Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Bài Thơ Tỏ Lòng Văn Mẫu Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Chungemlachiensi.com

Văn Mẫu Lớp 10: Cảm Nhận Về Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Soạn Bài Tỏ Lòng Ngữ Văn 10 Đầy Đủ Hay Nhất

Nghị Luận Bài Thơ Thuật Hoài (Tỏ Lòng) Của Phạm Ngũ Lão

Phân Tích Bài Thơ “sang Thu” Của Hữu Thỉnh.

Vẻ Đẹp Của Trang Nam Thi Thời Trần Qua Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Phân Tích Hào Khí Đông A Qua Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Nỗi “thẹn” Trong Bài Thơ

Văn mẫu lớp 10: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, Tài Liệu Học Thi sẽ cung cấp tài liệu Bài văn mẫu lớp 10: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão,

Bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại. Tác phẩm được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn lớp 10.

Dàn ý cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão, bài thơ Tỏ lòng.

– Cảm nhận chung về bài thơ: đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.

II. Thân bài 1. Vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần

a. Vẻ đẹp người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên

– Tư thế “hoành sóc”: cầm ngang ngọn giáo

Ngọn giáo: Là vũ khí chiến đấu của quân đội thời trước

Tay cầm ngang ngọn giáo: thể hiện sự chủ động, tự tin

So sánh mở rộng với bản dịch thơ của Trần Trọng Kim: là “múa giáo”: mang tính hình ảnh, hoa mĩ, phù hợp với vần nhịp nhưng chỉ thể hiện được hành động phô trương, biểu diễn bên ngoài, không nói lên được được sức mạnh nội lực bên trong.

– Tầm vóc của người anh hùng thể hiện qua không gian, thời gian:

Không gian: “Giang sơn” – đất nước, rộng lớn. Nam nhi thuở trước thường nói chí tỏ lòng qua không gian vũ trụ rộng lớn.

Thời gian: “kháp kỉ thu”: Con số ước lệ tượng trưng cho thời gian dài, vô tận.

b. Vẻ đẹp của quân đội nhà Trần.

– Tiềm lực quân đội: “Tam quân” – ba quân tiền quân, trung quân, hậu quân: Ý chỉ quân đội nhà Trần, tiềm lực quân sự của cả dân tộc.

– Khí thế đội quân:

“Tam quân” so sánh với “tì hổ”: Hổ báo là chúa tể rừng xanh, so sánh nhằm nhấn mạnh tiềm lực sức mạnh dũng mãnh của quân đội nhà Trần là nỗi khiếp đảm của quân thù.

Tác giả làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh “khí thôn ngưu” có hai cách hiểu: Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu hoặc khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu

2. Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tư của nhà thơ

a. Món nợ công danh của đáng nam nhi

– Chí nam nhi: Làm trai phải có ý chí nam nhi, xông pha, gánh vác.

– Nợ công danh: Xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, đây là món nợ mà một kẻ làm trai sinh ra đã phải có trách nhiệm trả. Có hai hình thức là lập công và lập danh.

b. Nỗi lòng của Phạm Ngũ Lão

– “Thẹn”: xấu hổ, ngại ngùng khi không bằng người khác.

– “Thuyết Vũ Hầu”: Điển tích Trung Quốc nói về Vũ Hầu – một con người tài năng, mưu lược và hết lòng báo đáp công ơn của chủ tướng, lập được công danh sự nghiệp lớn.

– Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ công danh.

III. Kết bài

Đánh giá về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.

Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Mẫu 1

Phạm Ngũ Lão là một võ tướng giỏi thời Trần, nhưng ông lại thích đọc sách ngâm thơ và được người đời ca ngợi là văn võ toàn tài. Bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài) của ông đã khắc họa đã khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh cũng như lý tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại:

Tiếp theo, Phạm Ngũ Lão đã khéo léo mượn điển tích về nhân vật Vũ Hầu – một bề tôi trung thành nhất nhì trong lịch sử Trung Hoa nhằm nói chí tỏ lòng. Đó là sự hổ thẹn khi chưa trả được món nợ công danh với đời. Hai chữ “vương nợ” trong bản dịch thơ như khắc sâu thêm nỗi niềm da diết trong lòng tác giả. Ông luôn tự ý thức một cách sâu sắc về trách nhiệm của mình với quê hương, với đất nước. Từ đó, ta thấy được một nhân cách cao đẹp của Phạm Ngũ Lão – một con người giàu lý tưởng, hoài bão với khát vọng cống hiến cho quê hương, đất nước.

Như vậy, “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão quả thật là một bài thơ đẹp, giúp người đọc cảm nhận được tư thế hiên ngang, dũng mạnh của con người, quân đội thời Trần cũng như nhân cách cao đẹp của nhà thơ.

Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Mẫu 2

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” “Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

Với bài thơ “Tỏ lòng”, nhà thơ Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được “hào khí Đông A” nổi bật trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược. Cũng như cho người đọc thấy được tấm lòng cao đẹp của mình:

Khi giặc Nguyên tràn vào xâm lược nước ta. Chúng đã bộc lộ rõ sự tàn ác, hung bạo. Và để đối phó với kẻ thù man rợ và nguy hiểm ấy cần có một bản lĩnh phi thường. Với hai câu thơ này, Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được tầm vóc của con người cũng như quân đội nhà Trần. Cụm từ “hoành sóc giang sơn” cho thấy hình ảnh giữa giang sơn rộng lớn, người tráng sĩ cầm ngọn giáo giặc trong tư thế đầy hiên ngang để bảo vệ tổ quốc. Ngọn giáo là vũ khí đắc lực, cùng với người anh hùng xông pha trận mạc. Lúc này, người anh hùng đứng giữa không gian bao la của vũ trụ mà không hề nhỏ bé. Ngược lại họ mang một tầm vóc lớn lao, mạnh mẽ. “Trải mấy thu” – hình ảnh ước lệ thể hiện khoảng thời gian làm nhiệm vụ ấy đã kéo dài rất lâu, từ năm này qua năm khác. Nhưng dù có vậy, năm tháng không thể nào đo được ý chí người quân tử.

Câu thơ thứ hai mang cả ý chí quyết đấu của toàn dân tộc. Sự đồng lòng của “tam quân” tạo nên một sức mạnh, sánh ngang với loài hổ – chúa sơn lâm, với khí thế ngùn ngụt chất cao hơn núi “nuốt trôi trâu”. Nếu ở câu thơ thứ nhất là bản lĩnh của một người quân tử, trách nhiệm của một cá nhân với đất nước thì sang câu thơ thứ hai đó là bản lĩnh của một cộng đồng, của trăm vạn người quân tử, trách nhiệm của muôn người với dân tộc. Nó đã trở thành “hào khí Đông A

của cả một đất nước.

Hai câu thơ sau đã bộc bạch tâm trạng, chứa chan nỗi lòng của người nhà thơ:

Công danh sự nghiệp luôn là khát khao của con người trong bất kỳ thời đại nào. Nhà thơ Phạm Ngũ Lão cũng không phải ngoại lệ. Dù ông là một anh hùng đã lập được biết bao chiến công cho đất nước. Nhưng vẫn cảm thấy còn vương mối nợ công danh.

Tác giả mượn điển cố xưa về Vũ Hầu – một kẻ bề tôi trung thành trong lịch sử Trung Hoa. Từ đó bày tỏ sự hổ thẹn, cũng như không hài lòng về bản thân khi nhắc đến bậc vĩ nhân xưa. Từ đó, nhà thơ muốn thể hiện hoài bão tiếp tục được cống hiến cho đất nước.

Chỉ với bốn câu thơ nhưng ý tứ thật sâu sắc, đã thể hiện được nhiều ý nghĩa. Thế mới thấy tài năng sáng tác của Phạm Ngũ Lão – một con người văn võ toàn tài.

Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Mẫu 3

Bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được tinh thần của thời đại nhà Trần. Đó là vẻ đẹp của hào khí Đông A, cũng như sức mạnh của con người và quân đội thời Trần.

Đến với hai câu thơ đầu tiên, người đọc có thể thấy được một cách rõ nét, chân thực hình ảnh con người, quân đội thời Trần:

Câu thơ cho thấy hình ảnh người anh hùng tay cầm ngọn giáo để chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước. Đồng thời, tác giả còn đặt người anh hùng vào không gian “giang sơn” – rộng lớn của đất nước và thời gian “kỷ thu” – vô tận, kéo dài từ năm này qua năm khác để tô đậm thêm tư thế hiên ngang của người anh hùng. Tiếp đó, hình tượng quân đội nhà Trần với tiềm lực mạnh mẽ cũng được nhà thơ thể hiện rõ ràng. Với hình ảnh “Tam quân” có nghĩa là ba quân đã cho thấy đó là một quân đội tinh nhuệ, cả về số lượng lẫn chất lượng. Không chỉ vậy, Phạm Ngũ Lão còn làm rõ sức mạnh ấy bằng hình ảnh so sánh: “tì hổ” – sức mạnh như loài hổ, “khí thôn ngưu” – khí thế hào hùng ngút trời của quân đội nhà Trần đã làm lu mờ ánh sáng của sao Ngưu. Đó chính là sức mạnh của con người, quân đội nhà Trần.

Nếu hai câu thơ mở đầu, Phạm Ngũ Lão muốn làm nổi bật vẻ đẹp của con người, đội quân nhà Trần. Thì hai câu thơ cuối, tác giả tập trung thể hiện nỗi lòng của chính mình:

Theo tư tưởng Nho giáo, “công danh” chính là lập công để lưu danh vào sử sách, để lưu lại tiếng thơm cho đời sau. Đó chính là một món nợ lớn của bất kì đấng nam nhi nào thời xưa. “Công danh” đã trở thành lý tưởng đối với họ dưới trong triều đại phong kiến. Phạm Ngũ Lão là một người văn võ song toàn, nhưng vẫn luôn thấy bản thân còn mắc nợ – món nợ “công danh”. Nhà thơ đã mượn điển tích về nhân vật Vũ Hầu – một bề tôi trung thành nhất nhì trong lịch sử Trung Quốc để nói chí tỏ lòng. Khi nhắc đến điển tích này, Phạm Ngũ Lão tự cảm thấy “thẹn” – hổ thẹn với lòng khi chưa lập được công danh với đời. Qua đó, ta thấy được một nhân cách cao đẹp của nhà thơ, với hoài bão to lớn đáng ngưỡng mộ.

Với “Tỏ lòng’, Phạm Ngũ Lão đã thể hiện rõ sức mạnh của “hào khí Đông A”. Đồng thời, bài thơ đã thôi thúc trong lòng người đọc một ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Soạn Bài Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng Ngắn Gọn Và Hay Nhất

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)

Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão 2022

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão Chi Tiết Nhất

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)

Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Hướng dẫn lạp dàn ý phân tích Tỏ Lòng và bài văn phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão để các em học sinh tham khảo và học tập.

– Giới thiệu khái quát về nhà thơ Phạm Ngũ Lão.

– Câu thơ thứ nhất: hình ảnh một trang nam tử thời Trần với tư thế hiên ngang, sẵn sàng xả thân vì nước.

+ không gian bao la, rộng lớn mênh mông, hùng vĩ của núi sông, của Tổ quốc.

– Câu thơ thứ hai: hình ảnh, khí thế dũng mãnh của quân đội thời Trần

– Tác giả đã thể hiện nỗi thẹn của mình vì chưa hoàn thành giấc mộng công danh bởi với quan niệm của Nho giáo thời xưa, công danh là một trong hai món nợ lớn mà một trang nam nhi mang trên mình khi ra đời.

– Mượn điển cố điển tích chuyện Vũ hầu – con người hết lòng hết sức, tận tâm tận lực vì non sông đất nước tác giả đã thể hiện nỗi thẹn của chính bản thân mình khi chưa thực hiện được giấc mộng công danh.

– Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật cả bài thơ

– Từ bài thơ, liên hệ với lí tưởng sống của thanh niên hiện nay.

II. Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng

Câu thơ mở đầu bài thơ dường như đã mở ra trước mắt bạn đọc hình ảnh một trang nam tử thời Trần với tư thế hiên ngang, sẵn sàng xả thân vì nước. Với cách sử dụng từ độc đáo “hoành sóc” tác giả đã dựng lại một cách thành công hình ảnh một nam tử thời Trần đang trong tư thế cầm ngang ngọn giáo – một hành động vững chắc, kiên cường. Thêm vào đó, hành động cầm ngang ngọn giáo lại được tác giả đặt trong không gian bao la, rộng lớn mênh mông, hùng vĩ của núi sông, của Tổ quốc, qua đó càng làm bật nổi thêm vẻ đẹp hiên ngang, làm chủ quê hương đất nước của những nam nhi thời Trần. Đồng thời, câu thơ thứ hai giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc và rõ nét về hào khí thời Trần. Hình ảnh gợi lên một cách trọn vẹn, tổng quát về hình ảnh quân đội nhà Trần. ấy chính là tiền quân, trung quân, hậu quân – ba lực lượng quân chủ yếu trong quân đội nhà Trần. Hình ảnh, sức đội ấy của quân đội nhà Trần được tác giả miêu tả chi tiết, sinh động qua việc sử dụng các từ ngữ “tì hổ”, “khí thôn ngưu”. Với việc so sánh hình ảnh quân đội nhà Trần với – loài hổ báo, mãnh thú chốn rừng xa, tác giả đã cụ thể hóa sức mạnh và khí thế hùng dũng, dũng mãnh của quân đội nhà Trần. Đồng thời, sức mạnh ấy còn được tỏ rõ qua hình ảnh “khí thôn ngưu”, hình ảnh ấy đã thêm một lần nữa nhấn mạnh khí thế của quân đội nhà Trần – những người trẻ tuổi mà khí thế hùng dũng, hiên ngang. Như lại, hai câu đầu bài thơ với việc sử dụng các hình ảnh ước lệ tượng trưng, so sánh độc đáo đã làm bật nổi hình ảnh của con người và quân đội nhà Trần với hào khí Đông A vang dội, mạnh mẽ, hào sảng khắp núi sông.

Nếu hai câu thơ đầu của bài thơ tác giả làm nổi bật hình ảnh, khí thế của con người và thời đại nhà Trần thì trong hai câu thơ còn lại, tác giả tập trung thể hiện nỗi thẹn của chính tác giả Phạm Ngũ Lão.

Hai câu thơ với giọng điệu trầm lắng và đầy suy tư đã giúp chúng ta nhận thấy tâm trạng suy tư, trăn trở, đầy lo âu, suy nghĩ của chính tác giả Phạm Ngũ Lão. Với hai câu thơ này, tác giả đã thể hiện nỗi thẹn của mình vì chưa hoàn thành giấc mộng công danh bởi với quan niệm của Nho giáo thời xưa, công danh là một trong hai món nợ lớn mà một trang nam nhi mang trên mình khi ra đời. Đồng thời, thêm vào đó, tác giả còn cảm thấy thẹn với Vũ hầu. Mượn điển cố điển tích chuyện Vũ hầu – con người hết lòng hết sức, tận tâm tận lực vì non sông đất nước tác giả đã thể hiện nỗi thẹn của chính bản thân mình khi chưa thực hiện được giấc mộng công danh. Nhưng nhìn suốt cuộc đời của Phạm Ngũ Lão chúng ta dễ dàng nhận thấy ông là một người suốt cuộc đời cống hiến, hết lòng phục vụ cho nhà Trần nhưng đến cuối cuộc đời mình ông vẫn thấy thẹn, điều đó một lần nữa cho chúng ta thấy nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão xét đến cùng là nỗi thẹn của một người có nhân cách cao đẹp, thể hiện ước mơ, khát vọng, hoài bão để thực hiện lí tưởng của mình.

Tóm lại, với việc sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, các điển cố điển tích và bút pháp gợi tả, bài thơ Phạm Ngũ Lão đã thể hiện một cách chân thực vẻ đẹp, sức mạnh của con người, quân đội thời Trần, đồng thời, bài thơ cũng thể hiện được vẻ đẹp nhân cách của chính tác giả. Thêm vào đó, qua bài thơ cũng giúp chúng ta rút ra nhiều bài học sâu sắc về lí tưởng sống của thanh niên trong bối cảnh hiện nay.

Đánh giá bài viết!

Tư vấn gia sư (24/7) 097.948.1988

.

Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)

Mở Bài Kết Bài Tỏ Lòng Hay Nhất

Soạn Bài Lớp 10: Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết

2 Bài Văn Mẫu Nghị Luận Bài Thơ Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương

Đọc Hiểu Thơ Chữ Hán Và Bài Tỏ Lòng Của Phạm Ngũ Lão

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 37 Đọc Văn: Tỏ Lòng

Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 10 (Cơ Bản)

Tìm Hiểu Văn Bản: Tỏ Lòng – Phạm Ngũ Lão

Cảm Nhận Của Anhchị Về Bài Thơ Tỏ L…

Anh Chị Giúp Em Với Đề Thuyết Minh Về Tác Giả Phạm Ngũ Lão Và Tác Phẩm Tỏ Lòng?

Phân Tích Tỏ Lòng (Thuật Hoài) – Phạm Ngũ Lão

Ngày soạn: 10/11/2009

Tiết 37: Đọc văn:

tỏ lòng

– Phạm Ngũ Lão -

A. Mục tiêu bài học:

Giúp Hs:

– Cảm nhận được vẻ đẹp của con người và thời đại nhà Trần, thế kỉ XIII qua hình tượng trang nam nhi với lí tưởng và nhân cách lớn lao, sức mạnh và khí thế hào hùng- hào khí Đông A.

– Sự nghiệp công danh của cá nhân thống nhất với sự nghiệp chung, sự nghiệp cứu nước, cứu dân.

– Nghệ thuật thơ: hàm súc, xây dựng hình tượng nhân vật trữ tình lớn lao, mang tầm vóc sử thi.

– Có ý thức về bản thân, rèn ý chí, biết ước mơ và nỗ lực hết mình để thực hiện ước mơ đó để hoàn thiện bản thân.

B. Sự chuẩn bị của thầy và trò:

– Sgk, sgv.

– Một số tài liệu tham khảo.

– Hs soạn bài theo các câu hỏi trong sgk.

– Gv soạn thiết kế dạy- học.

C. Cách thức tiến hành:

D. Tiến trình dạy- học:

1. ổn định tổ chức lớp.

2. Kiểm tra bài cũ:

Câu hỏi: Nêu khái niệm và các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt?

3. Bài mới:

* Giới thiệu bài mới: Nội dung chủ đạo của VHTĐVN giai đoạn từ thế kỉ X-XIV là nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùng. Âm hưởng đó được thể hiện rõ trong những tác phẩm VH đời Trần. Hào khí Đông A cuộn trào trong lời Hịch tướng sĩ vang dậy núi sông của Trần Hưng Đạo, khúc khải hoàn ca đại thắng Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, áng văn vô tiền khoáng hậu Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu,… và cả trong lời Tỏ lòng của kẻ làm trai thời loạn- Phạm Ngũ Lão. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nỗi lòng của bậc võ tướng toàn tài, người con của làng Phù ủng ấy.

Hoạt động của gv và hs

Yêu cầu cần đạt

Yêu cầu Hs đọc phần tiểu dẫn.

Hs đọc.

? Phần tiểu dẫn trình bày nội dung gì? Nêu các ý chính của nó?

Hs trả lời.

Gv kể cho hs câu chuyện Phạm Ngũ Lão đan sọt giữa đường, mải nghĩ cách đánh giặc mà ko hề biết Trần Quốc Tuấn đi qua, cho quân lính đâm vào đùi mà ko hề nhúc nhích…

Yêu cầu hs đọc VB.

Hướng dẫn giọng đọc: chậm rãi, tự tin, tâm huyết, mạnh mẽ, hào sảng.

– Nêu nhận xét về thể thơ và bố cục của tác phẩm?

Hs có thể đưa ra 2 cách phân chia bố cục:

+ 4 phần: khai- thừa- chuyển- hợp.

+ 2 phần: 2 câu đầu (tiền giải) và hai câu sau (hậu giải).

Gv hướng hs đến cách 2- cách phân tích thơ tứ tuyệt của Kim Thánh Thán: phần tiền giải- thường nêu sự việc, câu chuyện, cảnh vật; phần hậu giải- thường là cảm nghĩ xủa tác giả.

? So với nguyên tác (qua bản phiên âm và dịch nghĩa), em hãy so sánh nghĩa của từ “hoành sóc” với “múa giáo”, “khí thôn ngưu” với “nuốt trôi trâu”? Các cách dịch đó đạt và chưa đạt ở điểm nào?

Hs trả lời.

? Vẻ đẹp của con người thời Trần cũng chính là chân dung tự họa của tác giả được thể hiện ntn ở câu1?

Hs trả lời.

? “Ba quân” là gì? Vẻ đẹp của quân đội nhà Trần được biểu hiện qua biện pháp nghệ thuật, cách nhìn ntn của tác giả?

Hs trả lời.

Gv giải thích k/n: “công danh trái”- nợ công danh

” Công danh được coi là món nợ với cuộc đời mà những trang nam nhi thời PK phải trả. Trả xong nợ công danh có nghĩa là đã hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân, với nước, để lại tiếng thơm được mọi người ngợi ca…

– Nêu một số câu ca dao, câu thơ của các nhà thơ trung đại nói về chí làm trai: “Làm trai…đoài yên”(ca dao), “ Chí…hồng mao”(Chinh phụ ngâm), “Đã…núi sông”(Đi thi tự vịnh),…

Gv nêu vấn đề: Canh cánh bên lòng quyết tâm trả món nợ công danh, thực hiện lí tưởng chí làm trai cao đẹp như vậy, tại sao vị tướng văn võ toàn tài, con rể của bậc đại thần (Trần Quốc Tuấn) lại thẹn khi nghe kể chuyện về Vũ Hầu? Vũ Hầu là người ntn? ý nghĩa của nỗi thẹn đó?

+ Sự hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão là quá đáng kiêu kì? (Hổ thẹn vì mình ko được như Khổng Minh là ko biết tự biết mình).

+ Đó là biểu hiện của một hoài bão lớn lao?

Hs trả lời.

? Cảm nhận của em về ý nghĩa tích cực của bài thơ đối với thế hệ thanh niên ngày nay?

Hs trả lời.

? Nêu nhận xét khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ?

Hs trả lời.

Gọi Hs đọc ghi nhớ.

Hs đọc.

I. Tìm hiểu chung:

1. Vài nét về tác giả Phạm Ngũ Lão:

– Phạm Ngũ Lão (1255-1320), người làng Phù ủng, huyện Đường Hào (Ân Thi- Hưng Yên).

– Là gia khách, sau là con rể của Trần Quốc Tuấn.

– Có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, giữ chức Điện Suý, được phong tước Quan Nội Hầu.

– Được ca ngợi là người văn võ toàn tài.

– Lúc ông qua đời, vua Trần Minh Tông ra lệnh nghỉ triều 5 ngày tỏ lòng thương nhớ (nghi lễ quốc gia).

2. Sự nghiệp thơ văn:

Tác phẩm còn lại: 2 bài thơ

+ Thuật hoài.

+ Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương.

II. Đọc- hiểu văn bản:

1. Đọc.

2. Thể thơ và bố cục:

– Thể thơ: thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

– Bố cục: 2 phần.

+ Hai câu đầu: Hình tượng con người và quân đội thời Trần.

+ Hai câu sau: Chí làm trai- tâm tình của tác giả.

3. Tìm hiểu văn bản:

a. Hai câu đầu: Hình tượng con người và quân đội thời Trần.

“Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

– Hoành sóc: cắp ngang ngọn giáo” thế tĩnh” tư thế chủ động, tự tin, điềm tĩnh của con người có sức mạnh, nội lực.

– Múa giáo” thế động” gợi trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành, có chút phô trương, biểu diễn.

” Dịch chưa thật đạt” Thơ Đường luật chữ Hán rất hàm súc, uyên bác, khó dịch cho thấu đáo.

” Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc” thanh 2, 4, 6: T-B-T)

– Khí thôn ngưu – “nuốt trôi trâu” ” phù hợp với hình ảnh so sánh phóng đại: “ba quân như hổ báo”

– Vẻ đẹp của con người thời Trần – chân dung tự họa của tác giả:

+ Tư thế: “cầm ngang ngọn giáo” ” chủ động, hiên ngang, oai hùng.

+ Tầm vóc: con người đối diện với non sông đất nước” lớn lao, kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ, sánh ngang, thậm chí như át cả ko gian bát ngát mở ra theo chiều rộng của núi sông trong thời gian dằng dặc (“mấy thu”- con số tượng trưng chỉ thời gian dài).

– Ba quân: 3 đạo quân (tiền- trung- hậu quân) ” chỉ quân đội nhà Trần.

– Biện pháp nghệ thuật: so sánh phóng đại.

Sức mạnh của quân đội – Sức mạnh của hổ báo

nhà Trần (có thể nuốt trôi trâu)

” Sức mạnh vật chất và tinh thần quyết chiến quyết thắng, khí thế hào hùngcủa quan đội nhà Trần- đội quân mang hào khí Đông A.

– Cách nhìn của tác giả: vừa mang nhãn quan hiện thực khách quan vừa là cảm nhận chủ quan, kết hợp yếu tố hiện thực và lãng mạn.

b. Hai câu sau: Chí làm trai- tâm tình của tác giả.

“Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

– Công danh trái: món nợ công danh.

– Công danh nam tử: sự nghiệp công danh của kẻ làm trai.

– Công danh: + lập công (để lại sự nghiệp)

+ lập danh (để lại tiếng thơm)

” Công danh biểu hiện chí làm trai của trang nam nhi thời PK: phải làm nên sự nghiệp lớn, vì dân, vì nước, để lại tiếng thơm cho đời, được mọi người ngợi ca, tôn vinh.

Đó là lí tưởng sống tích cực, tiến bộ” Sự nghiệp công danh của cá nhân thống nhất với sự nghiệp chung của đất nước- sự nghiệp chống giặc ngoại xâm cứu dân, cứu nước, lợi ích cá nhân thống nhất với lợi ích của cộng đồng.

” Chí làm trai của Phạm Ngũ Lão có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân để “cùng trời đất muôn đời bất hủ”.

– Vũ Hầu- Khổng Minh Gia Cát Lượng- bậc kì tài, vị đại quân sư nổi tiếng tài đức, bậc trung thần của Lưu Bị thời Tam Quốc.

– Thẹn” hổ thẹn” Phạm Ngũ Lão thẹn chưa có được tài mưu lược lớn như Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước.

Các nhà thơ trung đại mang tâm lí sùng cổ (lấy giá trị xưa làm chuẩn mực), thêm nữa từ sự thật về Khổng Minh” Nỗi tự thẹn của Phạm Ngũ Lão là hiển nhiên.

Song xưa nay, những người có nhân cách lớn thường mang trong mình nỗi thẹn với người tài hoa, có cốt cách thanh cao” cho thấy sự đòi hỏi rất cao với bản thân.

” Hoài bão lớn: ước muốn trở thành người có tài cao, chí lớn, đắc lực trong việc giúp vua, giúp nước.

” Đó là nỗi thẹn tôn lên vẻ đẹp tâm hồn tác giả, thể hiện cái tâm vì nước, vì dân cao đẹp.

* Bài học đối với thế hệ thanh niên ngày nay:

– Sống phải có hoài bão, ước mơ và biết mơ ước những điều lớn lao.

– Nỗ lực hết mình và ko ngừng để thực hiện hoài bão và hoàn thiện bản thân.

– Gắn khát vọng, lợi ích của bản thân với lợi ích của tổ quốc, nhân dân.

III. Tổng kết bài học:

1. Nội dung:

Bài thơ là bức chân dung tinh thần của tác giả đồng thời cũng là vẻ đẹp của con người thời Trần- có sức mạnh, lí tưởng, nhân cách cao đẹp, mang hào khí Đông A.

2. Nghệ thuật:

– Thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng bao quát, hàm súc.

– Bút pháp nghệ thuật hoành tráng có tính sử thi với hình tượng thơ lớn lao, kì vĩ.

* Ghi nhớ:

Sgk – 116.

4. Củng cố – Nhận xét:

– Hệ thống nội dung: Theo yêu cầu bài học.

– Nhận xét chung.

5. Củng cố, dặn dò:

Yêu cầu Hs: – Học thuộc bài thơ (phiên âm và dịch thơ).

– Soạn bài: Bảo kính cảnh giới số 43 (Nguyễn Trãi).

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 37: Đọc Văn Tỏ Lòng ( Thuật Hoài ) Phạm Ngũ Lão

Soạn Bài: Tỏ Lòng (Thuật Hoài) – Ngữ Văn 10 Tập 1

Đọc Lại Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão

Lời Chúc Sinh Nhật Người Yêu Cũ Hay Nhất

101+ Tin Nhắn Stt

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tỏ Lòng

Cảm Nhận Về Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài) Của Phạm Ngũ Lão

Những Câu Thơ, Bài Thơ Hay Nói Về Cuộc Sống Hay Nhất

Tổng Hợp Các Cách Làm Thơ Nói Về Tình Bạn Chỉ 5 Chữ Ngắn

Cảm Nhận Về Bài Thơ Ánh Trăng Hay Nhất

Cảm Nhận Về Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy

Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ ‘Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Cảm nhận của em về bài thơ “Tỏ lòng” – Phạm Ngũ Lão là danh tướng tài ba, là người đã cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn xông pha biết bao trận mạc. Sáng tác của ông tuy không nhiều nhưng lại mang âm hưởng và nghĩa khí cao đẹp. Bài thơ “Tỏ lòng” là sáng tác thể hiện lòng tự hào về những chiến công hiển hách cũng như những khát vọng lớn lao của một nam tử hán đại trượng phu giữa thời kì Tổ Quốc bị xâm lăng.

Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Đó là khi đất nước vừa giành được chiến thắng trước đội quân Mông-Nguyên hùng mạnh. Sự ra đời của bài thơ kịp thời khích lệ và đề cao tinh thần chiến đấu bất khuất của những người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất.

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu

Dịch nghĩa:

Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu

Ba quân như gấu hổ, át cả sao Ngưu đẩu

Mở đầu bài thơ là hình ảnh ngang tàng đầy bản lĩnh của những chàng dũng sĩ xông pha nơi trận mạc. “Hoành sóc” là một từ ngữ miêu tả tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang, dũng mãnh và oai phong. Đó là khí thế hùng hồn và sức mạnh vô song của cả dân tộc. Là ý chí quật cường, là sức mạnh, quyền uy của một vị thủ lĩnh đang cầm đầu đoàn quân oanh tạc mọi chiến trường. Đoàn quân ấy hừng hực sức chiến đấu, nó ngông cuồng, lẫm liệt như chúa tể sơn lầm mà bất kì loài nào cũng phải khiếp sợ. Ca ngợi sức mạnh quân đội, Phạm Ngũ Lão như muốn cổ vụ, động viên quân lánh có niềm tin và vững bước hơn ở những chiến trường sau. Sức mạnh của họ sẽ chiến thắng tất cả , không gì có thể quật ngã nó được. Đồng thời, ngoài sự ngợi ca, nhà thơ còn như muốn báo trước một chiến thắng vẻ vang, hùng hồn phía trước. Nó là ngọn lửa chiến thắng đang sục sôi trong trái tim mỗi người lính. Nó như ngọn cuồng phong cuốn trôi tất cả các thế lực thù địch, giành tự do về cho dân tộc. Sức mạnh ấy có thể nuốt troi con trâu lớn. “Khí thôn Ngưu” còn như muốn nói lên, sự hùng mạnh, cường tráng của đội quân có thể vươn cao, vươn xa lên tận những ngôi sao Ngưu đang tỏa sáng trên bầu trời. Sức mạnh ấy sẽ bao trùm và bảo vệ cả dân tộc, mang đến cho đất nước sự tự do, mang đến cho nhân dân cuộc sống no ấm, đủ đầy và hạnh phúc.

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu

Dịch nghĩa:

Thân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh

Ắt thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu

Ở thời đại đó, tư tưởng “trung quân ái quốc” như là lí tưởng sống bao trùm toàn bộ xã hội. Là một đấng nam nhi, phải đem thân mình cống hiến cho đất nước, đi theo và phục vụ Vua. Nhắc đến trí là nhắc đến trí làm trai, làm trai là phải lập công, lập nghiệp. Công danh như món nợ phải trả của một kẻ làm trai. Khi chưa lập được công danh, chưa giúp được nước nhà thì người nam nhi vẫn chưa trả hết nợ. Phạm Ngũ Lão vốn đã là một vị tướng giỏi, đã cùng Hưng Đạo Vương lập bao chiến công hiển hách nhưng với ông như thế cũng chưa đủ. Khi dân tộc vẫn sống trong cảnh xâm lăng, loạn lạc thì ông vẫn mang món nợ với đời. Ông vẫn luôn trăn trở trong lòng khi đất nước còn chưa độc lập, nhân dân vẫn phải sống trong cảnh lầm than. Chính sự canh cánh, trăn trở đã thôi thúc ông cùng bao sĩ phu nuôi dưỡng khát khao, lí tưởng được phò vua, giúp nước, được xông pha nơi trận mạc mà đánh đuổi quân thù. Tinh thần ấy là sức mạnh kiên cường cổ vũ tinh thần chiến đấu của cả dân tộc. Nghĩ rằng mình chưa đủ tài, chưa đủ giỏi để trả nợ công danh, nhà thơ lại nhớ đến chuyện Vũ Hầu mà người đời vẫn hết sức ngợi ca. Vũ Hầu chính là Gia Cát Lượng tài giỏi, uyên thâm. Ông là người biết suy xét, biết nhìn xa trông rộng. Là vị quân sư tài giỏi, là cánh tay phải đắc lực của Lưu Bị thời Tam quốc diên nghia. Chính sự mưu trí của ông đã giúp ích rất nhiều ch Lưu bị trong việc điều binh bố trận, nên ông rất được coi trọng. Nghĩ về người anh hùng Vũ Hầu, tác giả nghi lại mình và cảm thấy có phần hổ thẹn khi bản thân chưa đủ giỏi, chưa đủ mưu trí. Gia Cát Lượng như là tấm gương sáng, là người mà cả đời Phạm Ngũ Lão muốn học theo, từ nhân cách cho đến tài trí. Chính từ sự hổ thẹn này đã thôi thúc tác giả sống cs ích hơn, mong muốn công hiến hơn để có thể trả được cái nợ công danh cho đời.

Bài thơ ‘Tỏ lòng” tuy ngắn ngủi nhưng lại mang ý nghĩa hết sức lớn lao. Một mặt, nó ca ngợi tinh thần đấu tranh anh dung và sức mạnh kiên cường của dân tộc. Mặt khác nó như lời thúc dục đấng nam nhi phải biết cống hiến cho dân tộc, cho nhân dân. Chỉ khi đất nước được độc lập, nhân dân được ấm no thì người là trai mới trả hết nợ công danh cho đời. Qua đó ta cũng thấy được tâm hồn thanh cao và tấm lòng nhân hậu đáng ngưỡng mọ của tác giả.

Seen

Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận

Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Tràng Giang

Cảm Nhận Về Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận

Soạn Bài Đất Nước Đầy Đủ Hay Nhất

🌟 Home
🌟 Top