo nên lòng yêu Tổ quốc”. Những tình yêu tưởng chừng như bình dị như vậy nhưng lại tạo nên một tình yêu lớn lao và cao cả hơn.

Mỗi chúng ta từ lúc sinh ra cho tới lúc lớn khôn và trưởng thành thì gia đình là nơi nuôi dưỡng, dạy dỗ. Đó là nơi chúng ta cần yêu thương đầu tiên. Mai này chúng ta lớn lên có trường học, xã hội, những người bạn xung quanh. CHúng ta cần phải san sẻ tình yêu thương của mình cho tất cả mọi người nếu có thể. Đôi khi lòng yêu nước chỉ là tình cảm đơn giản, bình dị như vậy nhưng lại có ý nghĩa rất lớn.

Đất nước ta đang đi lên chủ nghĩa xã hội, thế hệ trẻ cần phải cống hiến và chung tay xây dựng đất nước phát triển hơn. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường thì cần phải cố gắng chăm học, rèn luyện không ngừng để trở thành người công dân tốt cho xã hội.

Lòng yêu nước của mỗi công dân sẽ đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Xung quanh chúng ta còn có rất nhiều mảnh đời cần sự sẻ chia và giúp đỡ. có những đứa trẻ lang thang cơ nhỡ, bị bố mẹ bỏ rơi, những cụ già neo đơn hoặc bị con cái ngó lơ. Họ cần được yêu thương và sẻ chia. Chúng ta hãy dang rộng vòng tay để yêu thương họ, kêu gọi xã hội yêu thương họ bằng những hành động thiết thực nhất.

Tuy nhiên bên cạnh những người tràn đầy tinh thần yêu nước thì vẫn có những phần tử cố ý chống lại đất nước, chống lại chính quyền. Đó là những kẻ đi theo chủ nghĩa xuyên tạc, nói xấu đảng và chính phủ. Cần phải xử lý thật nghiêm khắc những trường hợp này để mang lại sự yên ổn của xã hội.

Như vậy lòng yêu nước trong xã hội này là cần thiết đối với mỗi con người. Chúng ta cần phải rèn luyện tinh thần này thường xuyên để dựng xây và cống hiến cho đất nước.

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình

Bài Thơ “bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình” Của Nhà Thơ Trần Vàng Sao

“bài Thơ Của Một Người Yêu Nước Mình”

Văn Mẫu Lòng Yêu Nước Trong Tác Phẩm Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Nhạc Chuông Con Yêu Mẹ Nhiều

Tố Hữu: Làm Thơ Và Yêu Thương

Cảm Nhận Về Bài Thơ Mưa Của Trần Đăng Khoa

Chùm Thơ Buồn Về Đêm Mưa Một Mình “gặm Nhấm” Nỗi Cô Đơn

Thơ Mưa Đêm Cô Đơn, Thơ Buồn Lẻ Loi Trong Đêm Mưa Lạnh Giá

Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Tuyển Chọn Những Bài Thơ Buồn Về Đêm Mưa Có Lượt Share Rầm Rộ

8 Bài Thơ Về Cơn Mưa Buồn Nhẹ Nhàng Nhưng Chất Chứa Nhiều Tâm Trạng

Viết xong bài “Theo chân Bác”, anh tâm sự với tôi:

-“Anh có hai niềm vui, một là khỏi bệnh, hai là viết được một trường ca về Bác. Những tưởng lần này ra đi theo Bác, thế mà lại làm được một việc có ích”

Trong nhà tôi, những chỗ trang trọng nhất anh đều treo ảnh Bác: trên tường phòng khách, phòng làm việc, cả dưới mặt kính bàn giấy của anh. Hình ảnh Bác ngồi đọc báo ngoài vườn, Bác hút thuốc lá, Bác ra mặt trận, Bác tiếp văn nghệ sỹ và anh hùng chiến sỹ, v.v… đâu đâu anh cũng như thấy được ở bên Bác.

Dưới ảnh Bác là ảnh đồng chí Lê Duẩn cũng được trang trọng treo trong phòng làm việc của anh.

Anh Tố Hữu thường nói với tôi:

– Đồng chí Lê Duẩn là người đầu tiên đưa anh vào con đường cách mạng. Anh là một cán bộ lão thành từng trải từ lúc mới thành lập Đảng. Anh am hiểu phong trào và cán bộ của cả ba miền Đất nước. Không những thế, anh là một nhà chiến lược thông tuệ và tài năng của Đảng. Nhân cách cao đẹp của người cộng sản kiên trung như Anh đáng cho ta học tập noi theo.

Nhớ đến anh Lê Duẩn, anh Tố Hữu thường gợi lại câu tâm huyết giáo dục đạo đức cán bộ đảng viên: “Mỗi ngày ta nên vào Đảng một lần”.

Khi anh Lê Duẩn mất, anh đã viết tặng một bài thơ dài “Nhớ về Anh”. Nhưng không hiểu sao bài thơ đưa in ở Hà Nội rất khó khăn, anh phải đem in ở nhà xuất bản Đà Nẵng hàng vạn bản và gửi tặng nhiều nơi. Trong bài thơ “Mười tám thôn Vườn Trầu”, anh viết sau khi đi thăm huyện Hóc Môn, nơi địch đã giết năm đồng chí Trung ương ủy viên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, anh nhắc đến anh Lê Duẩn, người đã đến Hóc Môn lúc đó để họp: “Lê Duẩn ẩn thiên tài”…

Nhiều lần được nghe nói chuyện, đôi lần được tiếp xúc với anh Lê Duẩn tôi nhận ra giữa anh Lê Duẩn và anh Tố Hữu thật sự có một sự đồng điệu về lối suy nghĩ linh hoạt, khả năng nhậy bén khi đánh giá tình hình, tính quyết đoán trong công việc, và cả tính tình nhân hậu của người cộng sản.

Một người nữa mà anh Tố Hữu thương yêu, trân trọng là anh Nguyễn Chí Thanh. Hai anh cùng chung một quê là xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà hai anh ở hai làng sát gần nhau, anh Thành ở Niêm Phò, anh Tố Hữu ở Phù Lai, cách nhau một cái cầu đá nhỏ vắt qua một nhánh hẹp của con sông Bồ. Một thời gian sau giải phóng, dân xã đã xây dựng lại cây cầu đá thành cầu xi măng và đặt tên là cầu Thành Hữu.

Tình bạn của hai anh bắt đầu cũng thật ngộ nghĩnh. Khi mới được giác ngộ, có lần về làng, nghe đồn có anh nông dân tên Vịnh khí khái, dám đấu tranh với cường hào, anh Tố Hữu nảy ra ý định sang tuyên truyền cách mạng. Thấy anh Tố Hữu là một thanh niên học sinh thành phố còn trẻ măng, anh Thanh chưa tin, liền trả lời bâng quơ: “Mình có làm chi mô. Chỉ thấy người làng ta than sưu cao thuế nặng thì mình cũng đi theo đòi giảm sưu thuế thôi”.

Anh Tố Hữu buồn thất vọng ra về. Đến năm 1939, khi anh Tố Hữu bị bắt vào lao Thừa Phủ, gặp lại anh Thanh và được tổ chức bên ngoài giới thiệu anh Thanh là Bí thư tỉnh ủy, mới vỡ lẽ ra anh Thanh trước kia đã là cán bộ cốt cán của Đảng bộ Thừa Thiên rồi. Từ trong lao Thừa Phủ hai anh gắn bó với nhau, anh Thanh làm Bí thư, anh Tố Hữu làm Phó bí thư chi bộ nhà tù.

Trong tù, mỗi lần đấu tranh chống khủng bố, tù nhân (như vụ chống giết hại cụ Tiết, vụ hành hạ anh Lê Chưởng), địch đem dùi cui đến đánh đập, và xịt vòi rồng xối nước dữ dội vào người tù, thì anh Thanh lại đứng ra và động viên những đồng chí to lớn khỏe mạnh đứng hàng đầu che chở cho những đồng chí yếu ớt như anh Tố Hữu. Trong khám Thừa phủ, nhớ đồng quê, nhớ quê hương anh đã viết tặng anh Thanh (tên thật là Vịnh) bài “Nhớ đồng”.

Sau mỗi lần tranh đấu, địch chia rẽ, phân tán tù nhân đi các nhà tù khác, không hiểu sao hai anh vẫn được đi với nhau. Đến khi cách mạng thắng lợi, anh Thanh ra tù, hai anh trở về Thừa Thiên, lại cùng ở trong xứ ủy Trung kỳ, anh Thanh là Bí thư xứ ủy, anh Tố Hữu là Phó. Rồi các anh cùng hoạt động với nhau ở khu bốn, ở Trung ương tại Việt Bắc, tại Hà Nội, một “quan võ”, một “quan văn” nhưng thực sự là một đôi bạn tâm giao thân thiết. Những dịp gặp nhau, hai anh trao đổi không chỉ chuyện công tác mà còn chuyện quê hương, chuyện nhân tình thế thái. Anh Thanh cũng là người rất yêu thơ Tố Hữu và là một trong những nhà phê bình “thơ” chân thành của anh.

Năm 1963 khi anh Nguyễn Chí Thanh được Trung ương cử vào Nam phụ trách Trung ương Cục, anh Tố Hữu làm bài thơ “Tiễn đưa” tặng anh Thanh:

“Đã hay đâu cũng say tiền tuyến

Mà vẫn bâng khuâng, mộng chiến trường

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ

Hơn ngàn trang giấy luận văn chương…”

Những câu thơ đó cũng chính là nguyện vọng của anh muốn trực tiếp được vào Nam công tác.

Năm 1967, khi ở miền Nam ra báo cáo với Bộ Chính trị, để chuẩn bị cho chiến dịch 1968 anh Thanh đến thăm chúng tôi. Anh vỗ vai anh Tố Hữu:

– Mi làm nhiều thơ hay vào, ở rừng chiến khu, nằm võng nghe Châu Loan ngâm thơ Tố Hữu, tau mát ruột lắm.

Nhà thơ Tố Hữu cùng vợ khi còn trẻ.

(Ảnh chụp lại từ tư liệu của gia đình. Thành Trung).

Trước hôm trở về Nam, anh Thanh đến thăm anh Tố Hữu và tâm sự rất lâu. Ai ngờ ba giờ sáng hôm sau, điện thoại réo, báo tin anh Nguyễn Chí Thanh bị nhồi máu cơ tim khó cứu chữa. Anh Tố Hữu tức tốc chạy vào bệnh viện thì anh Thanh đã được đưa vào phòng mổ tim và không biết gì nữa. Anh Thanh ra đi, với anh Tố Hữu có lẽ đau đớn như mất một người anh ruột. Anh viết bài thơ viếng “Một con người”:

“Cứ nghĩ như anh vẫn sống hoài

Mặt hiền như ruộng lúa,

nương khoai

Hai con mắt đỏ bừng như lửa

Cái miệng cười tươi sáng dặm dài… Ở đâu nghèo đói gọi xung phong

Lon nước mo cơm lội khắp đồng

Ở đâu tiền tuyến kêu anh đến

Vượt núi băng rừng, lại tiến công!

Ôi! Sống như Anh, sống trọn đời

Sáng trong như ngọc,

một Con Người!

Thanh ơi! Anh mất rồi chăng đấy?

Cứ thấy như Anh nở miệng cười!”

Còn biết bao nhiêu “tâm hồn đẹp” đã vào thơ anh. Không chỉ những đồng chí lãnh tụ tiêu biểu, tài năng, đức độ mà anh quý trọng, anh còn viết nhiều về những con người anh hùng trong quần chúng nhân dân. Để viết về những con người đẹp nhất đó, anh có thói quen, nói đúng hơn là một nguyên tắc, là phải tiếp cận nhân vật. Anh nói: “Thơ bằng hành động điển hình, tránh trừu tượng; làm sao cho thơ được quần chúng hiểu, yêu mến”. Anh luôn tìm cách gặp gỡ, trao đổi, lắng nghe tâm tư mỗi con người.

Những tấm gương anh hùng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Gia Khảm, Trần Thị Lý, mẹ Suốt, mẹ Diệm, Hồ Giáo, đội nữ dân quân Hàm Rồng, đơn vị pháo cao xạ nữ Quảng Bình… đều là nguồn cảm hứng cho thơ sau khi anh được gặp. Năm 1962, sau khi đi làm việc với Tỉnh ủy Hưng Yên anh về thăm quê anh hùng thủy lợi Phạm Thị Vách, mắt thấy tai nghe về nỗi khổ “sống ngâm da, chết ngâm xương”, quanh năm thiếu đói của người nông dân vùng chiêm trũng, anh đã viết bài “Giữa ngày xuân”. Anh ghi trong sổ tay công tác: “Hãy chân thật như mảnh đất, như những con người bình thường mà vĩ đại này. Để những đau khổ, dũng cảm của con người tự nói lên. Chớ kêu gào thêm. Chớ thêm son phấn. Hãy giản dị, rất giản dị, như tất cả những sự thật vĩ đại, như nhân dân lao động vĩ đại. Nhưng đừng tầm thường, dễ dãi trong cảm xúc nghệ thuật. Và hãy tươi, tươi như sự sống, không chút cứng nhắc. Qua tất cả, trong tất cả, hãy toát lên lòng yêu cuộc sống, yêu con người, yêu Đất nước Việt Nam đẹp đẽ của ta. Làm sao cho thấm vào lòng người, chói sáng trước mắt mọi người hình ảnh lớn lao của người con gái anh hùng…”

Khi đi công tác tại vùng mỏ Quảng Ninh về, anh ghi trong nhật ký: “Đời sống của công nhân đầy gian khổ, anh dũng, phải sống trong đó mà sáng tạo. Đó là công bằng. Đó là nhân phẩm”. Nhiều ý thơ, câu thơ về người thợ mỏ còn dang dở sau đó. Nhưng có lẽ anh không có thì giờ viết tiếp bởi công tác khẩn cấp hàng ngày kéo anh đi.

Như thế đấy, những số phận chìm nổi của con người, những tình huống thăng trầm của Đất nước, những tấm gương chiến đấu hy sinh cho sự tồn vong của Tổ quốc đều là những nguồn cảm hứng vô tận của thơ anh.

Chuyện “đời thường” cũng làm anh xao xuyến. Những số phận éo le của con người, nỗi buồn của sự nhớ thương cô quạnh cũng gợi ra những cảm hứng thi ca mà tôi rất yêu thích ở anh. Chỉ khác một điều là cái buồn, cái nhớ đó không dẫn đến bi lụy, chán nản, mà thấm sâu vào lòng trắc ẩn để thúc giục ý chí đấu tranh, xây dựng cho cuộc đời tươi đẹp hơn.

Khi cùng anh trên chuyến phà qua sông Hậu, gặp một tài tử mù hát rong, gảy đàn, anh đến ngồi gần và lặng nghe chăm chú. Khi vào một vườn cam ở một vùng quê heo hút miền Tây, anh chạnh lòng thương thân phận cô chủ vườn quá thì lỡ lứa. Đi thuyền trên sông, anh chỉ cho tôi để ý bóng áo tím của một cô lái đò, gợi nhớ nét thân quen xứ Huế quê anh. Ở thành phố Hậu Giang, gặp đoàn nữ sinh phấp phới đồng phục áo dài trắng, anh nháy mắt nhìn tôi: “Cô Thanh nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa đấy”. Tôi nhớ lại những đêm khuya anh chong đèn, miệng huýt sáo lấy âm điệu khi làm thơ. Anh dịch bài thơ “Long Thành Cầm giả ca” của Nguyễn Du bởi cảm thông với xúc động của Nguyễn Du với cô kỹ nữ vốn nổi danh trẻ đẹp, hát hay đàn giỏi một thời, nay gặp lại đã tàn phai và bị đời quên lãng…

Năm 1969, khi nghi bị bệnh máu trắng, phải nằm viện hơn một tháng tại khu cách ly rất vắng vẻ ở Moskva, anh đã hối hả viết xong bản trường ca “Theo chân Bác”. Cảnh mùa đông Nga hình như cũng gợi để anh dãi bày tâm tư. Thí dụ như bài “Nửa đêm:

“Nửa đêm tỉnh giấc rừng yên lặng

Biết mình xa nước, vắng quê hương

Ngoài trời tuyết lạnh, rơi đêm trắng

Mà cháy lòng ta những nhớ thương.”

Hay bài “Không ngủ”: “Không ngủ đêm nằm nghe tuyết tan

Bâng khuâng nhớ nước tiết thu tàn

Mưa rơi dồn dập nghe tim đập

Tưởng bước hành quân

bỗng nóng ran.”

Còn một lĩnh vực chiếm một góc khá quan trọng trong tâm hồn anh là thiên nhiên. Và gắn với mỗi cảnh vật ở từng lúc, từng nơi, thường là một tâm trạng. Anh thuộc địa lý, lịch sử, biết nhiều chuyện dã sử nên đi đến đâu cũng có bài học cho chúng tôi.

Vợ chồng nhà thơ Tố Hữu và các con.

Khi còn ở Việt Bắc, đôi lúc đi trong rừng tôi thấy anh thật sự sung sướng được chìm ngập trong cảnh rừng cây hoang dã, những con suối nước trong veo, dưới đáy sỏi trắng lô xô, lắng nghe tiếng róc rách của nước chảy qua ghềnh đá. Khi tôi với anh về thăm di tích lịch sử Hoa Lư tỉnh Ninh Bình, anh mơ màng ngắm nhìn màu sương lam chiều bảng lảng trên những dãy núi hùng vĩ. Anh bảo tôi:” Những dãy núi hiểm trở này đã từng là nơi che dấu rất tốt chiến khu Hòa Ninh Thanh” (anh từng tham gia xây dựng chiến khu này cùng các anh: Văn Tiến Dũng, Trần Kiên, vào khoảng những năm 1942-1944). Đi công tác về địa phương với anh, anh ngắm không biết chán màu xanh ngắt của đồng lúa, nương ngô, ruộng mía. Gặp những cánh đồng lúa chín vàng rộm, bông nặng trĩu, anh sung sướng hít thở hương lúa mới. Có lần anh ngoái lại nói với tôi:” thật tuyệt vời, vừa đẹp, vừa no bụng rồi !”.

Về làng Hanh Cù, huyện Hậu Lộc, thăm gia đình mẹ Tơm, ngắm bãi biển cát trắng mênh mông, anh bùi ngùi nhớ lại cảnh mẹ và các con trai của bà hàng ngày bươn trải kiếm ăn nuôi anh và các đồng chí Tỉnh ủy những ngày đói khổ năm 1945.

Về công tác ở Quảng Ninh, khi Tỉnh ủy chiêu đãi ở khách sạn nổi “Biển mơ” trên vịnh Hạ Long tuyệt đẹp, anh không vui: “Bao giờ người thợ mỏ mới được hưởng cảnh này …”

Anh đặc biệt yêu chim, nhưng là những con chim tự do bay lượn. Anh không thích chim bị nhốt trong lồng, dù chúng đẹp và quý tới đâu. Anh bảo tôi: “Anh cứ ân hận mãi việc ấp ủ một con chim sâu nhỏ tình cờ lạc vào xà lim của anh. Anh đã cố dành chút cơm tù cho nó, nhưng không có không gian, nó vẫn chết”. Có lẽ vì bị giam hãm trong cảnh tù đày và sống trốn tránh lúc hoạt động bí mật nhiều năm, anh luôn ước ao mình được tự do như con chim chăng?

Lúc ngồi bên mộ Mạ trên núi Thiên Thai ở Huế, nghe chim cu cườm gáy, anh lại nhớ tiếng ru của Mạ năm xưa. Nhớ về những người yêu thương khi ở xa, anh muốn biến thành chim dõi theo để “tim đỡ buồn”. Khi ở ngoài vườn, anh thích ngắm nhìn những con chim sẻ, chim chích chuyền cành hót líu lo. Đôi lúc anh huýt sáo họa lại, rủ chúng lại gần cho ăn. . .

Biết anh yêu thiên nhiên, có lần anh Đào Tùng (giám đốc Thông tấn xã Việt Nam) tặng anh một máy ảnh nhỏ. Đi đâu anh cũng mang theo. Trong những cuốn album của gia đình còn rất nhiều “tác phẩm” của anh.

Sống với anh, tôi luôn được chứng kiến, được chia xẻ những cảm xúc thi ca như vậy. Nhưng có người không hiểu anh đã nói: “anh chỉ biết công việc”. Giá như lòng anh được thảnh thơi hơn, anh đủ thì giờ hơn để viết thì hay biết bao! Anh luôn ân hận không viết được nhiều như mong ước, mặc dầu anh rất cố dành thời gian cho sáng tác. Anh viết đều đặn, bền bỉ cho đến cuối đời, song song với công việc cụ thể hàng ngày của một người lãnh đạo.

Trong “kho tàng” thơ anh, nhiều bạn băn khoăn ít được đọc thơ tình (tình yêu đôi lứa), nhất là đối với một thi sỹ trữ tình như anh. Tất nhiên tôi lại càng mong ước điều đó hơn ai hết. Cả các anh Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Lưu Trọng Lư… cũng nói với anh ý muốn ấy. Anh đã trả lời: “đúng là tôi ít làm thơ tình, tôi không toàn tâm toàn ý dành thời gian cho mảng đề tài này. Tôi ít viết những bài thơ tình một cách cụ thể, một cách trực tiếp. Đây không phải là điểm mạnh của tôi. Hơn nữa, trong hoàn cảnh chiến tranh, biết bao thanh niên ra trận đã phải gác tình cảm riêng lại. Nếu ta nói nhiều về tình yêu đôi lứa thì không nên”. Quan niệm đó anh phát biểu một cách gián tiếp khi mượn câu của La Bruyère: “Người ta cảm thấy một cái gì như là sự xấu hổ khi thấy mình được hạnh phúc giữa những bất hạnh của người khác”.

Tuy nhiên anh là một thi sỹ, và trước hết là một người rất nhậy cảm (sensible). Dù như anh tự nhận những bài thơ tình chiếm một vị trí khiêm tốn trong sự nghiệp sáng tác của anh, nhưng như giáo sư Hà Minh Đức đã có lần nhận xét: “Có một mảng riêng thầm lặng mà đằm thắm, tuy không được mở rộng, nhưng chỉ với đơn vị nhỏ bé ấy cũng bộc lộ phần thẳm sâu khó đoán định, phần tình cảm riêng tư nhất của tác giả. Đó là giây phút bồi hồi xao xuyến bên người thân yêu”.

Cái mạch ngầm đó anh đã bộc bạch khi nói về ngôn ngữ tình yêu: “ngôn ngữ của tôi chỉ có thể hiểu được giữa những người bạn chí thân. Đó là những bài thơ tình của tôi, viết theo cách của tôi…Tôi yêu đất nước tôi, dân tộc tôi và tôi nói về họ như về một người tình…Tôi muốn ôm hôn tất cả và muốn ôm tất cả thường phải dùng những biểu hiện tình cảm rộng hơn. Trong những bài thơ của tôi có thể tìm thấy rất nhiều từ em hay mình. Từ đó không hoàn toàn cụ thể, nhưng cũng không hoàn toàn trừu tượng. Điều đó nói về một người và cũng về nhiều người khác nữa.”

Mạch ngầm đó còn là “sự im lặng giữa những từ”: …Nhiều điều không phải bao giờ cũng sáng tỏ…Thông thường người ta cảm nhận được điều mà người ta không cắt nghĩa được. Không dễ dàng gì thể hiện nó ra. Nếu tìm cách đặt những đường nét, những ranh giới, những giới hạn quá rõ rệt thì sẽ thất bại. Điều quan trọng là vấn đề chỗ dừng giữa các từ, các dòng. Thơ là như vậy: sự im lặng giữa các từ. Nếu ta chú ý lắng nghe sự im lặng đó, nó sẽ có những tiếng vang vọng rất đa dạng và rất phức tạp…Thơ là như vậy: mơ trong thực, cái không thấy được trong cái thấy được, màu sắc trong màu trắng. Đó là cái mà người ta gọi là sự tế nhị của ngôn ngữ và của tâm hồn. Những mầu sắc lờ mờ: không sáng, không tối, mơ hồ nhưng lại rõ rệt, sự rõ ràng của sự mơ hồ, sự mơ hồ rõ ràng. Tất cả những điều đó nói lên khi người ta là thi sĩ…”.

Lắng nghe sự “Im lặng” đó trong thơ anh, tôi cũng cảm thụ được một phần nét nhạc thầm kín rung động trái tim anh. Có khi là những điều rất riêng tư, xen kẽ với muôn nỗi buồn vui chung của đất nước

Dù anh viết tặng riêng cho tôi không nhiều, nhưng những bài thơ được anh tặng thật sự làm tôi cảm động.

Trong những bài thơ đã in và chưa in anh tặng, tôi thích nhất ba bài: “Mưa rơi”, “Sợ” và “Anh cùng em”. Hai bài đầu là kỷ niệm của những ngày đầu chúng tôi sống bên nhau và bài cuối khi cả hai chúng tôi đều ngoài bẩy mươi, đã cùng nhau trải qua mọi thăng trầm của cuộc đời. Anh viết bài thơ “Anh cùng em” sau chuyến anh cùng tôi về thăm lại Huế năm 1992. Bài thơ như để khẳng định một lần nữa tình yêu của chúng tôi: vẫn tươi mát như buổi đầu gặp gỡ và đằm thắm sau gần sáu mươi năm chung sống.

Có bài anh viết tặng tôi nhưng không cho đăng. Có bài đang viết dở dang như bài “Vì sao?” cũng có tên là “Rắc rối”. Thường anh hay thể hiện tình cảm riêng trong nhiều liên tưởng ở những bài thơ khác, có khi là một khổ thơ, có khi một vài câu, như trong: “Bài ca mùa xuân 1961”, “Từ CuBa”, “Chiếc áo xanh”. . . Ở đấy, cái chung và cái riêng xen kẽ nhau, hòa chung vào nhau. Khi anh đọc lần đầu cho tôi nghe, tôi nhận ra ngay những cảm xúc, tình huống đời thường của chúng tôi được anh nhắc trong những câu thơ mới. Đôi khi, anh dịch tặng tôi những bài thơ nước ngoài mà anh thích, trong đó có bài của nhà thơ Xôviết, Stepan Schipachev:

“Anh yêu em nên lòng anh cháy lửa

Muốn đi lên đứng ở hàng đầu

Cho người yêu, cho người vợ anh yêu

Có thể được, vì anh kiêu hãnh”

Khi anh tặng tôi bài thơ “Một tiếng đờn” vừa làm xong, tôi hiểu đây là tâm sự của anh gửi riêng tôi. Nhưng cũng có thể hiểu là tâm trạng ngổn ngang của anh trước thời cuộc chung:

Em ơi, giữ thủy chung

một tấm lòng trong sáng

. . .

“Một kiếp trăm năm được mấy ngày

Trời cao không gợn bóng mây bay

Thủy chung dòng nước

trong xanh chảy

. . .

“Vĩnh viễn tình yêu mỗi phút giây

Có khổ đau nào đau khổ hơn

Trái tim tự xát muối ghen hờn

Hãy tin cuộc sống từng say đắm

Hoa lá qua mưa lại thắm vườn”

. . .

“Một tiếng thơ say đắm bên em

Thương lắm lòng anh một tiếng đờn”

“Em ơi nghe đó trong đêm lạnh

Đằm thắm bên em một tiếng đờn”.

Giờ đây, khi anh đã đi xa, tôi không còn được những giây phút hân hoan đọc những câu thơ, những bài thơ anh tặng. Nhưng dầu sao tôi cũng cảm ơn duyên phận trời định cho tôi được sống cùng anh.

Có lẽ có gì đó băn khoăn về hạnh phúc của một gia đình thi sĩ nên một người bạn có lần đã hỏi tôi: “Thanh có vừa lòng với hạnh phúc của mình không, và có lúc nào buồn không?” Tôi hơi ngạc nhiên về sự “thẳng thắn” trong cách đặt vấn đề của bạn. Nhưng tôi thấy cần nói rõ lòng mình một cách chân thành. Tôi trả lời bạn:

– “Được làm vợ anh mình rất hạnh phúc. Bên cạnh việc làm bổn phận của một người vợ, mình còn có may mắn được làm một người bạn, một độc giả yêu anh và yêu thơ anh”.

Đã nhiều lần anh nói với tôi: “Gia đình ta là một gia đình đẹp”. Tôi nghĩ anh đã chân thật khi nói lên điều đó. Anh rất coi trọng giữ gìn cái đẹp của sự thủy chung. Đôi khi có người phụ nữ yêu thơ anh đến với anh. Cũng có lúc anh không tránh khỏi có những cảm xúc bột phát. Song chính tình cảm gắn bó chặt chẽ giữa anh và gia đình, lòng tự trọng, đạo đức cách mạng luôn được rèn luyện, đã giúp anh vượt qua những cảm xúc đột xuất, thường tình của một thi sĩ, tránh được sự sa đà không đáng có. Những lúc ấy, tuy tôi thông cảm với cốt cách thi nhân” của anh, nhưng đôi khi cũng không khỏi chạnh lòng. Anh luôn tinh ý nhận ra ngay và chủ động làm lành. Và mọi nỗi giận hờn đều qua, không thể làm lu mờ tình yêu sâu đậm, dựa trên sự thông cảm, tin cậy giữa chúng tôi.

Sống với anh, càng ngày tôi càng cảm nhận rõ anh khao khát làm thơ như thế nào! Thơ là máu thịt của anh. Những lo toan rất cụ thể của công việc hàng ngày trong quản lý kinh tế xã hội của một Trưởng ban Tuyên huấn-khoa giáo và sau này của một Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, không làm cho anh bị phân tâm, khô cứng mà vẫn giữ được cảm xúc nồng hậu trong sáng cho thơ. Ngược lại chính những yêu cầu bức xúc của công việc cách mạng hàng ngày đã đem lại sắc thái và nguồn cảm hứng dồi dào thôi thúc anh làm thơ. Nhưng anh có rất ít thời gian dành cho thơ. Anh phải tranh thủ ban đêm để sáng tác. Sau những chuyến đi công tác, những lúc gặp gỡ quần chúng, anh thường ghi lại những cảm xúc, những tứ thơ chợt đến. Vì thế trong sổ tay công tác, xen giữa những dòng ghi công việc, có rất nhiều những câu thơ dở dang của những bài thơ đang ấp ủ.

Làm bạn với anh, tôi có may mắn được biết nhiều cảnh ngộ của con người, nhiều nhân cách, nhiều gương anh hùng chiến sỹ. Điều đó vừa có lợi cho công tác giáo dục tư tưởng của tôi, vừa làm bài học cho cuộc sống của tôi và gia đình.

Tôi còn có diễm phúc là người độc giả đầu tiên, là người phê bình thơ chân thành của anh.

Anh có thói quen khi đang làm, hoặc làm xong một bài thơ là đọc cho những người xung quanh nghe, mà tôi là người được “vinh dự” nghe trước tiên. Nhiều đêm đang ngủ say, anh cũng lay dậy để đọc cho nghe.

Tôi thường là người chia sẻ với anh từ những câu thơ đầu tiên. Nhiều khi tôi chưa ưng lắm, nhưng chưa dám góp ý ngay để anh khỏi mất hứng. Song anh dễ dàng nhận thấy ngay. Đến lúc tứ thơ đã hình thành, bài thơ đã xong, tôi mới góp ý một cách thẳng thắn. Tôi yêu thơ văn từ nhỏ, nhưng trình độ hiểu biết của tôi có hạn, nên có lẽ vai trò thật sự của tôi chỉ là nghe anh. Nhưng bao giờ những ý kiến của tôi cũng được anh chú ý. Chỉ thế thôi tôi đã cảm thấy hạnh phúc rồi!..

Cười Té Ghế Với Những Bài Thơ Mùa Đông Chế Đặc Sắc Nhất Hiện Nay

Cong Ty Co Phan Vat Pham Van Hoa Sai Gon

Những Bài Hát Nổi Tiếng Về Mùa Đông

Thư Giãn Cùng Chùm Thơ Hài Hước Về Cuộc Sống Để Thêm Yêu Đời

Tuyển Tập 50+ Stt Mùa Đông Hài Hước Lầy Lội Nhất Các Thánh Fa Nên Biết

Bình Bài Thơ “Từ Ấy” Của Tố Hữu

Bình Giảng Bài Thơ Từ Ấy 2022

Nhìn Lại Cuộc Thảo Luận Xung Quanh Tập Thơ “Từ Ấy” Của Tố Hữu (1959

Tổng Hợp 10 Bài Viết Về Tác Phẩm “Từ Ấy” Chi Tiết Nhất

Phân Tích Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ “Từ Ấy” Của Nhà Thơ “Tố Hữu”. Từ Đó, Em Rút Ra Cho Mình Bài Học Cần Thiết Trong Cuộc Sống

Bài Tập Đọc Bài Thơ Sau Và Thực Hi…

BÌNH BÀI THƠ “TỪ ẤY” CỦA TỐ HỮU

Bài thơ Từ ấy đã ghi lại giây phút mê say của nhà thơ khi bắt gặp ánh sáng của Đảng soi đường. Đó không chỉ là cảm xúc vui sướng, phấn khởi mà còn là phẩm chất cao đẹp cúa người cộng sản muốn hòa nhập và cống hiến hết mình cho đời.

Tố Hữu là nhà thơ lớn, gần gũi với bao thế hệ người Việt Nam. Thơ Tố Hữu có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc bởi chất men say lí tướng cao cả, của tình yêu thương chân thành cho con người, của niềm tin bất diệt vào tương lai. Bài thơ Từ ấy đã ghi lại giây phút mê say của nhà thơ khi bắt gặp ánh sáng của Đảng soi đường. Đó không chỉ là cảm xúc vui sướng, phấn khởi mà còn là phẩm chất cao đẹp cúa người cộng sản muốn hòa nhập và cống hiến hết mình cho đời.

Mỗi người đều có những giây phút trọng đại, thiêng liêng trong cuộc đời. Với người mẹ đó là đứa con yêu ra đời và bập bẹ biết nói, biết đi. Với người yêu nhau là khi họ bắt gặp nhau lần đầu tiên tưởng chừng như quen biết tự bao giờ. Nhà thơ Xuân Diệu từng có giây phút đó:

Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi

Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.

Còn riêng Tố Hữu, hạnh phúc lớn nhất là lúc nhận ra con đường đi đúng đắn của mình, bắt gặp ánh sáng lí tưởng của Đảng. Đó là cái mới đánh dấu bước ngoặt lớn trong đời người thanh niên yêu nước đầy nhiệt tình, hăm hở. Tố Hữu vào Đảng khi còn rất trẻ – mười bảy tuổi, vậy mà mối duyên với cách mạng sớm đưa lại những đổi thay kì diệu về tình cảm và tâm hồn, nhận thức.

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

Từ ấy đặt ngay đầu bài thơ như bức tường vạch chia ranh giới rõ ràng giữa hai khoảng thời gian. Thời gian cuộc đời của nhà thơ tự phân làm hai nửa trước và nửa sau từ ấy cho chúng ta sự khác biệt trong một con người. Trước Từ ấy là cuộc sống bế tắc không lối thoát, cô đơn tuyệt vọng chán chường.

Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi

Băng khuâng đi kiếm lẽ yêu đời

Vẫn vơ theo mãi dòng quanh quẩn

Muốn thoát than ôi, bước chẳng rời.

(Nhở đổng)

Đó không phải là tâm trạng của riêng mình nhà thơ mà là chung cho cả thế hệ trẻ lúc bấy giờ vừa rời ghế nhà trường liền va đập ngay với những cảnh đời trớ trêu. Họ bi quan, không xác định cho mình một hướng đi, hay một lí tưởng dứt khoát. Báng khuâng đứng giữa hai dòng nước, chọn một dòng hay đế nước trôi.

Từ ấy khép lại chuỗi ngày dằn vặt, đau khổ, bóng tối, mở ra một cuộc sống mới đầy hứa hẹn. Nó toát lên từ sức sống mạnh mẽ bên trong, từ sự thức tỉnh kì diệu. Tố Hữu ghi lại giây phút đổi thay ấy bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng bừng nắng hạ, thứ ánh nắng sáng tươi, rực rỡ chiếu soi tỏ khắp nơi đặc biệt soi sáng cả những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn, trí tuệ, nhận thức. Mặt trời chân lí là hình ảnh ẩn dụ cho lí tưởng Đảng, nó có sức mạnh vừa cảm hóa, lay động vừa thức tỉnh không chỉ nhận thức, lí trí mà cả tình cảm, con tim của nhà thơ. Dường như có một cuộc đổi thay nhanh chóng giống như người đang sống trong đêm tối mò, tâm hồn khô kiệt bỗng chốc đèn pha bật sáng như ngày mai lên, mọi vật hiện ra, rõ ràng đến từng chi tiết và cảm xúc nảy sinh. Niềm vui sướng thật sự dâng trào khi nhà thơ có cuộc sống mới tươi vui, rộn rã:

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Hình ảnh so sánh hồn thơ – vườn hoa lá diễn tả quá đầy đú về cuộc sống, sức sống dào dạt, sinh sôi. Những xao xuyến, hứng khởi trong tâm hồn sâu kín của nhà thơ được phơi trải ra thật sống động. Đó là cuộc sống đầy màu sắc, âm thanh và mùi vị, có màu xanh yên bình của lá, của hoa, có hương thơm của hoa và tiếng chim rộn ràng. Tất cả những âm vang của cuộc sống được nhà thơ chắt lọc để nuôi dưỡng sức sống của hồn người. Nó được đẩy đến ngưỡng cao nhất. Bằng việc sử dụng các tính từ chỉ mức độ như bừng, chói, rất, đậm, rộn. Tố Hữu cho ta thấy sự say mê, ngây ngất của người chiến sĩ cộng sản khi bước theo ánh sáng lí tưởng đời mình. Ghi lại bước chuyến quan trọng trong đời nhưng nhà thơ không lên gân, vẫn giọng thơ nhẹ nhàng dứt khoát mà thấm đầm cảm xúc vui tươi, tha thiết như mạch sống lan tỏa khắp nơi và ngay cả nơi sâu kín nhất.

Từ ẩy là sự đánh dấu một cuộc đổi đời, cao hơn là sự hồi sinh của một con người. Từ đây, sức sống đó sẽ được nhân lên mạnh mẽ, tâm hồn sẽ như một vườn hoa lá: trong sáng, hồn nhiên:

Rồi một hôm nào tôi thấy tôi

Nhẹ nhàng như con chim cà lơi.

Say đồng hương vắng vui ca hát

Trên chín tầng cao bát ngát trời.

Sau những phút giây sung sướng nhận ra lí tưởng cao cả cần di, người chiến sĩ cộng sản phải xác định một tâm thế, một hành động cho xứng đáng. Đó trước hết là ý thức trách nhiệm trước cuộc đời. Nhà thơ thay lời cái tôi chiến sĩ nói lên tâm nguyện, khát vọng ấy:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tỉnh trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Con người cá nhân đến đây tan biến dần nhường chỗ cho cái tôi rộng lớn – cái tôi hướng đến cuộc đời và mọi người. Những ích kỉ, hẹp hòi ngàn cách cái tôi đến với mọi người không còn nữa, con đường hòa nhập rộng mở thênh thang. Làm được điều đó không phải dễ dàng, cần phải đâu tranh, cản nhắc, lựa chọn bằng ý thức trách nhiệm xuất phát từ sự chân thành, tự nguyện. Tôi – nhà thơ tự buộc lòng mình với mọi người. Đó là thái độ dứt khoát, mạnh mẽ xác định bởi lí trí sáng suốt. Mối dây ràng buộc với mọi người đả xóa bỏ sự đối lập chất chứa, đầy căm phẫn ngự trị trong tâm hồn tôi trước đây đồng thời thiết lập tình yêu thương, gắn kết giữa người và người. Đó là sự cảm thông, chia sẻ trước nỗi đau, vui buồn của bao kiếp người. Tinh thần tự nguyện buộc để tạo nên khối đời, gần gũi, mạnh mẽ là mục đích cuối cùng nâng cao phẩm chất của người cách mạng. Tình nhân ái làm cho mỗi người hòa vào cuộc đời trở thành con người theo đúng nghĩa của nó

Khổ thơ cuối tiếp tục nhấn mạnh ý thức trách nhiệm của con người cụ thể trước cuộc đời rộng lớn:

Tôi đã la con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cam cù bất cù bơ

Ba từ là xuất hiện liên tiếp trong đoạn thơ như lời khẳng định chắc nịch, rắn rỏi, dứt khoát cho sự hòa nhập tuyệt đối. Người chiến sĩ đã ở giữa đời và mọi người rất khiêm tốn mà không làm mất đi vẻ tự nhiên vốn có, là con của gia đình, là em của kiếp đời phôi pha, là anh của các em thơ nghèo khổ, đói cơm rách áo. Khối đời to lớn ở đây tạo bởi từng số phận với những cảnh ngộ riêng là em bé Phước trong bài Đi đi em sớm chịu cảnh nô lệ, cả người vú em để con mình đói khát phải đi chăm con người và biết bao người khác nữa. Nhà thơ bắt gặp cuộc đời mình trong những mảnh đời cơ cực ấy. Số từ được sử dụng tảng dần từ một, mọi, trăm, khối, vạn như mở rộng khối đời đồng thời kết nối tì nil cảm yêu thương gân bó giữa họ. ơ dó không còn là sự cảm thông mà cao hơn nhà thơ tự thấy mình là thành viên của gia đình rộng lớn phải truyền cho họ tình yêu và trách nhiệm trước số phận của mình. Phải chiến đấu để đem lại cuộc sống tốt hơn cho gia đình, cho mọi người và dìu dắt, bảo ban những em thơ. Đến đây phẩm chất của người cách mạng được soi sáng. Tâm hồn nhận thức, quan hệ đều (được soi chiếu nhờ ánh sáng lí tướng Đảng, không có sự trải nghiệm, người cộng sản – nhà thơ không thể có những thay đổi lớn lao như vậy.

Từ ấy là bản đàn dạo khúc vui đầu tiên của người cộng sản khi gặp lí tưởng Đảng. Đó là lúc tâm hồn được hồi sinh, trí tuệ bừng sáng, nhận thức trách nhiệm lớn lao với cuộc đời. Thơ Tố Hữu hay khi kết hợp sâu sắc lí tưởng cộng sản, tình thương yêu con người và niềm vui hướng về Lương lai. Từ ẩy đã kết tinh cái hay ấy và tạo nên sức hút lớn đối với những con người chân chính đã và đang đi theo lí tưởng của mình. Nhà thơ khơi lên lòng nhiệt huyết, quyết tâm của biết bao thế hệ để họ hôm nay và mai sau thực hiện ước nguyện xây dựng cuộc sông tốt đẹp hơn.

                                     loigaihay.com

Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của “Tố Hữu”

Đề Tài Bước Phát Triển Trong Thơ Tố Hữu Từ Tập Thơ “Từ Ấy” Đến “Việt Bắc”

Hảy Cảm Nhận Bài 4 Thơ Từ Ấy Của Tố…

Phân Tích Hình Tượng Người Chiến Sĩ Trong Bài Chiều Tối Và Từ Ấy

Giáo Án Ngữ Văn 11: Từ Ấy

🌟 Home
🌟 Top